3.2. Cài đặt thử nghiệm
Hệ thống bao gồm dịch vụ chạy trên máy chủ, ứng
dụng web tại địa chỉ bdms.ued.vn:8080, hỗ trợ tốt nhất
trên trình duyệt Google Chrome.
3.3. Đánh giá
Kết quả đạt được khi ứng dụng hệ thống quản lý cơ
sở dữ liệu sinh học cho thấy hệ thống đã đáp ứng được
các yêu cầu đặt ra, đó là quản lý thông tin về loài và
hiển thị sự phân bố của các loài trên bản đồ. Với hệ
thống này, người dùng có thể thực hiện tìm kiếm, thống
kê, cập nhật sự thay đổi về số lượng của loài và sự phân
bố của chúng. Thông qua đó, hệ thống giúp các nhà
quản lý có thể thu thập được nguồn dữ liệu từ người
dùng, có được cái nhìn tổng thể, bao quát về thực trạng
đa dạng sinh học của địa bàn thành phố Đà Nẵng, từ đó
đánh giá được mức độ tác động của môi trường đối với
các hoạt động kinh tế - xã hội, giáo dục và hoạch định
chính sách bảo tồn đa dạng sinh học; các nhà nghiên
cứu, sinh viên có được nguồn số liệu phong phú, được
cập nhật liên tục.
Bên cạnh đó, hệ thống vẫn còn tồn tại một số vấn
đề như: tốc độ xử lý còn chậm, việc tìm kiếm cộng tác
viên, chuyên gia còn nhiều hạn chế
4. Kết luận, hướng phát triển
Trong phạm vi nghiên cứu, tác giả đã xây dựng
được cơ sở dữ liệu sinh học trên địa bàn thành phố Đà
Nẵng và ứng dụng công nghệ WebGIS để hiển thị một
cách trực quan cho người sử dụng. Hệ thống đáp ứng
nhu cầu sử dụng cho nhiều đối tượng người dùng khác
nhau: khách vãng lai, chuyên gia, các cấp quản lý,
người quản trị hệ thống.
Hệ thống về căn bản đã giải quyết một cách toàn
diện được vấn đề hiển thị sự phân bố của các loài theo
không gian địa lý, điều mà các hệ thống trước chưa làm
được. Bên cạnh đó, hệ thống đã tổng hợp được nhiều
nguồn dữ liệu từ các nhà khoa học uy tín. Tuy nhiên, hệ
thống vẫn còn phải khắc phục những điểm yếu về kỹ
thuật lập trình, quy trình tổng hợp và th m định số liệu.
Thành công của website này sẽ giúp quản lý hiệu
quả chất lượng môi trường trên địa bàn rộng lớn cũng
như có đủ dẫn liệu để hỗ trợ cho các quyết định đúng
đắn, kịp thời trong quá trình hoạch định kế hoạch phát
triển kinh tế - xã hội ở địa phương.
7 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 2 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Ứng dụng Webgis xây dựng hệ thống thông tin quản lý đa dạng sinh học trực tuyến (thử nghiệm) trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
UED Journal of Sciences, Humanities & Education – ISSN 1859 - 4603
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI, NHÂN VĂN VÀ GIÁO DỤC
12 | Tạp chí Khoa học Xã hội, Nhân văn & Giáo dục, Tập 6, số 2 (2016),12-18
a Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng
* Liên hệ tác giả
Phạm Dương Thu Hằng
Email: phamduongthuhang@gmail.com
Nhận bài:
12– 01 – 2016
Chấp nhận đăng:
20 – 06 – 2016
ỨNG DỤNG WEBGIS XÂY DỰNG HỆ THỐNG THÔNG TIN QUẢN LÝ
ĐA DẠNG SINH HỌC TRỰC TUYẾN (THỬ NGHIỆM) TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Phạm Dương Thu Hằnga*, Trần Thanh Vinha
Tóm tắt: Từ khảo sát thực tiễn về việc phân bố của đa dạng sinh học, sinh thái trên địa bàn thành phố Đà
Nẵng, cùng với việc nghiên cứu tài liệu về hệ thống bản đồ 2D, giao diện người dùng, tương tác người -
máy và công nghệ WebGIS, bài báo là sản phẩm của việc nghiên cứu kết hợp đa lĩnh vực trong việc xây
dựng một hệ thống quản lý trực tuyến về đa dạng sinh học trên địa bàn thành phố Đà Nẵng phục vụ cho
nhiều đối tượng người dùng với các vai trò khác nhau. Để xây dựng hệ thống, tác giả sử dụng máy chủ
ArcGIS tạo ra bản đồ và hiển thị thông tin sinh học tại các vị trí khác nhau trên bản đồ. Từ đó, hệ thống
cung cấp cái nhìn tổng thể về đa dạng sinh học trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Thông qua đó, nhà quản
lý có thể đưa ra các chính sách nhằm kiểm soát, hạn chế tốc độ suy giảm đa dạng sinh học; bảo tồn, phát
triển các loài sinh vật quý hiếm, có nguy cơ tuyệt chủng nhằm phát triển bền vững về kinh tế, xã hội trong
tương lai; hệ thống cũng được sử dụng để hỗ trợ nghiên cứu giảng dạy và học tập của giảng viên và sinh
viên.
Từ khóa: đa dạng sinh học; đa lĩnh vực; bản đồ 2D; WebGIS; máy chủ ArcGIS; thu thập dữ liệu đa dạng
sinh học; tra cứu đa dạng sinh học; bảo tồn.
1. Đặt vấn đề
Nhiều nơi trên thế giới đang đối mặt với tình trạng
suy giảm trầm trọng hệ sinh thái giàu đa dạng sinh học
và các nước đều có những dự án bảo vệ, những chương
trình quản lý để bảo tồn sự đa dạng sinh học dưới
nhiều hình thức khác nhau. Ở Việt Nam, một số hệ
thống cơ sở dữ liệu về đa dạng sinh học đã được xây
dựng và được nhiều người biết đến như: Trung tâm Dữ
liệu thực vật Việt Nam, website Sinh vật rừng Việt
Nam, hệ thống cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học quốc gia
hay nhiều dự án bảo tồn, phát triển và bảo vệ đa dạng
sinh học về gen, loài và hệ sinh thái tự nhiên, nhân tạo
đã được xây dựng và thực hiện với sự ký kết, hợp tác
của các tổ chức quốc tế như: Quỹ Quốc tế bảo vệ thiên
nhiên WWF, Quỹ Đối tác về các hệ sinh thái CEPF,
Liên minh Bảo tồn thiên nhiên quốc tế IUCN, hay ở
các khu bảo tồn các tỉnh Thanh Hóa, Vườn quốc gia
Xuân Thủy (Nam Định), Khu Bảo tồn Sao La Huế,
cácVườn quốc gia: Mũi Cà Mau, Quảng Ninh, Quảng
Trị, Phú Quốc, Côn Đảo,
Thành phố Đà Nẵng với địa hình tương đối phức
tạp gồm cả địa hình đồng bằng, miền núi và ven biển đã
hình thành nên nhiều hệ sinh thái tự nhiên với sự đa
dạng loài cao, có ý nghĩa quan trọng đến sự phát triển
kinh tế - xã hội cũng như điều kiện dân sinh trong vùng.
Tuy nhiên, hiện nay, các hệ sinh thái tự nhiên trên địa
bàn thành phố đang chịu tác động nặng nề bởi các yếu
tố chính sau: i) Hoạt động thủy điện; ii) Suy giảm rừng
đầu nguồn; iii) Hoạt động khai thác khoáng sản;
iv) Hoạt động công nghiệp; v) Hóa chất nông nghiệp;
vi) Quá trình xâm nhiễm mặn; vii) Hiện tượng thời tiết
cực đoan và biến đổi khí hậu; viii) Quá trình đô thị hóa.
Diện tích các hệ sinh thái bị suy giảm kéo theo sự suy
giảm số lượng và thành phần các loài sinh vật; làm mất
cân bằng sinh thái, ảnh hưởng đến khả năng tự phục hồi
ISSN 1859 - 4603 - Tạp chí Khoa học Xã hội, Nhân văn & Giáo dục, Tập 6, số 2 (2016),12-18
13
môi trường, giảm khả năng chống chịu với biến đổi khí
hậu, từ đó tác động gián tiếp đến các hoạt động kinh
tế và sinh hoạt của cộng đồng dân cư trong vùng [1].
Nhiều công trình nghiên cứu về thành phần các loài
động, thực vật tại Đà Nẵng được thực hiện từ những
năm 90 của thế kỉ XX, tuy nhiên, các công trình này chỉ
tập trung chủ yếu tại hai khu bảo tồn thiên nhiên của
thành phố là Khu Bảo tồn thiên nhiên Bà Nà – Núi Chúa
và Khu Bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà [2,3].
Hiện tại, các hoạt động nghiên cứu về đa dạng sinh
học thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học và
được tiến hành trong phạm vi cả nước, nhưng kết quả
của các nhà nghiên cứu này ít được công bố rộng rãi và
số lượng các hệ thống cơ sở dữ liệu về đa dạng sinh học
của nước ta cũng còn hạn chế. Các hệ thống này sử
dụng cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học chỉ được cập nhật
bởi người quản trị hệ thống để hiển thị thông tin tra cứu
dưới dạng bảng với các thông số liên quan khi người
dùng nhập vào ký tự tìm kiếm về đối tượng nào đó. Tuy
nhiên, cách hiển thị như thế vẫn chưa thể hiện được tính
trực quan, sinh động, tiện ích với người dùng và cơ sở
dữ liệu đa dạng sinh học không được thu thập từ nhiều
nguồn khác nhau.
Việc ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS) vào
việc xây dựng các hệ thống thông tin hỗ trợ các hoạt
động quản lý của con người ngày càng phổ biến. Trong
tương lai, GIS được nhận định là “công cụ trợ giúp
quyết định trong nhiều hoạt động kinh tế - xã hội, quốc
phòng của nhiều quốc gia trên thế giới trong tương
lai”[4]. Bên cạnh đó, việc đưa GIS vào hoạt động như là
một trang web (WebGIS) làm cho việc tiếp cận sử dụng
các hệ thống thông tin trở nên dễ dàng thông qua mạng
internet. Với các chức năng của GIS, nguồn dữ liệu về
sinh học sẽ được hiển thị trực quan, làm cho thông tin
được truyền tải nhanh nhất đến người dùng. Chính vì lý
do này, việc sử dụng WebGIS để chia sẻ và quản lý
khối lượng lớn dữ liệu về các loài động, thực vật và sự
phân bố của chúng sẽ mang đến nhiều thuận lợi.
Bài báo đi sâu vào nghiên cứu công nghệ WebGIS
xây dựng hệ thống website dưới dạng bản đồ để quản lý
đa dạng sinh học mở phục vụ tra cứu, tìm kiếm, thống
kê, cập nhật thông tin về loài và nơi phân bố của chúng
trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Dữ liệu được thu thập
và kiểm duyệt từ nhiều nguồn khác nhau: nhà khoa học,
cộng tác viên, Từ đó, người sử dụng có thể thực hiện
các thống kê về loài ở mỗi vị trí trên bản đồ. Nguồn dữ
liệu này sẽ là cơ sở phục vụ các nghiên cứu chuyên sâu
về sự đa dạng sinh học và đề xuất giải pháp bảo vệ đa
dạng sinh học cho thành phố Đà Nẵng.
2. Xây dựng hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu
sinh học
2.1. Công nghệ xây dựng hệ thống
Hệ thống được thiết kế và xây dựng trên nền tảng
.NET phiên bản 4.5 để phát triển ứng dụng web theo mô
hình MVC 4 [5]. Với mô hình .NET MVC 4, hệ thống
được phân chia thành các thành phần riêng biệt, nâng cao
khả năng kiểm thử, dễ dàng bảo trì và nâng cấp sau này.
Về cơ sở dữ liệu, tác giả lựa chọn hệ quản trị cơ sở
dữ liệu (HQT CSDL) Sql Server 2014 để quản trị dữ
liệu sinh học của hệ thống. Với HQT CSDL, lập trình
viên có thể tương tác, xử lý nhanh chóng các truy vấn vì
được hỗ trợ đầy đủ các thư viện lập trình trong môi
trường .NET.
Về công cụ quản lý và phát triển bản đồ, tác giả sử
dụng bộ thư viện của ArcGIS [6]. Thư viện ArcGIS
cung cấp nhiều cách thức để tương tác với bản đồ như:
Sử dụng Runtime SDK;WebAPIs; REST APIs. Trong
hệ thống, tác giả lựa chọn thư viện JavaScript trong bộ
WebAPIs để phát triển.
2.2. Lập trình với JavaScript WebAPIs
Thư viện JavaScript WebAPIs của ArcGIS là một
bộ thư viện tích hợp, dùng để kết nối đến máy chủ cung
cấp dữ liệu bản đồ (ArcGIS Server) và hiển thị bản đồ
lên trình duyệt web của máy khách. Ngoài ra, thư viện
này còn cho phép người dùng tương tác với bản đồ như:
kích chuột chọn xem địa điểm, phóng to, thu nhỏ,.
Để sử dụng JavaScript WebAPIs, người dùng cần
nhúng thư viện này vào trang web bằng cách thêm thẻ sau:
Bảng 1 mô tả một số tập lệnh trong JavaScript
WebAPIs.
Bảng 1. Một số tập lệnh trong JavaScript WebAPIs của ArcGIS
TT Mô tả Lệnh
Phạm Dương Thu Hằng, Trần Thanh Vinh
14
1
Nạp dữ liệu bảng đồ lên trình duyệt web.
Ghi chú: Người dùng cần cung cấp đường
dẫn của bảng đồ trên máy chủ ArcGIS
require(["esri/basemaps"], function(esriBasemaps)
{ //các thông tin bản đồ });
2 Khởi tạo đối tượng bản đồ var map = new Map("ui-map", {//cấu hình map});
3
Thư viện DoJo cung cấp các sự kiện khác
nhau để tương tác với bản đồ. Với lệnh này,
lập trình viên xử lý sự kiện kích chuột vào
bảng đồ (onClick) và xử lý bằng hàm
executeQueryTask (hàm này được cài đặt
riêng)
dojo.require("esri.map");
dojo.require("esri.tasks.query");
dojo.connect(map, "onClick", executeQueryTask);
4
Đánh dấu 1 điểm mới (newPoint) trên
bản đồ (map)
newPoint = new esri.Graphic(evt.mapPoint, new esri.
symbol.SimpleMarkerSymbol);map.graphics.add(newPoint);
5
Hiển thị thông tin chi tiết của 1 hoặc
nhiều điểm trên bản đồ khi người dùng chọn
xem.
dialog = new TooltipDialog({//config});
dialog.startup();
dialog.setContent(content);
dijitPopup.open({popup: dialog, x: evt.pageX,
y: evt.pageY});
(Nguồn: https://developers.arcgis.com/javascript)
2.3. Thiết kế cơ sở dữ liệu sinh học
Hệ thống được xây dựng dựa trên cơ sở dữ liệu với
hai loại bảng chính:
Cấp độ sinh thái: giới, ngành, lớp, bộ, họ, chi, loài
được hình thành theo phân loại tiến hóa tự nhiên Taxon.
Thông tin sinh thái: phân bố, môi trường sống được
tạo ra để bổ sung thông tin chi tiết cho các bảng loại cấp
độ sinh thái.
Hình 1. Thiết kế cơ sở dữ liệu sinh học
2.4. Kiến trúc hệ thống
Hệ thống được chia thành các mô-đun tương tác với
từng thành phần: người dùng, máy chủ GIS và cơ sở dữ
liệu. Các thành phần này được điều khiển bởi khối điều
khiển trung tâm. Toàn bộ kiến trúc của hệ thống được
mô tả qua Hình 2.
Phạm Dương Thu Hằng, Trần Thanh Vinh
15
Hình 2. Kiến trúc hệ thống
Khối xử lý trung tâm là trái tim của hệ thống, ngoài
nhiệm vụ điều khiển các thành phần khác, khối này còn
có nhiệm vụ quan trọng đó là kết nối giữa dữ liệu từ
CSDL “Thông tin sinh học” và bản đồ do “máy chủ
GIS” (GIS) tạo ra để hiển thị thông tin lên bản đồ. Để
làm được việc này, tác giả nghiên cứu các API của GIS
và ngôn ngữ lập trình C# để tạo ra các phân đoạn thực
hiện các công việc.
Về phía máy chủ GIS: khi có thao tác truy xuất đến
hệ thống thì khối xử lý trung tâm sẽ thực hiện phân
đoạn xử lí thông tin từ GIS giúp cho việc tải thông tin
bản đồ Đà Nẵng từ máy chủ diễn ra dễ dàng.
Về phía cơ sở dữ liệu sinh học: khi có thông báo
của trung tâm xử lí về việc truy xuất thông tin của người
dùng thông qua phân đoạn xử lý dữ liệu cung cấp thông
tin về cấp độ sinh học bộ, họ, chi, loài.
Về phía người dùng: khối trung tâm xử lý sẽ tổ
chức các tiện ích với các chức năng về quản lí thông tin
cá nhân đối với vai trò là cộng tác viên, quản lí các
thông tin bài đăng sinh thái của những người dùng có
chức năng là chuyên gia sinh học, quản lí hệ thống với
vai trò quản trị viên giúp đảm bảo việc phân quyền cho
hệ thống, dữ liệu có độ tin cậy và bảo mật cao.
2.5. Thu thập và xử lý dữ liệu
Hệ thống có 2 nguồn dữ liệu quan trọng: Dữ liệu
GIS và dữ liệu về đa dạng sinh học. Dữ liệu GIS được
xây dựng dựa trên bản đồ nền thành phố Đà Nẵng năm
2015 (bản đồ chi tiết đến từng xã, phường). Dữ liệu về
đa dạng sinh học ban đầu được cung cấp bởi Khoa Sinh
– Môi trường và nạp vào hệ thống theo quy trình được
mô tả ở Hình 3.
Thu thập dữ liệu về loài
và xác định tọa độ địa lý
Tổng hợp và chu n hóa
dữ liệu
Sử dụng các công cụ nạp
dữ liệu vào hệ thống
Cộng tác viên/Chuyên gia
Người dùng khác
Hệ thống quản lý dữ liệu sinh học
Tra cứu
Thống kê
Điều chỉnh
Quản trị hệ thống
Cập nhật
chỉnh sửa dữ liệu
Hình 3. Mô hình xây dựng và vận hành hệ thống
Trên Hình 3 còn mô tả cách thức vận hành của hệ
thống. Các nhóm người dùng có thể thực hiện các tra
cứu, thống kê và đề xuất điều chỉnh dữ liệu. Quản trị hệ
thống là người thực hiện cập nhật các điều chỉnh vào dữ
liệu hệ thống sau khi thu thập các đề xuất điều chỉnh và
xác nhận tính chính xác.
3. Kết quả và đánh giá
3.1. Kết quả
Phạm Dương Thu Hằng, Trần Thanh Vinh
16
Hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu sinh học cung cấp các
chức năng cho nhiều đối tượng người dùng khác nhau:
khách vãng lai, cộng tác viên, chuyên gia sinh học, quản
trị viên và được hiển thị dưới dạng bản đồ như Hình 4 .
Hình 4. Hệ thống quản lý đa dạng sinh học
Khách vãng lai là những người chỉ có thể xem và tìm
kiếm thông tin về đa dạng sinh học tại một số vị trí được
đánh dấu trên địa bàn thành phố Đà Nẵng dưới dạng bản
đồ như Hình 5.
Hình 5. Giao diện tìm kiếm thông tin
Cộng tác viên là sinh viên, học viên, nghiên cứu
sinh, hay những người muốn tham gia đóng góp bảo tồn
đa dạng sinh học, có thể đăng ký tạo tài khoản, quản lí
cá nhân, quản lí bài đăng và thực hiện thống kê sinh học
như Hình 6. Đặc biệt, cộng tác viên có quyền thêm dữ
liệu về đa dạng sinh học tại bất kỳ vị trí nào trên bản đồ
thành phố Đà Nẵng như Hình 7.
ISSN 1859 - 4603 - Tạp chí Khoa học Xã hội, Nhân văn & Giáo dục, Tập 6, số 2 (2016),12-18
17
Hình 6. Giao diện quản lý cá nhân
Hình 7. Giao diện thêm phân bố
Chuyên gia sinh học: Là những người có kinh
nghiệm, chuyên môn trong việc nghiên cứu và bảo tồn
sinh học, có chức năng tương tự như cộng tác viên.
Ngoài ra, chuyên gia sinh học có thêm chức năng kiểm
duyệt dữ liệu được thêm vào để đảm bảo độ tin cậy cho
dữ liệu.
Quản trị viên: Là quyền quản trị cao nhất, quản lí
tất cả hoạt động của trang web như quản lí người dùng,
việc đăng, xóa bài của các thành viên như Hình 8.
Hình 8. Giao diện quản lý người dùng
ISSN 1859 - 4603 - Tạp chí Khoa học Xã hội, Nhân văn & Giáo dục, Tập 6, số 2 (2016),12-18
18
3.2. Cài đặt thử nghiệm
Hệ thống bao gồm dịch vụ chạy trên máy chủ, ứng
dụng web tại địa chỉ bdms.ued.vn:8080, hỗ trợ tốt nhất
trên trình duyệt Google Chrome.
3.3. Đánh giá
Kết quả đạt được khi ứng dụng hệ thống quản lý cơ
sở dữ liệu sinh học cho thấy hệ thống đã đáp ứng được
các yêu cầu đặt ra, đó là quản lý thông tin về loài và
hiển thị sự phân bố của các loài trên bản đồ. Với hệ
thống này, người dùng có thể thực hiện tìm kiếm, thống
kê, cập nhật sự thay đổi về số lượng của loài và sự phân
bố của chúng. Thông qua đó, hệ thống giúp các nhà
quản lý có thể thu thập được nguồn dữ liệu từ người
dùng, có được cái nhìn tổng thể, bao quát về thực trạng
đa dạng sinh học của địa bàn thành phố Đà Nẵng, từ đó
đánh giá được mức độ tác động của môi trường đối với
các hoạt động kinh tế - xã hội, giáo dục và hoạch định
chính sách bảo tồn đa dạng sinh học; các nhà nghiên
cứu, sinh viên có được nguồn số liệu phong phú, được
cập nhật liên tục.
Bên cạnh đó, hệ thống vẫn còn tồn tại một số vấn
đề như: tốc độ xử lý còn chậm, việc tìm kiếm cộng tác
viên, chuyên gia còn nhiều hạn chế
4. Kết luận, hướng phát triển
Trong phạm vi nghiên cứu, tác giả đã xây dựng
được cơ sở dữ liệu sinh học trên địa bàn thành phố Đà
Nẵng và ứng dụng công nghệ WebGIS để hiển thị một
cách trực quan cho người sử dụng. Hệ thống đáp ứng
nhu cầu sử dụng cho nhiều đối tượng người dùng khác
nhau: khách vãng lai, chuyên gia, các cấp quản lý,
người quản trị hệ thống.
Hệ thống về căn bản đã giải quyết một cách toàn
diện được vấn đề hiển thị sự phân bố của các loài theo
không gian địa lý, điều mà các hệ thống trước chưa làm
được. Bên cạnh đó, hệ thống đã tổng hợp được nhiều
nguồn dữ liệu từ các nhà khoa học uy tín. Tuy nhiên, hệ
thống vẫn còn phải khắc phục những điểm yếu về kỹ
thuật lập trình, quy trình tổng hợp và th m định số liệu.
Thành công của website này sẽ giúp quản lý hiệu
quả chất lượng môi trường trên địa bàn rộng lớn cũng
như có đủ dẫn liệu để hỗ trợ cho các quyết định đúng
đắn, kịp thời trong quá trình hoạch định kế hoạch phát
triển kinh tế - xã hội ở địa phương.
Tài liệu tham khảo
[1] Nguyễn Thị Tường Vi, Võ Văn Minh, Nguyễn
Văn Khánh, Tổng quan về đa dạng sinh học ở
thành phố Đà Nẵng và một số định hướng bảo
tồn, Tạp chí Khoa học và Công nghệ - Đại học Đà
Nẵng, số 5(40) năm 2010.
[2] Đinh Thị Phương Anh và cộng sự (1997), Khu hệ
động – thực vật và nhân tố ảnh hưởng, đề xuất
phương án bảo tồn sử dụng hợp lý Khu Bảo tồn thiên
nhiên Bán đảo Sơn Trà, Báo cáo tổng kết đề tài.
[3] Đinh Thị Phương Anh, Phạm Hồng Thái và cộng
sự, Đa dạng thành phần loài rắn ở Khu Bảo tồn
thiên nhiên Bà Nà - Núi Chúa Thành phố Đà
Nẵng, Tạp chí Khoa học và Công nghệ - ĐHĐN,
số 1-2015.
[4] https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%87_
th%E1%BB%91ng_Th%C3%B4ng_tin_%C4%90
%E1%BB%8Ba_l%C3%BD truy cập ngày
20/10/15.
[5] https://developers.arcgis.com/javascript/truy cập
ngày 20/10/15.
[6]
introduction/getting-started truy cập ngày
20/10/15.
APPLYING WEBGIS IN BUILDING UP AN ONLINE BIODIVERSITY MANAGEMENT
INFORMATION SYSTEM (UNDER TESTING) IN DA NANG CITY
Abstract: Based on a practical survey on the biodiversity distribution and ecology in the area of Da Nang city, together with an
investigation into 2D mapsystem documents, user interface, human - machine interaction and the WebGIS technology, this paper is a
product of a study combining multiple disciplines in building up an online biodiversity management system in DaNang city to meet the
needs of many users with various roles. In order to construct this system, the author has used the server ArcGIS to create maps and
display biological information at different locations on the map whereby the system provides a holistic view of biodiversity in Da Nang
city. With this system in operation, manager scan put forward policies to control and limit biodiversity decline rates, to conserve and
foster rare species facing the risk of extinction for the sake of sustainable socio-economic develpment in future; the system can also
also be employed to support lecturers and students in teaching, learning and doing research.
Key words: biodiversity; multidisciplinary; 2D map; WebGIS; server ArcGIS; collectingbiodiversitydata; biodiversity lookup;
conservation.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
ung_dung_webgis_xay_dung_he_thong_thong_tin_quan_ly_da_dang.pdf