3.2. Đánh giá
Đề tài đã xây dựng được hệ thống WebQuest và
đăng tải lên trang google site, GV – HS có thể truy cập
vào trang Web này ở bất kỳ máy tính nào có nối mạng
internet. Đây là nguồn tư liệu hữu ích trong giáo dục
hướng nghiệp, nâng cao hiểu biết về NNHC cho HS.
Ngoài ra, các tiêu chí đánh giá đã được đưa ra cụ thể ở
phần đánh giá của WebQuest, thiết kế hoàn tất các
Google form để HS có thể đánh giá trực tuyến.
Ngoài ra, đề tài đã tiến hành thực nghiệm sư phạm
để đánh giá hiệu quả và khả năng ứng dụng WebQuest.
Thông qua phân tích kết quả thực nghiệm, lớp học ứng
dụng WebQuest đạt kết quả cao hơn so với các lớp ĐC.
Tuy nhiên, đề tài mới chỉ thực nghiệm được tại Trường
THPT Phan Thành Tài ở 3 lớp, nếu có điều kiện có thể
mở rộng phạm vi thực nghiệm và khảo sát để có thể
đánh giá hiệu quả chính xác nhất.
4.Kết luận
Đề tài đã thiết kế được trang Google site đăng tải hệ
thống WebQuest giáo dục về NNHC, GV và HS có thể
truy cập vào trang web này ở bất kì đâu có kết nối mạng
internet. Đây sẽ là nguồn tư liệu hữu ích cho GV và HS
khi tìm hiểu, nghiên cứu về NNHC.
Thông qua thực nghiệm trên đối tượng HS lớp 10
Trường THPT Phan Thành Tài, chúng tôi đã thu được
một số kết quả nhất định. 90,25% HS cảm thấy hứng
thú khi được học tập bằng phương pháp WebQuest. Khi
so sánh kết quả học tập giữa HS các lớp, HS lớp thực
nghiệm đạt kết quả vượt trội. Điểm trung bình của lớp
thực nghiệm đạt 8,56 điểm, có 58,53% bài kiểm tra đạt
điểm giỏi, trong khi lớp ĐC1 chỉ có 20% bài đạt điểm
giỏi và lớp ĐC2 hoàn toàn không có bài kiểm tra đạt
điểm giỏi.
Kết quả trên cho thấy, với nội dung kiến thức là
nông nghiệp hữu cơ, WebQuest đưa HS đến gần hơn
với thực tiễn đời sống, tăng hứng thú học tập, định
hướng nghề nghiệp cho HS. Đồng thời, đây là phương
pháp đáp ứng được xu hướng dạy học hiện nay, đó là:
đẩy mạnh vận dụng dạy học giải quyết vấn đề, dạy học
theo dự án trong các môn học; tích cực ứng dụng công
nghệ thông tin phù hợp với nội dung bài học; tập trung
dạy cách học, cách nghĩ; bảo đảm cân đối giữa trang bị
kiến thức, rèn luyện kĩ năng và định hướng thái độ,
hành vi cho học sinh.
Tuy nhiên, để ứng dụng WebQuest đạt hiệu quả
cao, cần đẩy mạnh đầu tư trang thiết bị, internet trường
học. Ngoài ra, người giáo viên cần chú trọng thiết kế
nhiệm vụ của WebQuest phù hợp với tình hình thực tiễn
của từng địa phương và khả năng, trình độ của học sinh.
7 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 2 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Ứng dụng Webquest trong giáo dục về nông nghiệp hữu cơ cho học sinh lớp 10, Trung học Phổ thông, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
UED Journal of Sciences, Humanities & Education – ISSN 1859 - 4603
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI, NHÂN VĂN VÀ GIÁO DỤC
112 | Tạp chí Khoa học Xã hội, Nhân văn & Giáo dục, Tập 6, số 2 (2016),112-118
a Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng
* Liên hệ tác giả
Đoàn Thanh Phương
Email: Phuongdoan09@gmail.com
Nhận bài:
10 – 03 – 2016
Chấp nhận đăng:
27 – 06 – 2016
ỨNG DỤNG WEBQUEST TRONG GIÁO DỤC VỀ NÔNG NGHIỆP HỮU CƠ
CHO HỌC SINH LỚP 10, TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Đoàn Thanh Phươnga*, Nguyễn Thị Hoài Thươnga
Tóm tắt: WebQuest là phương pháp dạy học dựa trên internet, học sinh được làm việc theo nhóm, giải
quyết nhiệm vụ do giáo viên đặt ra. Bài báo giới thiệu cách ứng dụng WebQuest để thiết kế bài giảng về
nông nghiệp hữu cơ ở vùng ngoại thành thành phố Đà Nẵng, nơi sản xuất nông nghiệp đang đứng trước
sức ép lớn của quá trình đô thị hoá nhanh chóng và nhu cầu chuyển đổi phương thức canh tác nông
nghiệp đang hết sức cấp bách. Kết quả thực nghiệm trên 120 học sinh lớp 10 cho thấy việc áp dụng
WebQuest đáp ứng được xu hướng giáo dục mới hiện nay là đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin,
vận dụng dạy học giải quyết vấn đề, tăng cường rèn luyện kĩ năng và định hướng thái độ thân thiện với
môi trường cho học sinh. Bên cạnh đó, WebQuest về nông nghiệp hữu cơ là vấn đề gắn liền với thực
tiễn, làm thay đổi nhận thức của cộng đồng trong việc sản xuất nông nghiệp vì một tương lai phát triển
bền vững.
Từ khóa: WebQuest; nông nghiệp hữu cơ; dạy học dựa trên internet; làm việc nhóm; kĩ năng.
1. Đặt vấn đề
1.1. Xuất phát từ những ưu điểm của
WebQuest trong giáo dục
Hiện nay với sự phát triển như vũ bão của internet,
nguồn thông tin ngày càng trở nên phong phú và đa
dạng. Nếu như trước đây, giáo dục chỉ giới hạn trong
khuôn khổ của sách giáo khoa, giáo trình thì ngày nay
khuôn khổ của internet dường như là vô hạn. Vấn đề đặt
ra ở đây là làm sao người giáo viên (GV), học sinh (HS)
có thể sàng lọc và lựa chọn thông tin thật chính xác.
WebQuest đã được xây dựng để giải quyết vấn đề này.
WebQuest (Web - mạng, Quest - tìm kiếm, khám
phá) là phương pháp dạy học sử dụng internet, trong đó
người học khám phá tri thức trên mạng một cách có
định hướng. WebQuest trong dạy học được tác giả
Bernie Dodge xây dựng vào năm 1995 ở trường đại học
San Diego State University (Mỹ) sau đó được tiếp tục
phát triển bởi Tom March (Úc) và Heinz Moser (Thụy
Sĩ). Hiện nay, WebQuest được ứng dụng ở nhiều nước
tiên tiến như Mỹ, Anh, Úc, Thuỹ Sĩ Tuy nhiên ở Việt
Nam, phương pháp này còn chưa được áp dụng phổ
biến [9]. WebQuest khi được áp dụng hiệu quả sẽ đem
lại nhiều lợi ích như (1) Giúp người dạy, người học sử
dụng thông tin hơn là mất thời gian tìm kiếm thông tin
và tránh sử dụng các tài liệu chưa được kiểm định; (2)
Giúp người học phát triển các kỹ năng phân tích, đánh
giá, tổng hợp, phản biện và làm việc nhóm; (3) Mở rộng
và đào sâu kiến thức cho HS. Học sinh nắm được kiến
thức cốt lõi, phân tích, trình bày lại kiến thức theo cách
riêng, dựa vào đó có thể minh họa kiến thức, kĩ năng
học được bằng sản phẩm do chính HS tạo ra.
Ở Việt Nam, việc áp dụng WebQuest trong dạy học
sẽ đáp ứng được tinh thần của Công văn số
5555/BGDĐT-GDTrH ngày 08/10/2014 của Bộ GDĐT:
đẩy mạnh việc vận dụng dạy học giải quyết vấn đề, các
phương pháp thực hành, dạy học theo dự án trong các
môn học; tích cực ứng dụng công nghệ thông tin phù
hợp với nội dung bài học; khắc phục lối truyền thụ áp
đặt một chiều, ghi nhớ máy móc; tập trung dạy cách
học, cách nghĩ; bảo đảm cân đối giữa trang bị kiến thức,
rèn luyện kĩ năng và định hướng thái độ, hành vi cho
ISSN 1859 - 4603 - Tạp chí Khoa học Xã hội, Nhân văn & Giáo dục, Tập 6, số 2 (2016),112-118
113
học sinh; chú ý việc tổ chức dạy học phân hoá phù hợp
các đối tượng học sinh khác nhau.
1.2. Xuất phát từ xu hướng phát triển nông
nghiệp hữu cơ
Khái niệm NNHC được Hiệp hội NNHC Quốc tế
(IFOAM) định nghĩa là hệ thống đồng bộ hướng tới
thực hiện các quá trình với kết quả bảo đảm hệ sinh thái
bền vững, thực phẩm an toàn, dinh dưỡng tốt, nhân đạo
với động vật và công bằng xã hội, không sử dụng các
hóa chất nông nghiệp tổng hợp và các chất sinh trưởng
phi hữu cơ, tạo điều kiện cho sự chuyển hóa khép kín
trong hệ canh tác, chỉ được sử dụng các nguồn hiện có
trong nông trại và các vật tư theo tiêu chuẩn của quy
trình sản xuất. Ở Việt Nam, nông dân nước ta được hiểu
là đã biết canh tác hữu cơ theo cách truyền thống từ
hàng nghìn năm nay, nhưng sản xuất NNHC đúng tiêu
chuẩn của IFOAM thì còn rất mới mẻ.
Trong khi nông nghiệp thông thường tập trung vào
mục tiêu đạt được năng suất tối đa của cây trồng với
quan niệm đơn giản là: Năng suất cây trồng tăng do tăng
các đầu vào dinh dưỡng và nó bị giảm đi do sâu bệnh và
cỏ dại, vì thế cần phải tiêu diệt chúng. Với NNHC, bên
cạnh mục tiêu tạo ra sản phẩm chất lượng cao, một mục
tiêu quan trọng không thể bỏ qua là phải bảo tồn nguồn
dinh dưỡng tự nhiên trong đất, giữ nguồn nước sạch và
làm phong phú tính đa dạng sinh học. Nghệ thuật trong
canh tác hữu cơ đó là làm sao sử dụng tốt nhất các
nguyên tắc của sinh thái, tôn trọng thiên nhiên, và đảm
bảo công bằng đối với tất cả các đời sống ở xung quanh.
Tại Việt Nam, gần đây đã xuất hiện một số tín hiệu
tốt về sự ủng hộ của Nhà nước cho NNHC, cuối năm
2011 Chính phủ cho phép thành lập Hiệp hội NNHC
Việt Nam và từ đầu năm 2012 Hiệp hội bắt đầu đi vào
hoạt động. Đầu năm 2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban
hành quyết định số 01/2012/QĐ-TTg về một số chính
sách hỗ trợ việc áp dụng Quy trình thực hành sản xuất
nông nghiệp tốt trong nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ
sản, trong đó có NNHC. Gần đây, Bộ Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn khẳng định sự hỗ trợ có phần mạnh
mẽ hơn đối với NNHC, thông qua việc phê duyệt
chương trình nghiên cứu khoa học và công nghệ ngành
Nông nghiệp và phát triển nông thôn giai đoạn 2013–
2020 trong đó có NNHC [6].
1.3. Xuất phát từ tình hình thực tiễn chương
trình trung học phổ thông
Nghị quyết 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị
Trung ương 8 khoá XI về đổi mới căn bản, toàn diện
giáo dục và đào tạo chỉ rõ “ Đẩy mạnh phân luồng sau
trung học cơ sở; định hướng nghề nghiệp ở trung học
phổ thông”, “Bảo đảm cho học sinh có trình độ trung
học cơ sở có tri thức phổ thông nền tảng, đáp ứng yêu
cầu phân luồng mạnh sau trung học cơ sở; trung học
phổ thông phải tiếp cận nghề nghiệp và chuẩn bị cho
giai đoạn học sau phổ thông có chất lượng”.
Đối với đối tượng HS lớp 10, các em bắt đầu được
tiếp cận với nông – lâm - ngư nghiệp thông qua môn
học Công nghệ. Vì vậy, giáo dục về NNHC là hoàn toàn
cần thiết để giúp các em cập nhật thông tin, một hướng
đi mới bền vững để phát triển nền nông nghiệp Việt
Nam, định hướng nghề nghiệp trong tương lai.
Từ những xuất phát trên, chúng tôi thực hiện đề tài
“Ứng dụng WebQuest trong giáo dục về nông nghiệp
hữu cơ cho học sinh lớp 10 trung học phổ thông”.
2. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
2.1. Cơ sở lý thuyết
2.1.1. Lý thuyết về WebQuest
2.1.1.1. Khái niệm
Ngày nay, WebQuest được sử dụng rộng rãi trên
thế giới, trong giáo dục phổ thông cũng như đại học.
Webquest là một phương pháp dạy học mới, được xây
dựng trên cơ sở phương tiện dạy học là CNTT, internet.
Trong tiếng Việt chưa có cách dịch hoặc dùng thuật ngữ
thống nhất cho khái niệm này. Trong tiếng Anh, Web ở
đây nghĩa là mạng, Quest là tìm kiếm, khám phá. Dựa
trên thuật ngữ và bản chất của khái niệm có thể gọi
WebQuest là phương pháp “Khám phá trên mạng”. Có
rất nhiều định nghĩa về WebQuest: Theo nghĩa hẹp,
WebQuest được hiểu như một phương pháp dạy học
(WebQuest – Method); theo nghĩa rộng, WebQuest
được hiểu như một mô hình, một quan điểm dạy học có
sử dụng mạng internet. Bản thân WebQuest cũng là một
đơn vị của nội dung dạy học, được xây dựng để sử dụng
phương pháp này và là trang WebQuest được đưa lên
mạng. Khi gọi WebQuest là một phương pháp dạy học
cần hiểu đó là một phương pháp phức hợp, trong đó có
thể sử dụng những phương pháp cụ thể khác nhau. Với
tư cách là một phương pháp dạy học, có thể định nghĩa
Đoàn Thanh Phương, Nguyễn Thị Hoài Thương
114
WebQuest như sau: “WebQuest là một phương pháp
dạy học, trong đó học sinh tự lực thực hiện trong nhóm
một nhiệm vụ về một chủ đề phức hợp, gắn với tình
huống thực tiễn. Những thông tin cơ bản về chủ đề được
truy cập từ những trang liên kết (Internet links) do giáo
viên chọn lọc từ trước. Việc học tập theo định hướng
nghiên cứu và khám phá, kết quả học tập được học sinh
trình bày và đánh giá”.
WebQuest có thể chia thành hai loại:
WebQuest lớn: Xử lí một vấn đề phức tạp trong
một thời gian dài (một tháng hoặc nhiều hơn), có thể coi
như một dự án dạy học.
WebQuest nhỏ: Trong một vài tiết học (2 - 4 tiết),
học sinh xử lí một đề tài chuyên môn bằng cách tìm
kiếm thông tin và xử lí chúng cho bài trình bày, tức là
các thông tin chưa được sắp xếp sẽ được tái cấu trúc
theo các tiêu chí và kết hợp vào kiến thức đã có trước
của các em.
2.1.1.2. Cấu trúc
Một WebQuest thường gồm 5 thành phần:
- Giới thiệu (Introduction)
- Nhiệm vụ (Task)
- Tiến trình (Process)
- Đánh giá (Evaluation)
- Kết luận (Conclusion)
2.1.1.3. Mục đích khi sử dụng WebQuest
- WebQuest giúp người học sử dụng thông tin hơn
là tìm kiếm thông tin.
- Giúp người học phát triển các kỹ năng tổng hợp,
phân tích, đánh giá và sáng tạo.
- Mở rộng và đào sâu kiến thức cho học sinh. Học sinh
nắm được kiến thức cốt lõi, phân tích, trình bày lại kiến
thức theo cách riêng, có thể minh họa kiến thức, kĩ năng đã
học bằng một sản phẩm do chính học sinh làm ra.
2.1.2. Cơ sở lý thuyết về nông nghiệp hữu cơ
2.1.2.1. Khái niệm
Khái niệm NNHC (còn gọi là nông nghiệp sinh
thái) theo IFOAM (Tổ chức Các phong trào NNHC
Quốc tế): là hệ thống đồng bộ hướng tới thực hiện các
quá trình với kết quả bảo đảm HST bền vững, thực
phẩm an toàn, dinh dưỡng tốt, nhân đạo với động vật và
công bằng xã hội, không sử dụng các hóa chất nông
nghiệp tổng hợp và các chất sinh trưởng phi hữu cơ, tạo
điều kiện cho sự chuyển hóa khép kín trong hệ thống
canh tác.
2.1.2.2. Các nguyên tắc cơ bản của NNHC
Những nguyên tắc của NNHC là những gốc rễ cơ
bản mà từ đó NNHC có thể phát triển. Chúng biểu thị
những gì mà NNHC có thể đóng góp cho thế giới, và
một tầm nhìn giúp cải thiện nền nông nghiệp nói chung
trên phương diện toàn cầu. Các nguyên tắc này áp dụng
vào nông nghiệp với ý nghĩa bao quát nhất, bao gồm cả
cách thức mà con người chăm sóc đất đai, nước, cây
trồng và động vật, nhằm sản xuất, chế biến và phân phối
thực phẩm cũng như những loại hàng hóa khác. Những
nguyên tắc này cũng liên quan đến cách con người
tương tác với các thể sống, liên kết chúng với nhau và
định hình được tài sản kế thừa của các thế hệ tương lai.
Các nguyên tắc của NNHC đóng vai trò làm động lực
cho xu hướng vận động hữu cơ theo cách đa dạng nhất.
NNHC dựa vào 4 nguyên tắc cơ bản:
Nguyên tắc về sức khỏe: NNHC phải duy trì và gia
tăng sức khỏe của đất, thực vật, động vật, con người và
hành tinh cùng với nhau chứ không tách rời. Nguyên tắc
này nhấn mạnh rằng, sức mạnh của cá thể và cộng đồng
không thể tách rời khỏi sức khỏe của HST. Đất khỏe sẽ
tạo cho cây trồng khỏe và sẽ làm tăng sức khỏe con
người và động vật.
Nguyên tắc về sinh thái: NNHC phải dựa vào HST
sống động và chu trình tự nhiên của chúng, làm việc,
tranh đua và duy trì chúng. Nguyên tắc này gắn NNHC
sâu vào trong HST năng động. Nó cho thấy sản xuất
phải được dựa vào các tiến trình của sinh thái và sự tái
sinh. Để có được thức ăn và sức khỏe tốt phải thông qua
sinh thái của môi trường sản xuất cụ thể. Ví dụ như đối
với cây trồng thì cần có một môi trường đất sống động,
đối với động vật nuôi cần có HST trang trại, đối với cá
và các sinh vật biển là môi trường nước.
Nguyên tắc về tính công bằng: NNHC phải được
xây dựng trên các mối quan hệ đảm bảo tính công bằng
cùng với sự quan tâm đến môi trường chung và các cơ
hội sống cho tất cả các sinh vật. Sự công bằng được mô
tả như là sự hợp tình hợp lí, sự tôn trọng, ngay thẳng và
tận tình đối với con người và cả với những mối quan hệ
của các đời sống khác ở xung quanh. Nguyên tắc này
nhấn mạnh rằng tất cả những gì có liên quan đến NNHC
ISSN 1859 - 4603 - Tạp chí Khoa học Xã hội, Nhân văn & Giáo dục, Tập 6, số 2 (2016),112-118
115
cần được đối xử trong mối quan hệ như con người đảm
bảo công bằng tới tất cả các tầng lớp và các bên liên
quan. Nông dân - công nhân - trí thức - nhà phân phối -
thương nhân - người tiêu dùng.
Nguyên tắc về tính quan tâm chăm sóc: NNHC phải
được quản lý theo cách phòng ngừa và có trách nhiệm để
bảo vệ môi trường, sức khỏe và hạnh phúc của các thế hệ
tương lai. Đó là những quan tâm chính trong việc lựa chọn
cách quản lí, phát triển và áp dụng trong NNHC. NNHC
cần ngăn ngừa những khả năng rủi ro trước khi áp dụng
công nghệ, không chấp nhận sử dụng những công nghệ
không thể dự đoán được những hậu quả của nó và có dự
phòng nhằm bảo vệ môi trường, sức khỏe và sự giàu mạnh
của các thế hệ hôm nay và mai sau.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng 2 nhóm
phương pháp là nhóm phương pháp nghiên cứu lý
thuyết và nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
2.2.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Nghiên cứu tổng quan các tài liệu về ứng dụng
WebQuest, công nghệ thông tin trong dạy học. Nghiên
cứu phần nội dung kiến thức liên quan đến NNHC.
2.2.2. Phương pháp nghiên cứu ý kiến chuyên gia
Xin ý kiến chuyên gia về cơ sở khoa học, phương
pháp nghiên cứu và cách thức xây dựng và vận dụng
WebQuest vào giảng dạỵ. Trao đổi kinh nghiệm với các
GV đã nghiên cứu, ứng dụng WebQuest vào giảng dạy.
2.2.3. Phương pháp điều tra sư phạm
Điều tra bằng phỏng vấn, khảo sát bằng phiếu điều
tra về ứng dụng WebQuest, công nghệ thông tin trong
dạy học. Khảo sát nhu cầu về giáo dục NNHC tại
trường THPT.
2.2.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Tiến hành cho GV dạy về NNHC theo WebQuest
đã thiết kế và sử dụng bộ câu hỏi để kiểm tra đánh giá
hiệu quả của ứng dụng WebQuest. Thực nghiệm sư
phạm được thực hiện trên 3 lớp 10 Trường Trung học
Phổ thông Phan Thành Tài (10/7, 10/8, 10/9) một lớp
không được dạy về NNHC, một lớp được dạy về NNHC
theo phương pháp thông thường và một lớp được dạy về
NNHC bằng WebQuest.
2.2.5. Phương pháp thống kê số học
Xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê toán học
dùng trong khoa học giáo dục bằng phần mềm
Microsoft Excel 2007. Phân tích kết quả thực nghiệm để
có cơ sở đánh giá hiệu quả hướng nghiên cứu của đề tài,
bao gồm phân tích định lượng sử dụng phương pháp
thống kê toán học để xử lí các kết quả điều tra và thực
nghiệm sư phạm và phương pháp định tính nhằm đánh
giá, phân tích chất lượng câu trả lời và thái độ tham gia
vào giờ học để thấy rõ ưu điểm của việc ứng dụng
WebQuest trong dạy học
3. Kết quả và đánh giá
3.1. Kết quả
3.1.1. Xây dựng hệ thống WebQuest giáo dục
về nông nghiệp hữu cơ
Đề tài đã xây dựng được trang google site đăng tải
hệ thống WebQuest, mỗi WebQuest là một chủ đề, một
nhiệm vụ riêng biệt mà trong đó HS phải phối hợp với
nhau, khai thác nguồn thông tin phong phú trên internet
để hoàn thành. Thông tin chi tiết về nội dung và các bản
đánh giá WebQuest có thể tham khảo tại google site:
https://sites.google.com/site/canhtachuuco/
Hệ thống WebQuest bao gồm các chủ đề sau: Tổng
quan về nông nghiệp hữu cơ, Bảo vệ thực vật, Phân ủ,
Trồng rau hữu cơ, Truyền thông (Làm phim và Sách
ABC).
Hinh 1. Giao diện trang chủ google site giáo dục về
nông nghiệp hữu cơ
Bằng việc sử dụng Webquest, HS sẽ hoá thân thành
chuyên gia giải đáp thắc mắc cho bà con nông dân về
phân ủ; có WebQuest HS lại hoá thân thành nhà viết
sách, đạo diễn quay phim để tuyên truyền về NNHC; ở
chủ đề trồng rau hữu cơ HS là những nông dân thực thụ
bắt tay vào trồng nên những vườn cà chua tươi tốt.
Học sinh không chỉ thực hiện những nhiệm vụ là
phiên bản công việc thu nhỏ của người lớn ngoài đời mà
Đoàn Thanh Phương, Nguyễn Thị Hoài Thương
116
còn trực tiếp trình bày, đánh giá kết quả của bản thân
nhóm mình và nhóm bạn. Các tiêu chí đánh giá được
xây dựng thành các google form để HS có thể đánh giá
trực tuyến sau mỗi WebQuest.
3.1.2. Thực nghiệm sư phạm
3.1.2.1. Mục đích và nội dung thực nghiệm
Nhằm đánh giá tính hiệu quả của việc vận dụng
WebQuest trong dạy học về NNHC, thực nghiệm sư
phạm được tiến hành tại Trường THPT Phan Thành Tài
với lớp thực nghiệm (TN) 10/8 và 2 lớp đối chứng (ĐC)
10/7 và 10/9. Ở lớp TN, chúng tôi giảng dạy bằng
phương pháp WebQuest còn ở lớp ĐC1, dạy học bằng
phương pháp thông thường, lớp ĐC2 không dạy về
NNHC nhưng vẫn làm bài kiểm tra khảo sát. Kết quả
thực nghiệm được nghiên cứu dựa trên kết quả bài kiểm
tra 15 phút của ba lớp.
3.1.2.2. Kết quả thực nghiệm
a. Phân tích định tính
Sau khi thực nghiệm, chúng tôi tiến hành khảo sát
mức độ hứng thú của HS đối với các hình thức học tập
nội dung “Bảo vệ thực vật trong NNHC”. Kết quả thu
được như sau. Đối với lớp TN, 51,22% học sinh cảm
thấy rất hứng thú, 39,03% cảm thấy hứng thú khi được
học về chủ đề “Bảo vệ thực vật” bằng WebQuest. Riêng
về hình thức của WebQuest: 92,68% cho rằng bố cục
hợp lý, 97,56% cho rằng giao diện dễ sử dụng. Đa số
học sinh nhận định, WebQuest đáp ứng được nhu cầu
người học và đạt hiệu quả tốt trong giáo dục.
Biều đồ 1. Mức độ hứng thú của HS
Phản hồi từ hầu hết các học sinh sau khi được dạy
học chủ đề “ Bảo vệ thực vật”: HS cho biết đều rất vui
và cảm thấy thú vị khi được đứng pha chế thuốc trừ sâu
từ thực vật và xem các nhóm khác biểu diễn. Ngoài ra,
các em còn được chủ động tự đánh giá kết quả của mình
và các nhóm khác.
“Em cảm thấy mình như là một chuyên gia khi giải đáp
các vấn đề về bảo vệ thực vật, trình bày kết quả WebQuest
cho cả lớp cùng nghe” (Trần Long - HS lớp 10/8).
b. Phân tích định lượng
Kết quả thực nghiệm được nghiên cứu dựa trên kết
quả bài kiểm tra 15 phút và kết quả khảo sát bằng phiếu
câu hỏi được thể hiện ở Biểu đồ 2.
Biểu đồ 2. Phân phối tần suất điểm bài kiểm tra
Kết quả từ Biểu đồ 2 cho thấy, đường phân phối tần
suất của các lớp ĐC nằm về phía bên trái đường phân
phối lớp TN, chứng tỏ kết quả lớp TN tốt hơn lớp ĐC.
Lớp ĐC2 không có bài kiểm tra đạt kết quả khá giỏi,
yếu - kém chiếm tỷ lệ lớn 69,23%. Điều này chứng tỏ,
HS vẫn chưa hiểu rõ về NNHC, về vấn đề bảo vệ thực
vật trong NNHC trước khi được dạy học. Tỷ lệ điểm
khá, giỏi của lớp TN cao hơn so với các lớp ĐC. Lớp
TN có 58,53% bài đạt điểm giỏi, trong đó 14,63% đạt
điểm 10. Lớp ĐC1 có 20% bài đạt điểm giỏi, không có
điểm 10. Điểm trung bình (5 - 6đ): Lớp TN có 4,88%
bài đạt điểm trung bình, lớp ĐC 1 có 20% bài đạt điểm
trung bình.
Bảng 1. Thống kê các tham số đặc trưng
Lớp
S V (%)
TN 8,56 0,34 1,001 11,69
ĐC1 7,530,38 1,037 13,79
ĐC2 3,920,55 1,085 27,67
Từ Bảng 1, trong ba lớp được thực nghiệm, điểm
trung bình của lớp TN (8,56) cao hơn hẳn so với các lớp
ĐC ( ĐC1: 7,53; ĐC2: 3,92). Độ lệch chuẩn của lớp TN
(1,001) nhỏ hơn lớp ĐC1 (1,037), điều này chứng tỏ
điểm kiểm tra lớp TN phân tán gần điểm trung bình hơn
so với lớp ĐC1. Tuy nhiên, do lớp TN và lớp ĐC1 có
điểm trung bình khác nhau nên sự so sánh này chưa thực
ISSN 1859 - 4603 - Tạp chí Khoa học Xã hội, Nhân văn & Giáo dục, Tập 6, số 2 (2016),112-118
117
sự có ý nghĩa. Xét đến hệ số biến thiên, hệ số biến thiên
của lớp TN (11,69) nhỏ hơn lớp ĐC1 (13,79). Như vậy,
có thể kết luận kết quả của lớp TN tốt hơn lớp ĐC1.
Từ các kết quả đã phân tích, có thể kết luận, kết quả
kiểm tra của lớp TN cao hơn các lớp ĐC (tỷ lệ điểm
khá, giỏi cao và điểm trung bình cao hơn). Với nội dung
chủ đề “Bảo vệ thực vật” trong NNHC, lớp được dạy
học bằng WebQuest đạt kết quả tốt hơn so với lớp được
dạy học bằng phương pháp thông thường.
3.2. Đánh giá
Đề tài đã xây dựng được hệ thống WebQuest và
đăng tải lên trang google site, GV – HS có thể truy cập
vào trang Web này ở bất kỳ máy tính nào có nối mạng
internet. Đây là nguồn tư liệu hữu ích trong giáo dục
hướng nghiệp, nâng cao hiểu biết về NNHC cho HS.
Ngoài ra, các tiêu chí đánh giá đã được đưa ra cụ thể ở
phần đánh giá của WebQuest, thiết kế hoàn tất các
Google form để HS có thể đánh giá trực tuyến.
Ngoài ra, đề tài đã tiến hành thực nghiệm sư phạm
để đánh giá hiệu quả và khả năng ứng dụng WebQuest.
Thông qua phân tích kết quả thực nghiệm, lớp học ứng
dụng WebQuest đạt kết quả cao hơn so với các lớp ĐC.
Tuy nhiên, đề tài mới chỉ thực nghiệm được tại Trường
THPT Phan Thành Tài ở 3 lớp, nếu có điều kiện có thể
mở rộng phạm vi thực nghiệm và khảo sát để có thể
đánh giá hiệu quả chính xác nhất.
4. Kết luận
Đề tài đã thiết kế được trang Google site đăng tải hệ
thống WebQuest giáo dục về NNHC, GV và HS có thể
truy cập vào trang web này ở bất kì đâu có kết nối mạng
internet. Đây sẽ là nguồn tư liệu hữu ích cho GV và HS
khi tìm hiểu, nghiên cứu về NNHC.
Thông qua thực nghiệm trên đối tượng HS lớp 10
Trường THPT Phan Thành Tài, chúng tôi đã thu được
một số kết quả nhất định. 90,25% HS cảm thấy hứng
thú khi được học tập bằng phương pháp WebQuest. Khi
so sánh kết quả học tập giữa HS các lớp, HS lớp thực
nghiệm đạt kết quả vượt trội. Điểm trung bình của lớp
thực nghiệm đạt 8,56 điểm, có 58,53% bài kiểm tra đạt
điểm giỏi, trong khi lớp ĐC1 chỉ có 20% bài đạt điểm
giỏi và lớp ĐC2 hoàn toàn không có bài kiểm tra đạt
điểm giỏi.
Kết quả trên cho thấy, với nội dung kiến thức là
nông nghiệp hữu cơ, WebQuest đưa HS đến gần hơn
với thực tiễn đời sống, tăng hứng thú học tập, định
hướng nghề nghiệp cho HS. Đồng thời, đây là phương
pháp đáp ứng được xu hướng dạy học hiện nay, đó là:
đẩy mạnh vận dụng dạy học giải quyết vấn đề, dạy học
theo dự án trong các môn học; tích cực ứng dụng công
nghệ thông tin phù hợp với nội dung bài học; tập trung
dạy cách học, cách nghĩ; bảo đảm cân đối giữa trang bị
kiến thức, rèn luyện kĩ năng và định hướng thái độ,
hành vi cho học sinh.
Tuy nhiên, để ứng dụng WebQuest đạt hiệu quả
cao, cần đẩy mạnh đầu tư trang thiết bị, internet trường
học. Ngoài ra, người giáo viên cần chú trọng thiết kế
nhiệm vụ của WebQuest phù hợp với tình hình thực tiễn
của từng địa phương và khả năng, trình độ của học sinh.
Tài liệu tham khảo
[1] Abbit, J., & Ophus, J (2008), What we know
about the Impacts of WebQuests: A review of
research.
[2] Hà Thị Thanh Uyên và Nguyễn Thị Hoài Thương
(2015), Thiết kế bài giảng ngoại khóa về nông
nghiệp hữu cơ cho học sinh trung học cơ sở, Luận
văn tốt nghiệp, Trường Đại học Sư phạm - Đại
học Đà Nẵng.
[3] Kari Lee Siko (2008), WebQuest in the English
classroom: How do they affect students learning?
[4] Maureen Brown Yoder, Inquiry based learning
using the internet:Research, resources,
WebQuests.
[5] Nguyễn Thị Kim Thoa (2012), Vận dụng phương
pháp WebQuest trong dạy học – Chương “Nhóm
oxi” ( Hoá học lớp 10 nâng cao)
[6] Nguyễn Văn Bộ, Ngô Doãn Đảm (2013), Nông
nghiệp hữu cơ: hiện trạng và giải pháp nghiên cứu
– phát triển.
[7] Nguyễn Văn Cường, Bernd Meier(2010), Một số
vấn đề chung về đổi mới phương pháp dạy học ở
trường trung học phổ thông, Berlin/Hà Nội.
[8] Phạm Thị Thảo Hiền (2012), Xây dựng hệ thống
WebQuest cho chương trình dạy học Tin học phổ
thông.
[9] Thy Tran, Using Webquest in Teaching
Environmental Education in Viet Nam, VVOB,
Việt Nam.
[10] Trương Trọng Cần, Nguyễn Bùi Hậu (2012),
Vận dụng phương pháp WebQuest vào dạy học ở
Đoàn Thanh Phương, Nguyễn Thị Hoài Thương
118
các trường đào tạo theo hệ thống tín chỉ và dạy học từ xa.
APPLYING WEBQUEST IN ORGANIC AGRICULTURE EDUCATION FOR 10TH GRADE
HIGH SCHOOL STUDENTS
Abstract: WebQuest is an internet-based teaching method which helps students work in teams to fulfil tasks assigned by
teachers. This paper introduces the application of WebQuest in planning organic agriculture lessons for students in the suburbs of Da
Nang city, where agricultural production is faced with the pressure of rapid urbanization and the urgent need for farming method
transformation. The results of an experimental study with 120 students show that the application of WebQuest proves to have met the
current educational trends, i.e. accelerating Information Technology, applying problem-solving in education, enhancing students’ skill
practice and forming their friendly attitude towards the environment. Moreover, the WebQuest designed for teaching Organic
Agriculture, which is closely attached to the reality, has brought changes in the community’s awareness of agricultural production for
the sake of a sustainable development future.
Key words: WebQuest; organic farming; internet-based teaching method; teamwork; skills
Các file đính kèm theo tài liệu này:
ung_dung_webquest_trong_giao_duc_ve_nong_nghiep_huu_co_cho_h.pdf