Một loại nấm mới phân hủy Endosulfan đó là các
loài Mortierella, được phân lập từ một đất bị ô nhiễm
các thuốc trừ sâu organochlorine. Nấm Mortierella có
khoảng 85 loài và các dòng W8 và Cm1-45 của
Mortierella sp. đã phân hủy endosulfan 50-70% trong
28 ngày ở 250C. Điều này làm tăng khả năng sinh sản
của đất nông nghiệp [10]. Hơn 30 chủng vi sinh vật
khác có khả năng phân hủy các loại thuốc trừ sâu,
trong đó Gliocladium genus có hoạt tính tối đa để
phân hủy chlorpyrifos. Các loài thường gặp trong chi
Gliocladium như: Gliocladium penicilloides, Gliocladium virens (gần đây chuyển sang chi Trichoderma),
và Gliocladium roseum. Nấm sử dụng chlorpyrifos
làm nguồn dinh dưỡng carbon và năng lượng, gây ra
sự phân hủy nhanh chóng. Chlorpyrifos được sử dụng
để diệt một số loại sâu, côn trùng và rất độc, tác động
trên hệ thống thần kinh của côn trùng bằng cách ức
chế acetylcholinesterase. Ở người, nó gây độc hại và
có hơn 10.000 người chết mỗi năm [8]. Hay Trichoderma viride và Trichoderma harzianum có tiềm
năng làm giảm chất pirimicarb. Pirimicarb là một loại
thuốc trừ sâu carbamate được sử dụng để kiểm
soát rệp vừng trên rau, ngũ cốc và nhiều cây rau quả.
Trichoderma viride còn là một loại nấm và thuốc diệt
nấm sinh học và cải tạo đất. Nó được sử dụng
để xử lý hạt và đất để ngăn chặn các bệnh
do nấm khác gây ra. Các chủng Penicillium
citrinum, Aspergillus fumigatus, Aspergillus
terreus và Trichoderma harzianum đã được
tìm thấy có khả năng làm phân hủy chlorfenvinphos, chất dùng rất rộng rãi để diệt côn
trùng. Nó gây ngộ độc qua đường ăn/uống
nên Hoa Kỳ và Liên minh Châu Âu cấm
dùng từ năm 1991. Chlorfenvinphos được
phân bố rộng rãi khắp cơ thể. Loại nấm mới
được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm nhất là
nấm trắng Phanerochate chrysosporium, được
xem là một mô hình lý tưởng cho việc xử lý
sinh học phân hủy các chất cực độc hay chất
độc hữu cơ không hòa tan. Các vật liệu rất
độc hại đã bị phá hủy hoàn toàn bằng nấm
trắng là polyclorinated biphenyl (PCBs) và
dioxins, thuốc trừ sâu, phenol, chlorophenols,
nước thải từ các nhà máy giấy và giấy, thuốc
nhuộm và kim loại nặng (Singh, 2006). Polychlorinated biphenyl (PCBs) là một nhóm
các hợp chất nhân tạo được sử dụng rộng rãi
trong quá khứ và hiện tại chủ yếu trong các
thiết bị điện nhưng chúng đã bị cấm vào cuối
những năm 1970 ở nhiều nước bởi những
nguy cơ gây hại cho môi trường và sức khỏe.
Tuy nhiên, PCBs là những hợp chất rất bền
vững. Hiện nay, chúng vẫn dùng và tồn tại
trong môi trường. Có khoảng 130 trong 209 loại phân
tử PCBs từng được sử dụng trong mục đích thương
mại. PCBs đã được chứng minh gây ra một loạt các
hiệu ứng có hại cho sức khỏe, ung thư ở động vật,
bao gồm cả các hiệu ứng trên hệ thống miễn dịch, hệ
thống sinh sản, hệ thống thần kinh, hệ nội tiết và ảnh
hưởng sức khỏe khác. EPA đã tiếp cận có những bằng
chứng trong việc đánh giá chất gây ung thư tiềm
năng của các chất gây ô nhiễm môi trường[12].
Dioxin là tên gọi chung của một nhóm có hàng
trăm các hợp chất hóa học tồn tại bền vững trong
môi trường cũng như trong cơ thể con người và
các sinh vật khác. Dioxine có 75 đồng
phân PCDD (polychlorodibenzodioxines) và 135
đồng phân PCDF (polychlorodibenzofuranes) với
độc tính khác nhau. Dioxine còn bao gồm nhóm
các poly-chloro-biphényles, là các chất tương tự
dioxine, bao gồm 419 chất hóa học trong đó có 29
chất đặc biệt nguy hiểm. Trong số các hợp chất
dioxine, TCDD (2,3,7,8-Tetrachlorodibenzo-pdioxin) là nhóm độc nhất. Theo báo cáo sơ thảo
của Cục Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ (EPA)
năm 1994, dioxin như là một tác nhân đe dọa nguy
hiểm đối với sức khỏe cộng đồng và dường như
không có mức độ phơi nhiễm dioxin nào được xem
là an toàn [11] và vấn đề đã trở nên rõ ràng là con
người, đặc biệt là phụ nữ, bị nhiễm dù chỉ một chút
chất dioxin với 1/1 tỷ gram, cũng có khả năng cao
sinh ra những đứa con dị tật bẩm sinh./.
4 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 3 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Vai trò của nấm trong phân giải thuốc bảo vệ thực vật, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tạp chí
KH-CN Nghệ AnSỐ 10/2017 [19]
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
1. Một số đặc điểm của nấm
Nấm là nhóm sinh vật phân bố trên toàn
thế giới và phát triển trong nhiều môi trường
sống: đất, nước, không khí, môi trường sinh
vật. Chúng có thể có mặt cả ở những môi
trường khắc nghiệt như sa mạc hoặc vùng có
nồng độ muối cao hoặc nơi có bức xạ ion
hóa hay trong các trầm tích biển sâu.
Nấm rất đa dạng, ước tính có thể có
khoảng 2,2-3,8 triệu loài, trong đó có khoảng
120.000 loài đã được mô tả bởi các nhà phân
loại học. Nấm có mặt tích cực và không tích
cực. Từ lâu, nấm đã được sử dụng làm
nguồn thức ăn trực tiếp của con người như
mộc nhĩ, nấm rơm, nấm sò, nấm hương...;
dùng trong sản xuất bánh mì như nấm men
Sacccharomyces cerevisiae; Sacccha-
romyces carlbergensis và sản xuất nước
tương như nấm mốc Aspergillus cerevisiae;
sản xuất sinh khối cho chăn nuôi gia súc gia
cầm như Sacccharomyces cerevisiae; Sacc-
charomyces carlbergensis, Aspergillus cere-
visiae; để sản xuất enzim trong công nghiệp
như Sacccharomyces cerevisiae; Sacccha-
romyces carlbergensis, Aspergillus cere-
visiae. Aspergillus niger...; hay sử dụng
trong quá trình lên men các sản phẩm thực
phẩm khác. Từ những năm 1940, nấm đã
được sử dụng để sản xuất kháng sinh như
nấm mốc Penicillium, Cephalosporin
Gần đây, nhiều loại enzyme được sản xuất
bởi nấm được sử dụng trong công nghiệp và
trong chất tẩy rửa. Nấm cũng được sử dụng làm thuốc
trừ sâu sinh học như Beauveria bassiana, Metarhizium
anisopliae, Trichoderma để kiểm soát bệnh thực vật
và côn trùng gây hại hay các sợi nấm của Trichoderma
viride có thể sản sinh một loạt các enzyme, bao
gồm cellulase và chitinase có thể phân giải cellulose
n nguyễn Dương tuệ
Vai trò của nấm
trong phân giải thuốc bảo vệ thực vật
Nấm men Sacccharomyces cerevisiae
Tạp chí
KH-CN Nghệ AnSỐ 10/2017 [20]
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
và chitin tương ứng khi sử dụng nó phân giải
các phế thải nông lâm nghiệp hoặc có thể
phát triển trực tiếp trên gỗ, lá cỏ khô, chủ
yếu là xenluloza, chitin, góp phần tích cực
phân giải chất thải rắn làm tăng phì nhiêu
cho đất. Hoạt tính diệt nấm bệnh làm
cho Trichoderma viride trở nên hữu ích như
là một tác nhân kiểm soát sinh học chống lại
nấm gây bệnh thực vật như
Rhizoctonia, Pythium và thậm chí Armil-
laria[3]. Nó được tìm thấy ở hạt giống trong
việc kiểm soát các bệnh Rhizoctonia
solani, Macrophomina phaseolina và Fusar-
ium. Khi nó được sử dụng cùng lúc với hạt
giống, nó sẽ xâm chiếm bề mặt hạt và không
chỉ giết chết các mầm bệnh trên lớp biểu bì,
mà còn bảo vệ hạt giống chống lại các mầm
bệnh gây ra từ vi sinh vật đất [3].
Tuy nhiên cũng có nhiều loài nấm sinh
ra các hợp chất có hoạt tính sinh học được
gọi là độc tố như: alkaloids và polyketides,
độc đối với động vật, kể cả con người. Hoặc
nấm có thể phân hủy các vật liệu, công trình
sản xuất, và trở thành mầm bệnh đối với
con người và các động vật khác. Tổn thất
mùa màng do các bệnh nấm (bệnh nấm lúa)
hoặc sự hư hỏng thực phẩm có thể có ảnh
hưởng lớn đến nguồn cung lương thực của
con người và các nền kinh tế địa phương.
Điều đó khiến cho các nhà nghiên cứu phải
làm việc nhiều hơn để ngăn ngừa những
mặt không tích cực và sử dụng những mặt
tích cực của nấm vào sản xuất, đời sống,
mà trong thời đại hiện nay vấn đề lớn và
cấp bách đó là khử độc môi trường sống
khỏi bị ô nhiễm bởi các thuốc bảo vệ thực
vật (BVTV).
2. Sử dụng nấm trong phân giải thuốc
BVtV
Nấm Fusarium verticillioides có thể sử
dụng lindane làm nguồn carbon và năng
lượng trong điều kiện hiếu khí. Nấm này có
thể được tách ra từ lá cây (thùa) Agave tequi-
lana bằng kỹ thuật làm giàu. Các yếu tố môi
trường và nồng độ của lindane và men chiết
xuất cải thiện hiệu quả của quá trình phân
hủy sinh học [4].
Các chủng nấm có tiềm năng to lớn phân
giải thuốc BVTV như Fusarium oxysporum, Lentin-
ula edodes, Penicillium brevicompactum và Lecani-
cillium saksenae, Fusarium subglutinans trong
họ Nectriaceae.
Khi sử dụng môi trường nuôi cấy hỗn hợp của vi
khuẩn và nấm trắng, nấm có các ứng dụng cho phân
hủy sinh học đối với aldicarb, atrazine và Clo Ala.
Với thời gian ủ 14 ngày, nuôi cấy hỗn hợp đã làm
giảm 47,98-62% thuốc BVTV. Hay năng lực của 9
loài nấm thối trắng khác nhau từ lớp basidiomycete
để phân hủy các thuốc trừ sâu cũng đã được khảo sát.
Chúng phân hủy diuron, metalaxyl, atrazine hoặc ter-
buthylazine trong nuôi cấy lỏng. Đây là các chất diệt
cỏ đã được WHO cảnh báo gây ô nhiễm nguồn nước.
Sự phân giải lớn nhất của tất cả các thuốc đã đạt được
bởi các chủng nấm Coriolus versicolor, Hypholoma
fasciculare và Stereum hirsutum là 86% sau 42 ngày.
Hay aldicarb là một loại thuốc trừ sâu carbamate
có hiệu quả chống lại bọ trĩ, rệp, nhện, lygus, flea-
hoppers và leafminers, nhưng chủ yếu được sử dụng
cho một nematicide. Aldicarb là một chất ức
chế cholinesterase ngăn ngừa sự phân hủy của acetyl-
choline trong khớp thần kinh. Ở người, trong trường
hợp ngộ độc nghiêm trọng, nạn nhân chết vì suy hô
hấp. Aldicarb là một trong những loại thuốc trừ sâu
được sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới và cũng là
một trong những chất độc hại môi trường nhất. Ngộ
độc aldicarb từ dòng nước nông nghiệp đã dẫn đến sự
phá hủy các hệ sinh thái lành mạnh và sự ngộ độc
không thể đảo ngược của đất nông nghiệp màu
mỡ. Ngộ độc từ thuốc trừ sâu này cũng được cho là
có liên quan đến tỷ lệ ung thư cao trong các cộng
đồng xung quanh Aral Sea. Aldicarb có hiệu quả
trong việc chống lại các chất diệt côn trùng phosphate
hữu cơ và rất quan trọng trong sản xuất khoai tây, nơi
nó được sử dụng để kiểm soát các tuyến trùng sinh vật
gây hại từ đất và một số dịch hại lá. Mức độ hòa tan
cao hạn chế việc sử dụng nó ở một số khu vực có mực
nước gần mặt nước. Aldicarb được phân loại như là
một chất cực kỳ độc hại ở Hoa Kỳ. Methomyl và di-
azinon là những thuốc trừ sâu có khả năng phân hủy
sinh học với sự trợ giúp của các loại nấm thối, nấm
có mùi thối, loài nấm tay quỷ, hay nấm bạch tuộc có
tên khoa học là nấm Clathrus archeri. Nấm này sinh
sống chủ yếu ở Australia và Tasmania, nhưng cũng
có thể tìm thấy ở châu Âu, Bắc Mỹ, và châu Á.
Trong nghiên cứu này sử dụng kỹ thuật làm giàu
phân huỷ sinh học của thuốc trừ sâu thực vật hữu cơ
Tạp chí
KH-CN Nghệ AnSỐ 10/2017 [21]
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
(Chloropyrifos and Ethion). Hai chủng nấm
Trichoderma harznaium và Rhizopus no-
dosus phân lập được từ đất bị ô nhiễm bằng
kỹ thuật làm giàu, có khả năng chuyển hóa
chất diệt côn trùng Chloropyriofos và
Ethion như là nguồn carbon duy nhất khi
nuôi cấy trong môi trường với nồng độ
100ppm, nấm có khả năng phân hủy 70-
80% trong 21 ngày. Hơn nữa, hiệu quả suy
thoái đã được tăng thêm 10-20% với việc bổ
sung 0,1% dextrose vào môi trường. Chlor-
pyriofos một loại thuốc trừ sâu phosphate
hữu cơ được sử dụng để diệt một số loại sâu
bệnh bao gồm côn trùng và sâu. Nó được sử
dụng cho cây trồng, vật nuôi và cây các tòa
nhà [6]. Nó tác động lên hệ thống thần kinh
của côn trùng bằng cách ức chế acetyl-
cholinesterase. Nó gây độc hại cho người và
có hơn 10.000 người chết mỗi năm. Chlor-
pyrifos được Tổ chức Y tế Thế giới coi là
chất nguy hiểm đối với con người. Sự phơi
nhiễm vượt quá mức đề nghị liên quan đến
các ảnh hưởng thần kinh, rối loạn phát triển
liên tục và rối loạn tự miễn dịch. Tiếp xúc
trong thời kỳ mang thai có thể gây hại cho
sự phát triển tinh thần của trẻ nên đã bị cấm
vào năm 2001 tại Hoa Kỳ.
Ethion cũng là một hợp chất hữu cơ
phosphate diệt côn trùng. Nó cũng ảnh
hưởng đến enzyme acetylcholinesterase và
ngăn ngừa hoạt động lipophilic. Sự hấp thụ
này từ da, phổi và ruột đến máu sẽ xảy ra
thông qua sự khuếch tán thụ động, là
một chất ức chế enzym cholinesterase en-
zyme, ảnh hưởng đến dẫn truyền xung thần
kinh làm con vật tê liệt và chết [7]. Môi
trường nước và đất bị ảnh hưởng bởi endo-
sulfan có thể dễ dàng bị tác động bởi dòng
nấm (Aspergillus niger). Các endosulfan
thuốc trừ sâu clo được chuyển hóa thông
qua các sản phẩm trung gian khác nhau của
nấm. Endosulfan là một trong những loại
thuốc trừ sâu độc hại nhất trên thị trường
hiện nay, chịu trách nhiệm cho nhiều vụ ngộ
độc thuốc gây tử vong trên toàn thế giới.
Hơn 80 quốc gia, bao gồm Liên minh châu
Âu, Úc, New Zealand, một số quốc gia Tây
Phi, Hoa Kỳ, Brazil và Canada đã cấm nó
hoặc thông báo ngừng hoạt động vào thời điểm lệnh
cấm của Công ước Stockholm được thống nhất. Nó
vẫn được sử dụng rộng rãi ở Ấn Độ, Trung Quốc và
một vài nước khác [6]. Endosulfan là chất độc thần
kinh đặc biệt đối với cả côn trùng và động vật có vú,
kể cả con người và nhiều trường hợp ngộ độc subleal
đã gây ra tổn thương não vĩnh viễn.
Một loại nấm mới phân hủy Endosulfan đó là các
loài Mortierella, được phân lập từ một đất bị ô nhiễm
các thuốc trừ sâu organochlorine. Nấm Mortierella có
khoảng 85 loài và các dòng W8 và Cm1-45 của
Mortierella sp. đã phân hủy endosulfan 50-70% trong
28 ngày ở 250C. Điều này làm tăng khả năng sinh sản
của đất nông nghiệp [10]. Hơn 30 chủng vi sinh vật
khác có khả năng phân hủy các loại thuốc trừ sâu,
trong đó Gliocladium genus có hoạt tính tối đa để
phân hủy chlorpyrifos. Các loài thường gặp trong chi
Gliocladium như: Gliocladium penicilloides, Gliocla-
dium virens (gần đây chuyển sang chi Trichoderma),
và Gliocladium roseum. Nấm sử dụng chlorpyrifos
làm nguồn dinh dưỡng carbon và năng lượng, gây ra
sự phân hủy nhanh chóng. Chlorpyrifos được sử dụng
để diệt một số loại sâu, côn trùng và rất độc, tác động
trên hệ thống thần kinh của côn trùng bằng cách ức
chế acetylcholinesterase. Ở người, nó gây độc hại và
có hơn 10.000 người chết mỗi năm [8]. Hay Tricho-
derma viride và Trichoderma harzianum có tiềm
năng làm giảm chất pirimicarb. Pirimicarb là một loại
thuốc trừ sâu carbamate được sử dụng để kiểm
soát rệp vừng trên rau, ngũ cốc và nhiều cây rau quả.
Trichoderma viride còn là một loại nấm và thuốc diệt
Nấm Trichoderma đối kháng mạnh với các loại nấm bệnh
Tạp chí
KH-CN Nghệ AnSỐ 10/2017 [22]
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
tài liệu tham khảo:
1. S.M.Booker (2001 Mar), Dioxin in Vietnam: fighting a legacy of war of pesticides.
2. Crawford, J. J., G.K. Sims, R.L. Mulvaney, and M. Radosevich (1998), “Biodegradation of atrazine under denitrifying
conditions”.
3. EPA, “Pesticides industry, sales and usage” April, 2015.
4. F. D. M. Guillén-Jiménez et al.(2012), Lindane biodegradation by the Fusarium verticillioides AT-100 strain, isolated
from Agavetequilana leaves.
5. Gilliom RJ et al.(2007), US Geological Survey The Quality of Our Nation’s Waters: Pesticides in the Nation’s Streams
and Ground Water.
6. Endosulfan: Supreme Court to hear seeking ban on Monday, The Hindu. Chennai, India. 1 May (2011).
7. Fukuto, T. Roy (1990), “Mechanism of Action of Organophosphorus and Carbamate Insecticides”.
8. F. I. Hai, O. Modin, et al (2012), Pesticide removal by a mixed culture of bacteria and white-rot fungi, Journal of the
Taiwan Institute of Chemical Engineers, vol. 43.
9. J. Johnson and W. G. Ware, Pesticide Litigation Manual (1992), Edition, Clark Boardman Callaghan Environmental Law.
10. R. Kataoka, K. Takagi, and F. Sakakibara (2010), A new endosulfan-degrading organochlorine pesticides,
Mortierella species, isolated from a soil contaminated with fungus.
11. Kransler KM, McGarrigle BP, Olson JR; McGarrigle; Olson (2007), “Comparative developmental toxicity of 2, 3,
7, 8-tetrachlorodibenzo-p-dioxin in the hamster, rat and guinea pig”. Toxicology 229 (3).
12. U.S. Environmental Protection Agency, (May 14, 2009), National Primary Drinking Water Regulations.
nấm sinh học và cải tạo đất. Nó được sử dụng
để xử lý hạt và đất để ngăn chặn các bệnh
do nấm khác gây ra. Các chủng Penicillium
citrinum, Aspergillus fumigatus, Aspergillus
terreus và Trichoderma harzianum đã được
tìm thấy có khả năng làm phân hủy chlorfen-
vinphos, chất dùng rất rộng rãi để diệt côn
trùng. Nó gây ngộ độc qua đường ăn/uống
nên Hoa Kỳ và Liên minh Châu Âu cấm
dùng từ năm 1991. Chlorfenvinphos được
phân bố rộng rãi khắp cơ thể. Loại nấm mới
được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm nhất là
nấm trắng Phanerochate chrysosporium, được
xem là một mô hình lý tưởng cho việc xử lý
sinh học phân hủy các chất cực độc hay chất
độc hữu cơ không hòa tan. Các vật liệu rất
độc hại đã bị phá hủy hoàn toàn bằng nấm
trắng là polyclorinated biphenyl (PCBs) và
dioxins, thuốc trừ sâu, phenol, chlorophenols,
nước thải từ các nhà máy giấy và giấy, thuốc
nhuộm và kim loại nặng (Singh, 2006). Poly-
chlorinated biphenyl (PCBs) là một nhóm
các hợp chất nhân tạo được sử dụng rộng rãi
trong quá khứ và hiện tại chủ yếu trong các
thiết bị điện nhưng chúng đã bị cấm vào cuối
những năm 1970 ở nhiều nước bởi những
nguy cơ gây hại cho môi trường và sức khỏe.
Tuy nhiên, PCBs là những hợp chất rất bền
vững. Hiện nay, chúng vẫn dùng và tồn tại
trong môi trường. Có khoảng 130 trong 209 loại phân
tử PCBs từng được sử dụng trong mục đích thương
mại. PCBs đã được chứng minh gây ra một loạt các
hiệu ứng có hại cho sức khỏe, ung thư ở động vật,
bao gồm cả các hiệu ứng trên hệ thống miễn dịch, hệ
thống sinh sản, hệ thống thần kinh, hệ nội tiết và ảnh
hưởng sức khỏe khác. EPA đã tiếp cận có những bằng
chứng trong việc đánh giá chất gây ung thư tiềm
năng của các chất gây ô nhiễm môi trường[12].
Dioxin là tên gọi chung của một nhóm có hàng
trăm các hợp chất hóa học tồn tại bền vững trong
môi trường cũng như trong cơ thể con người và
các sinh vật khác. Dioxine có 75 đồng
phân PCDD (polychlorodibenzodioxines) và 135
đồng phân PCDF (polychlorodibenzofuranes) với
độc tính khác nhau. Dioxine còn bao gồm nhóm
các poly-chloro-biphényles, là các chất tương tự
dioxine, bao gồm 419 chất hóa học trong đó có 29
chất đặc biệt nguy hiểm. Trong số các hợp chất
dioxine, TCDD (2,3,7,8-Tetrachlorodibenzo-p-
dioxin) là nhóm độc nhất. Theo báo cáo sơ thảo
của Cục Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ (EPA)
năm 1994, dioxin như là một tác nhân đe dọa nguy
hiểm đối với sức khỏe cộng đồng và dường như
không có mức độ phơi nhiễm dioxin nào được xem
là an toàn [11] và vấn đề đã trở nên rõ ràng là con
người, đặc biệt là phụ nữ, bị nhiễm dù chỉ một chút
chất dioxin với 1/1 tỷ gram, cũng có khả năng cao
sinh ra những đứa con dị tật bẩm sinh./.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
vai_tro_cua_nam_trong_phan_giai_thuoc_bao_ve_thuc_vat.pdf