Thứ tư, nâng cao vai trò của các Hiệp hội
ngành hàng và ý thức pháp luật của các chủ thể
trong liên kết giữa sản xuất với chế biến và tiêu thụ
nông sản
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
ngày càng sâu rộng, các Hiệp hội ngành
hàng ngày càng có vai trò quan trọng đối với
các doanh nghiệp của ngành hàng nông
nghiệp. Vì vậy, phát triển và nâng cao vai trò
của các Hiệp hội ngành hàng có ý nghĩa
quan trọng trong phát triển liên kết giữa sản
xuất với chế biến và tiêu thụ nông sản.
Liên kết đòi hỏi các chủ thể phải tuân thủ
các thỏa thuận trong các hợp đồng. Lâu nay,
ở Việt Nam, những vấn đề liên quan đến
cam kết hợp đồng trong liên kết sản xuất,
chế biến và tiêu thụ thường bị coi nhẹ, dẫn
đến “bể kèo”. Tình trạng trên không chỉ ảnh
hưởng đến hoạt động của các bên tham gia
liên kết, mà trong bối cảnh hội nhập trong
nước và quốc tế ngày càng mở rộng, sự hội
nhập sẽ gặp nhiều khó khăn, tổn hại kinh tế
khi vi phạm hợp đồng sẽ bị xử lý nghiêm
khắc trong các hiệp định thương mại, trong
các hợp đồng với các đối tác nước ngoài. Vì
vậy, nâng cao ý thức pháp luật trong liên kết
giữa sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông
sản là hết sức quan trọng.
7 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 1 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Vai trò của liên kết trong sản xuất nông sản, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
TẠP CHÍ GIÁO DỤC LÝ LUẬN - SỐ 269+270 (QUÝ III+IV/2017) 34
VAI TRÒ CỦA LIÊN KẾT
TRONG SẢN XUẤT NÔNG SẢN
HỒ THANH THỦY *
Tóm tắt:
Trong sản xuất nông sản, liên kết chính là chìa khóa giúp phát triển một nền
nông nghiệp hiện đại, đảm bảo hài hòa lợi ích của các chủ thể tham gia. Quá
trình liên kết đó có những đặc điểm riêng và đóng vai trò quan trọng: Góp phần
đảm bảo các bên cùng có lợi; làm tăng hiệu quả trong sản xuất nông sản; góp
phần nâng cao hiệu quả, vai trò quản lý nhà nước về kinh tế. Để phát huy vai trò
của liên kết trong sản xuất nông sản, bài viết đã đề xuất một số giải pháp cơ bản,
quan trọng trong bối cảnh Việt Nam hiện nay.
Từ khóa: Vai trò, liên kết, ngành Nông nghiệp, sản xuất nông sản.
Đặc điểm của liên kết trong sản xuất
nông sản
Liên kết giữa sản xuất với chế biến và tiêu
thụ nông sản là những hoạt động kinh tế tự
nguyện, cùng có lợi, nhưng ràng buộc chặt
chẽ với nhau theo một thỏa thuận trước của
các chủ thể sản xuất với chế biến và tiêu thụ
nông sản; là một trong các hình thức phối
hợp hoạt động giữa sản xuất với chế biến và
tiêu thụ nông sản, gắn với các hình thức tổ
chức kinh doanh trong ngành nông sản, chịu
sự chi phối của các chế định thể chế nhằm đạt
được mục tiêu của các hoạt động tham gia
quá trình liên kết.
Thứ nhất, về chủ thể của liên kết
Theo quan niệm về liên kết trong sản xuất
nông sản, có 3 nhóm chủ thể ở 3 khâu sản
xuất, chế biến và tiêu thụ. Tùy theo mức độ
* Tiến sĩ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
của tổ chức sản xuất với các hình thức cụ thể
của từng nhóm chủ thể, tính đặc thù của các
chủ thể liên kết biểu hiện ở tính đan xen của
chủ thể trong các khâu sản xuất, chế biến -
chế biến, tiêu thụ hay sản xuất, chế biến -
tiêu thụ. Đặc biệt ở sự chênh lệch về trình độ
của các chủ thể liên kết.
Thật vậy, khi xem xét sự liên kết giữa sản
xuất với chế biến và tiêu thụ nông sản, người
ta thường coi sự liên kết theo từng khâu của
quá trình sản xuất nông sản là đặc trưng của
sự liên kết. Các chủ thể trong liên kết giữa
sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông sản có
sự chênh lệch nhất định giữa các nhóm và
vai trò của từng nhóm trong quá trình liên
kết. Sản xuất nông nghiệp là xuất phát điểm,
là mắt xích đầu tiên của quá trình liên kết
nên có vai trò hết sức quan trọng, tuy trình
độ tổ chức liên kết có nhiều hạn chế. Chế
biến và tiêu thụ là các quá trình kế tiếp tạo
1.
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
TẠP CHÍ GIÁO DỤC LÝ LUẬN - SỐ 269+270 (QUÝ III+IV/2017) 35
nên các giá trị gia tăng của hàng nông sản,
đôi khi tạo mức chênh lệch nhiều lần so với giá
trị ban đầu. Vì vậy, sự chi phối của chế biến và
tiêu thụ trong chuỗi nông sản là rất lớn.
Liên kết kinh tế giữa sản xuất với chế biến
và tiêu thụ nông sản là quá trình mang tính
tất yếu khách quan, nhưng rất khó xảy ra. Bởi
vì trong quá trình, nông dân là chủ thể của
quá trình sản xuất nông sản, doanh nghiệp là
chủ thể của chế biến và tiêu thụ nông sản.
Trình độ tổ chức sản xuất, những mối quan
hệ với thị trường có sự chênh lệch lớn nhất là
sản xuất ở vùng miền núi. Vì vậy, trong chuỗi
giá trị nông sản, những người sản xuất
thường là những người chịu thiệt thòi, những
người chế biến và tiêu thụ nông sản thường
là những người nắm vai trò chủ động và có
lợi trong chuỗi.
Với đặc điểm trên, vấn đề đặt ra là người
cần liên kết lại không có trình độ tổ chức các
hoạt động liên kết, người có lợi trong chuỗi, có
khả năng tổ chức các hoạt động liên kết lại
không muốn liên kết. Vì vậy, vai trò của Nhà
nước trong tổ chức và duy trì các hoạt động
liên kết giữ vai trò hết sức quan trọng.
Thứ hai, về các hình thức liên kết
Tính đa dạng của các hình thức liên kết
kinh tế trong liên kết giữa sản xuất với chế
biến và tiêu thụ nông sản bắt nguồn từ chính
chủ thể của quá trình đó. Rõ ràng với sự đa
dạng của các chủ thể liên kết, nhất là về trình
độ của các chủ thể liên kết và tính đa dạng,
biệt lập trong các hoạt động của các nhóm
chủ thể liên kết đã buộc họ phải lựa chọn các
hình thức liên kết giữa sản xuất với chế biến
và tiêu thụ nông sản. Thông thường, liên kết
kinh tế giữa sản xuất với chế biến và tiêu thụ
nông sản được thực hiện ở 2 cấp vĩ mô và vi
mô với nhiều hình thức khác nhau. Ở cấp vĩ
mô, liên kết giữa sản xuất với chế biến và tiêu
thụ nông sản thông qua các hoạt động quản
lý nhà nước và biểu hiện ở các định hướng
liên kết thông qua các quy hoạch, chính
sách, hỗ trợ tổ chức ngành hàng Trên
phương diện này, liên kết kinh tế được thể
hiện ở việc tạo lập các môi trường liên kết
của các hoạt động quản lý nhà nước về kinh
tế. Ở cấp vi mô, liên kết giữa sản xuất với chế
biến và tiêu thụ nông sản thông qua các hình
thức liên kết nội bộ khi chuyển các mối quan
hệ bên ngoài thành các mối quan hệ bên
trong, thông qua việc lựa chọn các hình thức
tổ chức sản xuất; tổ chức cung ứng cho nhau
các điều kiện sản xuất về vốn, kỹ thuật và các
yếu tố đầu vào, đặc biệt là sự chuyển hóa
dòng nông sản từ sản xuất nguyên liệu đến
chế biến và tiêu thụ.
Sự đa dạng hóa các hình thức liên kết giữa
sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông sản là
đặc điểm khá khác biệt trong liên kết của
ngành hàng nông sản, với sự đa dạng của các
chủ thể tham gia liên kết của chuỗi, khi giữa
chúng có mức độ và trình độ thực thi liên kết
khác nhau. Đây là vấn đề cần được xem xét
để có sự lựa chọn cho phù hợp.
Thứ ba, về tính chất của sự liên kết
Mọi người đều có chung nhận thức về sự
cần thiết của liên kết không chỉ giữa sản xuất
với chế biến và tiêu thụ nông sản mà còn của
các hoạt động giữa các khâu của ngành hàng
công nghiệp và các ngành hàng khác. Tuy
nhiên, giữa sản xuất với chế biến và tiêu thụ
nông sản tính cấp thiết của sự liên kết còn
mạnh mẽ hơn. Điều đó trở thành đặc điểm
phản ánh về tính chất của các hoạt động liên
kết của các ngành hàng nông sản.
Đối tượng của sản xuất nông nghiệp có
đặc thù là những cơ thể sống. Vì thế, các quy
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
TẠP CHÍ GIÁO DỤC LÝ LUẬN - SỐ 269+270 (QUÝ III+IV/2017) 36
luật sinh học không chỉ diễn ra trong quá
trình sản xuất mà còn tiếp diễn sau khi quá
trình sản xuất nông nghiệp kết thúc, thậm
chí cả trong quá trình tiêu thụ sản phẩm.
Điều này càng trở nên cấp thiết khi nông
nghiệp có tính thời vụ cao, khối lượng nông
sản được thu hoạch tại những thời điểm nhất
định trong thời gian ngắn và có khối lượng
cực lớn. Nếu bảo quản không tốt không
những sản phẩm nông nghiệp bị hư hỏng và
còn giảm nhanh chất lượng. Hiệu quả nông
nghiệp sẽ giảm rất nhanh chóng, thậm chí
giảm từ 5-10 lần.
Không gian của sự liên kết giữa sản xuất
với chế biến và tiêu thụ nông sản không chỉ ở
không gian hẹp mà quan trọng hơn đó là
mối quan hệ liên kết rộng, không chỉ liên kết
bó hẹp trong phạm vi một địa phương, một
vùng, một quốc gia mà còn mở rộng theo
phạm vi quốc tế, nhất là trong bối cảnh hội
nhập sâu rộng của các quốc gia vào nền kinh
tế quốc tế. Đặc điểm này không chỉ phản
ánh tính chất chặt chẽ của liên kết mà còn
phản ánh tính mở rộng của sự liên kết. Đặc
điểm này cũng đặt ra các vấn đề quan trọng
của việc tổ chức các hoạt động liên kết, trong
đó vai trò của sự kết nối các chủ thể trong
liên kết giữa sản xuất với chế biến và tiêu thụ
nông sản là rất quan trọng.
2. Vai trò của liên kết trong sản xuất
nông sản
Thứ nhất, góp phần đảm bảo các bên cùng
có lợi trong sản xuất nông sản
Thực tế cho thấy, nếu không có sự thống
nhất về lợi ích thì không có sự thống nhất về
mục đích cũng như hành động. Đối với liên
kết kinh tế nói chung và liên kết giữa sản xuất
với chế biến và tiêu thụ nông sản nói riêng,
đảm bảo các bên cùng có lợi cũng được xem
là nguyên tắc cơ bản nhất và là điều kiện tiền
đề cho mối quan hệ liên kết. Lợi ích ở đây cần
được hiểu một cách toàn diện, có lợi ích trước
mắt hay lợi ích lâu dài, lợi ích trực tiếp hoặc gián
tiếp, lợi ích kinh tế hay lợi ích phi kinh tế... để
đảm bảo một cách đầy đủ và công bằng.
Trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt, cần
phải có sản phẩm khối lượng lớn, chất lượng
cao, đạt tiêu chuẩn quốc tế, giao hàng đúng
lúc, giá thành cạnh tranh. Nông dân cá thể
không thể làm được điều này. Nông dân
phải tổ chức được "hành động tập thể" theo
quy trình sản xuất chung theo từng cánh
đồng lớn. Quy trình sản xuất, thu hoạch, bảo
quản và thương mại của nông dân được thiết
lập trên cơ sở yêu cầu của doanh nghiệp, thị
trường về khối lượng cung ứng, chất lượng
hàng hóa Đây chính là các yếu tố để nông
dân xây dựng hành động tập thể. Hàng hóa
nông sản cần được xác định rõ về số lượng,
chất lượng đối với từng thị trường để làm cơ
sở xây dựng kế hoạch cung ứng; xác định rõ
chất lượng và số lượng sản phẩm nông sản
trong sản xuất. Yêu cầu chất lượng của thị
trường phải làm căn cứ cơ bản để xây dựng
quy trình kỹ thuật cho các mô hình liên kết.
Đối với người sản xuất nông sản, liên kết
với chế biến và tiêu thụ để nhận được các hỗ
trợ về vốn, về khoa học và công nghệ; đặc
biệt là để có thị trường tiêu thụ ổn định.
Không chỉ vậy, nông dân cũng được nâng
cao trình độ sản xuất thông qua các buổi tập
huấn, chia sẻ kinh nghiệm sản xuất Từ đó
gắn kết giữa nông dân và nông dân ngày
càng bền chặt. Liên kết giữa nông dân với
nhau để đáp ứng nhu cầu thị trường tốt hơn.
Chỉ như vậy, nông dân mới có thể cung cấp
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
TẠP CHÍ GIÁO DỤC LÝ LUẬN - SỐ 269+270 (QUÝ III+IV/2017) 37
sản phẩm đủ lớn về số lượng, đồng đều về
chất lượng, kịp thời gian cho nhiều đối tác.
Nhờ vào liên kết, nông dân mới có khả năng
xây dựng và quản lý nhãn hiệu tập thể, tiến đến
xây dựng thương hiệu cho sản phẩm, quản lý
về chất lượng sản phẩm để gia tăng giá trị, đáp
ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường
đối với các sản phẩm có nguồn gốc xuất xứ
rõ ràng, đảm bảo an toàn, chất lượng.
Đối với người chế biến và tiêu thụ, liên
kết với người sản xuất nông sản để có nguồn
nguyên liệu đầu vào ổn định, chất lượng
tốt tạo điều kiện nâng cao tỷ suất sử dụng
máy móc, chất lượng sản phẩm chế biến, từ
đó nâng cao giá trị gia tăng và hiệu quả các
hoạt động chế biến và tiêu thụ nông sản.
Thực hiện liên kết sẽ góp phần chấm dứt
tình trạng doanh nghiệp sản xuất nông sản
mà không có vùng cung cấp nguyên liệu ổn
định, nguyên liệu không có chất lượng và
không có thiết bị chế biến hiện đại. Vùng quy
hoạch nguyên liệu cũng là vùng thành lập hợp
tác xã, tập đoàn, trang trại sản xuất tập trung
một loại nguyên liệu, theo quy trình đạt chất
lượng VietGAP hoặc GlobalGAP. Điểm cơ
bản và cốt lõi của các mô hình sản xuất hiệu
quả trong nông nghiệp chính là xây dựng các
mối liên kết ngang (nông dân với nông dân)
để thực hiện hành động tập thể và liên kết
dọc (nông dân với doanh nghiệp) để xây
dựng kênh phân phối mới của các tác nhân
trong chuỗi giá trị, đáp ứng yêu cầu thị
trường hiệu quả nhất dựa trên nguyên tắc
các bên tham gia bình đẳng, cùng có lợi.
Thứ hai, tăng tính tự nguyện và tự chịu trách
nhiệm của các bên tham gia liên kết
Sự tự nguyện được hiểu là các bên tham
gia chủ động, tự giác trong mối quan hệ hợp
tác nhằm phát huy hết thế mạnh, đồng thời
bù đắp những hạn chế của mình, không
phân biệt thành phần kinh tế, quy mô lớn
nhỏ, trong nước hay ngoài nước Đây là
điều kiện cần cho sự liên kết. Bên cạnh sự tự
nguyện thì sự tự chịu trách nhiệm cũng là
một trong các vấn đề mang tính nguyên tắc.
Bởi vì, sự tự chịu trách nhiệm được coi là
điều kiện đủ của quá trình liên kết nói
chung, liên kết giữa sản xuất với chế biến và
tiêu thụ nói riêng. Tự nguyện sẽ quy định
trách nhiệm của các bên tham gia trong việc
thực hiện liên kết kinh tế, cùng hưởng lợi
đồng thời cũng chia sẻ những rủi ro nếu có
trong quá trình liên kết kinh tế. Từ đó các
hoạt động liên kết kinh tế giữa các chủ thể
tham gia được thực hiện một cách thuận lợi
và đem lại hiệu quả cao.
Đối với liên kết giữa sản xuất và chế biến
và tiêu thụ nông sản, tự nguyện và tự chịu
trách nhiệm cũng là một trong các nguyên tắc
quan trọng. Điều này cũng xuất phát từ vai trò
của các chủ thể tham gia liên kết trong chuỗi
giá trị nông sản, từ sự gắn kết lợi ích của từng
thành viên trong chuỗi giá trị đó. Vì vậy, trong
phạm vi liên kết mỗi chủ thể phải thực hiện
tốt và đảm bảo tính trung thực trong dây
chuyền sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông
sản. Không phải ngẫu nhiên, yêu cầu về
nguồn gốc, xuất xứ sản phẩm trong liên kết
được coi như là khâu kiểm định trách nhiệm
của từng tổ chức và cá nhân trong ngành hàng
nông sản.
Thứ ba, góp phần làm tăng hiệu quả trong
sản xuất nông sản
Thực hiện liên kết để sản xuất theo chuỗi
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
TẠP CHÍ GIÁO DỤC LÝ LUẬN - SỐ 269+270 (QUÝ III+IV/2017) 38
giá trị là một trong những đột phá quan
trọng hàng đầu trong tái cơ cấu ngành nông
nghiệp bởi ba lý do: Thứ nhất, nó cho phép
tập trung các nguồn tài nguyên, nguồn vốn...
vào các mặt hàng mà nước ta có lợi thế; thứ
hai, sản xuất theo chuỗi sẽ sắp xếp tổ chức lại
sản xuất theo hướng chia sẻ đều quyền lợi
cũng như rủi ro cho các tác nhân tham gia
chuỗi liên kết, từ đó tạo động lực cho sản
xuất, các tác nhân phát huy được hết khả
năng của mình; thứ ba, sản xuất theo chuỗi
cho phép kiểm tra chất lượng, vệ sinh an
toàn và các tiêu chuẩn kỹ thuật đối với sản
phẩm, hàng hóa từ đó duy trì được thương
hiệu, tăng khả năng cạnh tranh, đưa hàng
hóa vào thị trường. Đây là khâu chúng ta
đang rất yếu.
Do đó, liên kết để sản xuất theo chuỗi giá
trị là xương sống trong tái cơ cấu ngành nông
nghiệp, qua chuỗi liên kết sẽ phân công công
việc phù hợp với từng đối tượng sản xuất, từ
đó góp phần nâng cao giá trị gia tăng và phát
triển bền vững. Ở các quốc gia phát triển, sản
xuất theo chuỗi giá trị chiếm tỷ trọng gần như
tuyệt đối. Như ở Mỹ, sản xuất theo chuỗi giá
trị đã được áp dụng từ năm 1954, đến nay
toàn bộ sản phẩm chăn nuôi đều theo
phương thức này. Ở Việt Nam, sản xuất theo
chuỗi mới xuất hiện khoảng chục năm nay
dưới hình thức doanh nghiệp đặt hàng cho
các hộ nông dân nuôi gia công gà, lợn...
Ngành chăn nuôi đã khảo sát gần 20
chuỗi liên kết tại Hà Nội cho thấy hiệu quả
khá tốt của mô hình sản xuất theo chuỗi, cụ
thể người lao động có thu nhập bình quân từ
36 đến 60 triệu đồng/năm, giá thành thịt lợn
nếu sản xuất theo chuỗi là 39 nghìn đồng/kg
hơi trong khi sản xuất đơn lẻ giá thành lên tới
45- 46 nghìn đồng/kg. Ở Hà Tĩnh, mô hình
chăn nuôi liên kết với quy mô 500- 2.500 lợn
thương phẩm/lứa cho lợi nhuận bình quân
220 triệu đồng/năm, mô hình quy mô nhỏ
đạt lợi nhuận 400-700 nghìn/con. Người lao
động ở Hợp tác xã chăn nuôi bò sữa Tân
Thông Hội (Thành phố Hồ Chí Minh) có
thu nhập bình quân lao động từ 2,5 - 5 triệu
đồng/tháng, Hợp tác xã Hòa Lộc đạt 4,5
triệu đồng/người/tháng...(1)
Thứ tư, góp phần nâng cao hiệu quả, vai trò
quản lý nhà nước về kinh tế
Quản lý nhà nước về kinh tế trong nông
nghiệp là tổng thể các can thiệp của Nhà
nước đối với nông nghiệp thông qua pháp
luật và các chính sách, kế hoạch để tạo môi
trường pháp lý và kinh tế thuận lợi cho các
hoạt động sản xuất - kinh doanh nông
nghiệp hướng tới mục tiêu chung của toàn
nền nông nghiệp; xử lý những quan hệ kinh
tế của đơn vị trong sản xuất, lưu thông, phân
phối, tiêu dùng các sản phẩm nông nghiệp;
điều tiết các lợi ích giữa các vùng, các ngành,
sản phẩm nông nghiệp, giữa nông nghiệp với
toàn bộ nền kinh tế; thực hiện sự kiểm soát
đối với tất cả các hoạt động trong nền nông
nghiệp và kinh tế nông thôn làm ổn định và
lành mạnh hoá mọi quan hệ kinh tế và xã
hội... Việc xử lý các quan hệ đó thông qua các
công cụ quản lý, trong đó có các công cụ về
cơ chế, chính sách, về quy hoạch. Đây là sự
can thiệp đặc trưng của các hoạt động quản
lý nhà nước về kinh tế. Tuy nhiên, nông
nghiệp, nông thôn là hệ thống ngành và lĩnh
1 - https://baomoi.com/san-xuat-theo-chuoi-gia-tri-loi-giai-
cho-bai-toan-tai-co-cau-nganh-nong-nghiep
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
TẠP CHÍ GIÁO DỤC LÝ LUẬN - SỐ 269+270 (QUÝ III+IV/2017) 39
vực có nhiều đặc điểm mang tính đặc thù,
đòi hỏi Nhà nước phải có biện pháp can
thiệp khác với các ngành, lĩnh vực khác.
Với các nội dung này, nhiều người nhấn
mạnh vai trò tạo lập môi trường kinh tế, môi
trường pháp lý của Nhà nước đến hoạt động
sản xuất kinh doanh của các chủ thể (hộ,
trang trại, doanh nghiệp) nói chung, trong
liên kết kinh tế giữa sản xuất với chế biến và
tiêu thụ nông sản nói riêng. Tuy nhiên, với
vai trò điều tiết lợi ích, giám sát điều chỉnh
các quan hệ kinh tế, Nhà nước đã tham gia
vào liên kết kinh tế như là một đối tác thông
qua các công cụ và đòn bẩy kinh tế. Trên
thực tế, Việt Nam đã nhận thức được vấn đề
này nên đã coi Nhà nước là một trong các
chủ thể tham gia liên kết kinh tế, trong “liên
kết bốn nhà”.
3. Một số giải pháp phát huy vai trò của liên
kết trong sản xuất nông sản
Thứ nhất, thực hiện quy hoạch và xây dựng
hệ thống hạ tầng kinh tế - kỹ thuật cho vùng
nguyên liệu
Về việc quy hoạch và xây dựng hệ thống
hạ tầng kỹ thuật phục vụ cho sản xuất nông
nghiệp, trước hết phải ưu tiên phục vụ cho sự
phát triển của các loại cây trồng, vật nuôi chủ
đạo. Tuỳ đặc điểm từng vùng cần tập trung
xây dựng yếu tố nào trong hệ thống hạ tầng
kỹ thuật. Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy,
việc đầu tư xây dựng hệ thống kỹ thuật có ý
nghĩa dẫn đường cho sự phát triển của sản
xuất nông nghiệp. Việc này cần phải có bàn
tay của Nhà nước từ công tác quy hoạch,
thiết kế đến tổ chức huy động vốn, tổ chức
xây dựng công trình, tổ chức khai thác và
quản lý công trình vì người dân với trình độ
thấp, năng lực vốn kém không thể làm được.
Vùng nguyên liệu cần có hệ thống cơ sở
hạ tầng phát triển để phục vụ sản xuất. Để
tiến hành xây dựng cơ sở hạ tầng, các đơn vị
cần quán triệt và thực hiện tốt phương châm
Nhà nước và nhân dân cùng làm, nhân dân
làm là chính đối với các công trình gắn trực
tiếp với sản xuất, tuỳ từng điều kiện các địa
phương có sự hỗ trợ hợp lý.
Thứ hai, xây dựng và lựa chọn các hình thức
tổ chức sản xuất
Mỗi hình thức tổ chức có nội dung tổ
chức và quản lý khác nhau, phù hợp với mỗi
khâu của ngành hàng nông sản, thể hiện
những ưu việt trong liên kết giữa sản xuất với
chế biến và tiêu thụ nông sản khác nhau. Vì
vậy, để tổ chức và quản lý sản xuất phát huy
được vai trò của nó, để liên kết phát huy vai
trò gắn kết giữa sản xuất với chế biến và tiêu
thụ nông sản cần xây dựng và lựa chọn các
hình thức tổ chức thích hợp.
Để lựa chọn các hình thức tổ chức cần
phân tích ưu, nhược điểm của từng hình thức
trong từng khâu và liên kết giữa các khâu.
Đánh giá sự phù hợp của các hình thức đó
với đặc điểm tổ chức và quản lý của từng
ngành hàng, của từng địa phương có hoạt
động sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản.
Tổ chức lại sản xuất theo hướng gắn kết chặt
chẽ và bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các khâu
nuôi, trồng, thu mua, chế biến và xuất khẩu.
Trong đó, tổ chức lại các hộ theo mô hình
quản lý cộng đồng (nhóm hộ, hợp tác xã,
hiệp hội...); sắp xếp lại hệ thống các cơ sở
chế biến và tiêu thụ phù hợp với các vùng
sản xuất nguyên liệu theo phạm vi thích hợp
của từng địa phương.
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
TẠP CHÍ GIÁO DỤC LÝ LUẬN - SỐ 269+270 (QUÝ III+IV/2017) 40
Thứ ba, có cơ chế hỗ trợ nông dân, cơ sở chế
biến trong tổ chức các hoạt động liên kết giữa
sản xuất với chế biến và tiêu thụ
Tham gia liên kết là các hộ nông dân, cơ
sở chế biến nhỏ nên hạn chế về thông tin và
trình độ tham gia liên kết. Đặc biệt, trong
soạn thảo và thực thi hợp đồng liên kết sẽ
phát sinh nhiều vấn đề về pháp lý và kinh tế
do hoạt động sản xuất nông nghiệp chịu
nhiều tác động khách quan, kỷ luật trong
thực thi pháp luật về kinh tế thấp. Vì vậy, khi
triển khai các hoạt động liên kết không tránh
khỏi những lúng túng. Trong bối cảnh trên,
hỗ trợ các tác nhân tham gia liên kết trở
thành yêu cầu mang tính cấp thiết.
Các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ
chức hội nghề từng địa phương lựa chọn các
doanh nghiệp có tiềm lực, đặc biệt là các
doanh nghiệp có đội ngũ nhân viên chuyên
nghiệp, có sự tác động tương hỗ và có uy tín
trong các quan hệ liên kết để giới thiệu cho
nông dân. Tạo môi trường thuận lợi, nhất là
các thủ tục hành chính, các chính sách kinh
tế thu hút cho các doanh nghiệp đầu tư vào
ngành nông nghiệp.
Các cơ sở chế biến và tiêu thụ nông sản
cần tìm hiểu kỹ về đối tác dự định liên kết,
giới thiệu để đối tác biết thực lực hoạt động
kinh doanh của mình để có sự đàm phán, ký
kết tham gia liên kết. Cung cấp đầy đủ,
trung thực thông tin minh chứng tiềm lực
của doanh nghiệp cho cơ quan quản lý nhà
nước. Quảng bá hình ảnh doanh nghiệp đến
rộng rãi nông dân. Đề xuất các hình thức
liên kết phù hợp với nông dân từng vùng
nguyên liệu.
Thứ tư, nâng cao vai trò của các Hiệp hội
ngành hàng và ý thức pháp luật của các chủ thể
trong liên kết giữa sản xuất với chế biến và tiêu thụ
nông sản
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
ngày càng sâu rộng, các Hiệp hội ngành
hàng ngày càng có vai trò quan trọng đối với
các doanh nghiệp của ngành hàng nông
nghiệp. Vì vậy, phát triển và nâng cao vai trò
của các Hiệp hội ngành hàng có ý nghĩa
quan trọng trong phát triển liên kết giữa sản
xuất với chế biến và tiêu thụ nông sản.
Liên kết đòi hỏi các chủ thể phải tuân thủ
các thỏa thuận trong các hợp đồng. Lâu nay,
ở Việt Nam, những vấn đề liên quan đến
cam kết hợp đồng trong liên kết sản xuất,
chế biến và tiêu thụ thường bị coi nhẹ, dẫn
đến “bể kèo”. Tình trạng trên không chỉ ảnh
hưởng đến hoạt động của các bên tham gia
liên kết, mà trong bối cảnh hội nhập trong
nước và quốc tế ngày càng mở rộng, sự hội
nhập sẽ gặp nhiều khó khăn, tổn hại kinh tế
khi vi phạm hợp đồng sẽ bị xử lý nghiêm
khắc trong các hiệp định thương mại, trong
các hợp đồng với các đối tác nước ngoài. Vì
vậy, nâng cao ý thức pháp luật trong liên kết
giữa sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông
sản là hết sức quan trọng.
Tài liệu tham khảo:
1. Đinh Văn Thành: Tăng cường năng lực tham
gia của hàng nông sản vào chuỗi giá trị toàn cầu
trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam, Nxb Công
Thương, Hà Nội, 2010.
2. Hồ Quế Hậu: Liên kết kinh tế giữa doanh
nghiệp chế biến nông sản với nông dân ở Việt Nam,
Luận án tiến sĩ, Đại học Kinh tế Quốc dân, 2012.
3.
item/34983102-lien-ket-san-xuat-gan-voi-tieu-thu-
nong-san. html.
4.
giai-phap-de-khong-phai-giai-cuu-nong-san/317459.
vgp
Các file đính kèm theo tài liệu này:
vai_tro_cua_lien_ket_trong_san_xuat_nong_san.pdf