Trong thời gian 14 tháng có 671 bệnh nhân đủ
tiêu chuẩn đưa vào nghiên cứu, 154 bệnh nhân
được ghi nhận là có nhiễm khuẩn bệnh viện theo
đúng tiêu chuẩn với tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện
là 23%. Trong đó các NKBV thường gặp theo thứ
tự là VPBV, NKHBV, NKVM và NKTN chiếm tỷ lệ
85,5% trong tổng số các ca NKBV.
Tác nhân gây NKBV chủ yếu là vi khuẩn Gram
âm 79,8%. Vi khuẩn Gram dương chỉ chiếm 17%
trong tổng số tác nhân vi khuẩn gây NKBV. Kết
quả này tương đương với các nghiên cứu khác,
đối với các khoa HSTC có nhiều bệnh nhân phẫu
thuật và có can thiệp đặt dụng cụ thì tỷ lệ vi khuẩn
S.aureus và S.epidermidis có cao hơn so với nghiên
cứu này (3,4,10,11).
Trong các loại vi khuẩn Gram âm gây NKBV thì
thường gặp nhất là Klebsiella spp, Acinetobacter
spp, P.aeruginosa, Enterobacter spp, và E.coli điều
này cũng phù hợp với các nghiên cứu khác. Tác
giả Zaidi giải thích là do các vi khuẩn này dễ phát
triển trong môi trường bệnh viện, có thể tồn
tại trong các vật dụng của bệnh viện, các dung
dịch khác nhau và trên những dụng cụ xử lý và
bảo quản không tốt, đặc biệt kháng nhiều loại
kháng sinh nên thường gây ra những đợt bùng
phát nhiễm khuẩn bệnh viện (15). Bên cạnh đó, vi
khuẩn Gram dương như S.aureus, S.epidermidis và
Enterococcus ngày càng là những tác nhân quan
trọng của NKBV do việc đặt dụng cụ trong các can
thiệp trên bệnh nhân, sử dụng nhiều kháng sinh
hiệu quả chống vi khuẩn Gram âm và xuất hiện
các chủng Gram dương kháng kháng sinh nhất là
vancomycine (14).
Xét về tác nhân gây NKBV đối với từng loại
NKBV, mặc dầu vi khuẩn gây bệnh vẫn chủ yếu là
Gram âm, nhưng trong từng loại NKBV thì có sự
khác nhau. Đối với VPBV thì tác nhân chủ yếu là vi
khuẩn Gram âm, vi khuẩn S.aureus chỉ chiếm tỷ lệ
nhỏ. Do đó trong chọn lựa kháng sinh cho VPBV
nên ưu tiên chọn kháng sinh chống vi khuẩn Gram
âm, cân nhắc sử dụng thêm kháng sinh chống
S.aureus khi phân lập ra vi khuẩn, hay thất bại với
kháng sinh chống vi khuẩn Gram âm. Tác nhân
gây NKHBV vẫn chủ yếu là vi khuẩn Gram âm
nhưng với tỷ lệ thấp hơn so với VPBV. Có một tỷ
lệ đáng kể S.epidermidis gây ra NKHBV (23,7%),
tất cả các trường hợp này đều có đặt thông tĩnh
mạch trung tâm. Kết quả này cũng phù hợp với
các nghiên cứu khác(3,4,10,11). Do vậy khi chọn
kháng sinh điều trị NKHBV cần phối hợp kháng
sinh chống S.epidermidis và vi khuẩn Gram âm.
Đối với NKVM thì tác nhân gây NKBV chủ yếu vẫn
là Gram âm, bên cạnh đó có một tỷ lệ đáng kể
S.aureus gây NKVM (21,1%). Điều này cũng được
ghi nhận trong nghiên cứu của tác giả khác (12).
Do những bệnh nhân bị NKVM chủ yếu là từ phẫu
thuật đường tiêu hóa nên nguy cơ lây nhiễm vi
khuẩn Gram âm đường ruột rất cao, ngoài các vi
khuẩn có nguồn gốc từ da là S.aureus. Còn đối với
NKTN thì tác nhân gây nhiễm khuẩn bệnh viện
chủ yếu là Gram âm, tuy nhiên vẫn có 10% các
trường hợp do Enterococcus spp gây ra. Điều này
cũng được ghi nhận trong nghiên cứu của tác giả
Richards (11). Vì thế khi chọn lựa kháng sinh trong
điều trị NKTN do nhiễm khuẩn bệnh viện bên
cạnh chú ý đến kháng sinh chống vi khuẩn Gram
âm, cần phải lưu ý có khả năng do Enterococcus.
7 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 32 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Vi khuẩn gây nhiễm khuẩn bệnh viện tại khoa hồi sức tích cực nhi, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
25
phần nghiên cứu
VI KHUẨN GÂY NHIỄM KHUẨN BỆNH VIỆN
TẠI KHOA HỒI SỨC TÍCH CỰC NHI
Hà Mạnh Tuấn
Đại học Y Dược TP. HCM
TÓM TẮT
Mục tiêu: Xác định vi khuẩn và đề kháng kháng sinh của các vi khuẩn gây nhiễm khuẩn
bệnh viện tại khoa Hồi sức tích cực nhi, Bệnh viện Nhi Đồng 1. Thiết kế nghiên cứu: Nghiên
cứu đoàn hệ tiền cứu, thực hiện tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 trong thời gian 14 tháng. Các bệnh
nhân đủ tiêu chuẩn nghiên cứu được theo dõi suốt quá trình nằm tại khoa HSCC với các biến
số độc lập: dân số học, nhiễm khuẩn bệnh viện, vi khuẩn gây bệnh và kháng sinh đồ. Kết quả:
Có 671 bệnh nhân đủ tiêu chuẩn đưa vào nghiên cứu. Tỷ lệ NKBV là 23%. Tỷ lệ phân lập vi
khuẩn gây bệnh là 71,2%. Vi khuẩn gây bệnh thường gặp là: vi khuẩn Gram âm chiếm 79,8%,
gồm có Klebsiella spp. 17,7%, Acinetobacter spp 16,9%, P.aeruginosa 16,9%, Enterobacter
spp 12,9 %, E.coli 11,3%; vi khuẩn Gram dương 17,0%, gồm có S.aureus 8,8%, Staphylococcus
coagulase âm 7,3%. Tỷ lệ kháng kháng sinh của vi khuẩn Gram âm là cefotaxime 69,1%,
ceftazidime 50%, cefuroxim 72,3%, cefepime 35,1%, gentamycine 68,1%, ciprofloxacine
52,1% và imipenem 18,1%. Tỷ lệ kháng kháng sinh đối với S.aureus là oxacilline 45,5%,
vancomycine 0%; đối với S.epidermidis là oxacilline 66,7%, và vancomycine là 0%. Kết luận:
Vi khuẩn gây nhiễm khuẩn bệnh viện chủ yếu là Gram âm và kháng nhiều kháng sinh. Điều
này đã gây ra khó khăn trong việc điều trị nhiễm khuẩn bệnh viện và dẫn đến các hậu quả
không tốt. Để cải thiện tình trạng này cần phải tăng cường các biện pháp kiểm soát nhiễm
khuẩn bệnh viện và sử dụng kháng sinh hợp lý.
Từ khóa: Nhiễm khuẩn bệnh viện; hồi sức tích cực nhi; vi khuẩn; đề kháng kháng sinh.
ABSTRACT
CAUSES AND ANTIBIOTIC RESISTANCE PATTERN OF BACTERIA CAUSING NOSOCOMIAL
INFECTIONS IN PEDIATRIC INTENSIVE CARE UNIT
Objective: Identify causes and antibiotic resistance pattern of bacteria causing nosocomial
infections in pediatric intensive care unit. Study design: A prospective cohort study was carried out
in Children’s Hospital 1 within 14 months. The enrolled patients in pediatric intensive care unit were
longitudinally followed with main variables: demographic, nosocomial infection, bacteria causing
nosocomial infection, antibiogram. Results: There were 671 patients enrolled in the study. Incidence
of nosocomial infection was 23%. Common causes of nosocomial infection were Gram negative
bacteria 79.8%, including Klebsiella spp. 17.7%, Acinetobacter spp 16.9%, P.aeruginosa 16.9%,
Enterobacter spp 12.9 %, E.coli 11.3%; Gram positive bacteria 17.0%, including S.aureus 8.8%,
Nhận bài: 10-4-2018; Thẩm định: 20-4-2018
Người chịu trách nhiệm chính: Hà Mạnh Tuấn
Địa chỉ: Đại học Y Dược - Thành phố Hồ Chí Minh
tạp chí nhi khoa 2018, 11, 2
26
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV) tại khoa Hồi sức
tích cực (HSTC) nhi là một vấn đề y tế quan trọng
do tính chất thường gặp với tỷ lệ thay đổi tùy theo
quốc gia 6,1 - 29% trong tổng số bệnh nhân nằm tại
HSTC nhi (1,4,9,10), và do những hậu quả của NKBV gây
ra đó là thời gian điều trị kéo dài, tăng chi phí điều
trị và tăng tỷ lệ tử vong. Tác nhân gây NKBV chủ yếu
là do các vi khuẩn và kháng nhiều loại kháng sinh,
tuy nhiên loại vi khuẩn gây bệnh và tình hình đề
kháng kháng sinh có thể thay đổi tùy theo điều kiện
thực tế ở mỗi nơi (8,10). Nghiên cứu này nhằm xác
định vi khuẩn gây bệnh và tình hình kháng kháng
sinh để giúp cho việc xử trí và phòng ngừa NKBV tại
các khoa HSTC nhi hiệu quả hơn.
Mục tiêu:
1. Xác định vi khuẩn gây NKBV chung và từng
loại NKBV.
2. Xác định tính kháng kháng sinh của vi khuẩn
gây NKBV.
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu đoàn hệ tiền cứu.
2.2. Đối tượng nghiên cứu
Những bệnh nhân điều trị tại khoa HSTC nhi
của Bệnh viện Nhi Đồng 1, từ tháng 10/2003 đến
12/2004 thỏa những điều kiện sau:
- Tiêu chuẩn chọn bệnh: Bệnh nhân từ 1 tháng
tuổi đến 15 tuổi, điều trị tại khoa HSTC trên 48
giờ và không có dấu hiệu của NKBV trong vòng
48 giờ sau khi nhập HSTC.
- Tiêu chuẩn loại trừ: Những bệnh nhân có
NKBV từ trước khi vào HSTC, hay bệnh nhi tử
vong trong vòng 48 giờ sau nhập HSTC.
2.3. Cỡ mẫu
Cỡ mẫu được tính theo công thức tính cỡ mẫu
trong nghiên cứu đoàn hệ kiểm định giả thuyết
về nguy cơ tương đối, với P2 = 0,04, RR=2,25
(13)
mức ý nghĩa 5%, lực của test là 90%, kiểm định
hai phía, có n = 509.
2.4. Thu thập số liệu
Mẫu được chọn liên tục không ngẫu nhiên.
Bệnh nhân được khám, đánh giá tình trạng bệnh,
đánh giá chỉ số PRISM (Pediatric Risk of Mortality),
bệnh cơ bản theo phiếu thu thập. Tất cả các bệnh
nhân được xử trí theo phác đồ điều trị của bệnh
viện, và được chăm sóc phòng ngừa NKBV theo
đúng quy định hiện hành. Các can thiệp và điều
trị, NKBV có xảy ra hay không? Vi khuẩn gây bệnh
và tỷ lệ kháng kháng sinh của vi khuẩn gây bệnh
được ghi nhận. Kháng sinh đồ được tiến hành theo
phương pháp khuếch tán đĩa trên thạch (modified
Kerley Bauer). Kỹ thuật tiến hành và đánh giá kết
quả theo tiêu chuẩn của NCCLS. Tiêu chuẩn chẩn
đoán NKBV theo tiêu chuẩn của Cơ quan phòng
ngừa và kiểm soát bệnh Hoa Kỳ (CDC)(5).
Staphylococcus coagulase negative 7.3%. The rate of antibiotic resistance of Gram negative bacteria
were cefotaxime 69.1%, ceftazidime 50%, cefuroxim 72.3%, cefepime 35.1%, gentamycine 68.1%,
ciprofloxacine 52.1% and imipenem 18.1%. The rate of antibiotic resistance of S.aureus was oxacilline
45.5%, vancomycine 0%; the rate of antibiotic resistance of S.epidermidis was oxacilline 66,7%, and
vancomycine 0%. Conclusion: The bacteria causing nosocomial infection were mainly Gram negative
and resistant to many antibiotics. This made difficulty in treatment of nosocomial infection and led to
harmful results to the patients. In order to solve this problem, the control measures for prevention
of nosocomial infection and rational use of antibiotic should be enhanced in the pediatric intensive
care unit.
Key words: Nosocomial infection; pediatric hospital infection; bacteria; antibiotic resistance.
27
phần nghiên cứu
2.5. Xử lý số liệu
Các biến rời sẽ trình bày theo tỷ lệ phần trăm,
các biến liên tục sẽ được trình bày dưới dạng
trung bình ± SD. Khi so so sánh hai tỷ lệ dùng
phép kiểm χ2, so sánh hai trung bình dùng phép
kiểm t. Giá trị p <0,05 với kiểm định hai phía
được xem là có ý nghĩa thống kê. Các số liệu
được xử lý bằng phần mềm SPSS 10.5.
3. KẾT QUẢ
3.1. Đặc điểm của bệnh nhân nghiên cứu
Có tất cả 671 bệnh nhân đủ tiêu chuẩn nghiên
cứu. Tuổi trung bình là 58 ± 57 tháng (gần 5 tuổi);
nam chiếm 58,7% và nữ chiếm 41,3%. (bảng 1).
Bảng 1. Đặc điểm của bệnh nhân nghiên cứu
Đặc điểm Số ca(n = 671)
Tỷ lệ
(%)
Giới 394 58,7
Nam 277 41,3
Nữ
Tuổi trung bình 58 ± 57 tháng
3.2. Tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện
Tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện là 23,0 %, trong đó viêm phổi bệnh viện (VPBV) là 44,2%, nhiễm
khuẩn huyết bệnh viện (NKHBV) 24,4% nhiễm khuẩn vết mổ (NKVM) là 11,1%, nhiễm khuẩn tiết niệu
(NKTN) 5,8% so với tổng số NKBV (bảng 2).
Bảng 2. Tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện
Loại nhiễm khuẩn bệnh viện Số ca(n = 671)
Tỷ lệ
(%)
Nhiễm khuẩn bệnh viện 154 23,0
Viêm phổi bệnh viện 76 11,3
Nhiễm khuẩn huyết bệnh viện 42 6,3
Nhiễm khuẩn vết mổ 19 2,8
Nhiễm khuẩn tiết niệu 9 1,3
Nhiễm khuẩn khác 26 3,9
3.3. Vi khuẩn gây nhiễm khuẩn bệnh viện
Tỷ lệ phân lập tác nhân gây NKBV là 71,2%
(110/154), trong đó tỷ lệ phân lập vi khuẩn trong
VPBV là 76,3%, NKHBV là 88,1%, NKVM là 84,2%,
và NKTN là 100%. Tác nhân gây NKBV chủ yếu là vi
khuẩn Gram âm, chiếm tỷ lệ 79,8%, vi khuẩn Gram
dương chiếm 7,0 %. Có 3,2 % trường hợp phân lập
ra nấm Candida albicans. Các vi khuẩn Gram (-)
khác gây NKBV là M.morganii (2), P.vulgaris (2) và
Serratia spp (1).
tạp chí nhi khoa 2018, 11, 2
28
Bảng 3. Phân bố vi khuẩn gây nhiễm khuẩn bệnh viện theo loại NKBV
Loại NKBV
Tổng
(%)VPBV NKHBV NKVM NKTN
Vi khuẩn Gram (-) 52 24 8 15 99 (79,8)
Klebsiella spp 12 7 3 22 (17,7)
Acinetobacter spp 12 8 1 21 (16,9)
P.aeruginosa 20 1 21 (16,9)
Enterobacter spp 5 5 2 4 16 (12,9)
E.coli 3 1 5 5 14 (11,3)
Khác 2 3 5 (4,0)
Vi khuẩn Gram (+) 4 12 1 4 21 (7,0)
S.aureus 4 3 4 11 (8,8)
S.epidermidis
E.faecalis
9
1
9 (7,3)
1 (4,8)
Bảng 4. Tỷ lệ kháng kháng sinh của vi khuẩn Gram dương
AMK CHL CIP STX ERY GEN OXA PNC RIF VAN
S.epidermidis
(n = 9) 22,2 55,6 66,7 66,7 66,7 44,4 66,7 100 11,1 0,0
S.aureus
(n= 11) 36,4 45,5 45,5 18,2 72,7 45,5 45,5 100 0,0 0,0
Chú thích ở bảng 5
Bảng 5. Tỷ lệ kháng kháng sinh của vi khuẩn Gram âm
AMP CAZ IMI FTX AMK FEP CHL CIP GEN FRA
E.coli
(n = 14) 92,9 21,4 66,7 0 42,9 7,1 50 42,9 50 50
Enterobacter spp
(n = 16) 93,8 43,8 0 62,5 31,3 25 62,5 37,5 62,5 75
P.aeruginosa
(n =21) 95,2 47,6 38,1 76,2 38,1 38,1 90,5 61,9 66,7 61,9
Acinetobacter spp
(n = 21) 95,2 66,7 9,5 81,0 61,9 61,9 85,7 57,1 76,2 85,7
Klebsiella spp 100 59,1 31,8 72,7 31,8 27,3 68,2 54,5 77,3 81,8
(n = 22)
Chung
(n = 99) 95,7 50,0 18,1 69,1 36,2 35,1 73,4 52,1 68,1 72,3
AMP: Ampicilline; AMK: Amikacine; CHL: Chloramphenicol; CIP: Ciprofloxacine; CAZ: Ceftazidime;
ERY: Erythromycine; FRA: Cefuroxim; FEP: Cefepime; FTX: Cefotaxime; GEN: Gentamycine; IMI:
Imipenenem; OXA: Oxacilline; PNC: Penicilline; RIF: Rifampicine; STX: Cotrimoxazol; VAN: Vancomycine.
29
phần nghiên cứu
4. BÀN LUẬN
Trong thời gian 14 tháng có 671 bệnh nhân đủ
tiêu chuẩn đưa vào nghiên cứu, 154 bệnh nhân
được ghi nhận là có nhiễm khuẩn bệnh viện theo
đúng tiêu chuẩn với tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện
là 23%. Trong đó các NKBV thường gặp theo thứ
tự là VPBV, NKHBV, NKVM và NKTN chiếm tỷ lệ
85,5% trong tổng số các ca NKBV.
Tác nhân gây NKBV chủ yếu là vi khuẩn Gram
âm 79,8%. Vi khuẩn Gram dương chỉ chiếm 17%
trong tổng số tác nhân vi khuẩn gây NKBV. Kết
quả này tương đương với các nghiên cứu khác,
đối với các khoa HSTC có nhiều bệnh nhân phẫu
thuật và có can thiệp đặt dụng cụ thì tỷ lệ vi khuẩn
S.aureus và S.epidermidis có cao hơn so với nghiên
cứu này (3,4,10,11).
Trong các loại vi khuẩn Gram âm gây NKBV thì
thường gặp nhất là Klebsiella spp, Acinetobacter
spp, P.aeruginosa, Enterobacter spp, và E.coli điều
này cũng phù hợp với các nghiên cứu khác. Tác
giả Zaidi giải thích là do các vi khuẩn này dễ phát
triển trong môi trường bệnh viện, có thể tồn
tại trong các vật dụng của bệnh viện, các dung
dịch khác nhau và trên những dụng cụ xử lý và
bảo quản không tốt, đặc biệt kháng nhiều loại
kháng sinh nên thường gây ra những đợt bùng
phát nhiễm khuẩn bệnh viện (15). Bên cạnh đó, vi
khuẩn Gram dương như S.aureus, S.epidermidis và
Enterococcus ngày càng là những tác nhân quan
trọng của NKBV do việc đặt dụng cụ trong các can
thiệp trên bệnh nhân, sử dụng nhiều kháng sinh
hiệu quả chống vi khuẩn Gram âm và xuất hiện
các chủng Gram dương kháng kháng sinh nhất là
vancomycine (14).
Xét về tác nhân gây NKBV đối với từng loại
NKBV, mặc dầu vi khuẩn gây bệnh vẫn chủ yếu là
Gram âm, nhưng trong từng loại NKBV thì có sự
khác nhau. Đối với VPBV thì tác nhân chủ yếu là vi
khuẩn Gram âm, vi khuẩn S.aureus chỉ chiếm tỷ lệ
nhỏ. Do đó trong chọn lựa kháng sinh cho VPBV
nên ưu tiên chọn kháng sinh chống vi khuẩn Gram
âm, cân nhắc sử dụng thêm kháng sinh chống
S.aureus khi phân lập ra vi khuẩn, hay thất bại với
kháng sinh chống vi khuẩn Gram âm. Tác nhân
gây NKHBV vẫn chủ yếu là vi khuẩn Gram âm
nhưng với tỷ lệ thấp hơn so với VPBV. Có một tỷ
lệ đáng kể S.epidermidis gây ra NKHBV (23,7%),
tất cả các trường hợp này đều có đặt thông tĩnh
mạch trung tâm. Kết quả này cũng phù hợp với
các nghiên cứu khác(3,4,10,11). Do vậy khi chọn
kháng sinh điều trị NKHBV cần phối hợp kháng
sinh chống S.epidermidis và vi khuẩn Gram âm.
Đối với NKVM thì tác nhân gây NKBV chủ yếu vẫn
là Gram âm, bên cạnh đó có một tỷ lệ đáng kể
S.aureus gây NKVM (21,1%). Điều này cũng được
ghi nhận trong nghiên cứu của tác giả khác (12).
Do những bệnh nhân bị NKVM chủ yếu là từ phẫu
thuật đường tiêu hóa nên nguy cơ lây nhiễm vi
khuẩn Gram âm đường ruột rất cao, ngoài các vi
khuẩn có nguồn gốc từ da là S.aureus. Còn đối với
NKTN thì tác nhân gây nhiễm khuẩn bệnh viện
chủ yếu là Gram âm, tuy nhiên vẫn có 10% các
trường hợp do Enterococcus spp gây ra. Điều này
cũng được ghi nhận trong nghiên cứu của tác giả
Richards (11). Vì thế khi chọn lựa kháng sinh trong
điều trị NKTN do nhiễm khuẩn bệnh viện bên
cạnh chú ý đến kháng sinh chống vi khuẩn Gram
âm, cần phải lưu ý có khả năng do Enterococcus.
Khi khảo sát tình hình kháng kháng sinh
của các vi khuẩn gây NKBV trong nghiên cứu
này chúng tôi nhận thấy đối với vi khuẩn Gram
dương, tỷ lệ kháng methicilline của S.aureus là
45,5%, của S.epidermidis là 66,7%. Khi so sánh
với các nghiên cứu khác chúng tôi cũng ghi nhận
tỷ lệ tụ cầu kháng methicillin cũng khá cao từ
40% - 87,4% đối với S.aureus, và từ 50 - 90% đối
với S.epidermidis(2,4,6,7,8). Tỷ lệ này sẽ tăng cao ở
những đơn vị HSTC có đặt nhiều dụng cụ trong
lòng mạch. Với tỷ lệ kháng methicilline cao này
thì việc chọn lựa kháng sinh điều trị S.aureus và
S.epidermidis gây NKBV thường rất khó khăn,
tạp chí nhi khoa 2018, 11, 2
30
hầu như chỉ còn vancomycine. Đây là vấn đề hết
sức quan trọng vì nguy cơ Staphylococcus kháng
vancomycine sẽ ngày càng tăng, điều này làm
cho việc điều trị sẽ ngày càng khó khăn hơn.
Đối với vi khuẩn Gram âm thì tỷ lệ kháng đối
với các kháng sinh cephalosporin thế hệ thứ 2,
và thứ 3 rất cao trên 60%, và một tỷ lệ đáng kể
kháng cephalosporin thế hệ 4 (cefepime) khoảng
trên dưới 30%, và tỷ lệ kháng cao trên 50% đối
với ciprofloxacine. Tuy nhiên vẫn còn một tỷ lệ
thấp khoảng dưới 20% kháng với imipenem.
Điều này cũng được ghi nhận qua các nghiên cứu
khác(2,4,6,7,8). Tính đa kháng kháng sinh của vi khuẩn
Gram âm đối với các kháng sinh thường dùng là
do việc sử dụng kháng sinh phổ rộng thường được
chỉ định trong HSTC, do việc thực hiện không tốt
các biện pháp kiểm soát NKBV tại HSTC, do nhiều
can thiệp trên bệnh nhân và do quá tải (1,11,14,15).
5. KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu này các cho thấy tác nhân gây
NKBV thường gặp là vi khuẩn Gram âm, và một tỷ lệ
đang gia tăng là vi khuẩn S.aureus, và S.epidermidis.
Các vi khuẩn này thường là kháng nhiều kháng
sinh, điều này gây khó khăn trong vấn đề xử trí
các trường hợp NKBV. Biện pháp kiểm soát tình
hình kháng kháng kháng sinh này là việc sử dụng
kháng sinh hợp lý, và tuân thủ nghiêm các biện
pháp kiểm soát NKBV tại các khoa HSTC.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Abramczyk ML., Carvalho WB, Eduardo
S. Carvalho, Eduardo A. S. Medeiros (2003).
“Nosocomial Infection in Paediatric Intensive
Care Unit in a Developing Country”. The Brazilian
Journal of Infectious Diseases, 7 (6), pp: 375 -380.
2. Aksaray S1, DokuzoGuz B, Güvener E, (2000).
“Surveillance of antimicrobial resistance among
gram-negative isolates from intensive care units in
eight hospitals in Turkey”. J Antimicrob Chemother,
45(5) pp: 695-9.
3. Chang M.R.; Carvalho N.C.P.; Oliveira A.L.L.;
Moncada P.M.F.; Moraes B.A.; Asensi M.D (2003).
“Surveillance of pediatric infections in a teaching
hospital in Mato Grosso do Sul, Brazil”. Braz J
Infect Dis, 7 (2), pp: 149 -160.
4. Đặng Văn Quý (2002). “Đặc điểm nhiễm
khuẩn bệnh viện tại khoa Hồi sức cấp cứu Bệnh
viện Nhi Đồng 2”. Luận văn tốt nghiệp bác sĩ nội
trú Nhi, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ
Chí Minh.
5. Garner JS, Jarvis WR, Emori TG ET al (1996).
“CDC Definitions of Nosocomial Infections”. APIC
Infection Control and Applied Epidemiology:
Principles and Practices, pp: A1 - A20, Mosby,
St.Louis.
6. Hanberger H1, Diekema D, Fluit A et al
(2001). “Surveillance of antibiotic resistance in
European ICUs”. J Hosp Infect., 48(3):161-76.
7. Hsueh PR1, Chen ML, Sun CC, et al (2002).
“Antimicrobial drug resistance in pathogens
causing nosocomial infections at a university
hospital in Taiwan, 1981-1999”. Emerg Infect Dis.,
8(1) pp: 63-8.
8. NNISS (2003) “National Nosocomial Infections
Surveillance (NNIS) System Report, data summary
from January 1992 through June 2003, issued
August 2003”. Am J Infect Control., 31(8) pp: 481-98.
9. Nguyễn Hoài Phong (2004). “Đặc điểm
nhiễm khuẩn bệnh viện tại khoa Hồi sức tăng
cường Bệnh viện Nhi Đồng 1”. Luận văn tốt nghiệp
bác sĩ nội trú Nhi, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh.
10. Raymond J1, Aujard Y (2000)
“Nosocomial infections in pediatric patients:
a European, multicenter prospective study.
European Study Group”. Infect Control Hosp
Epidemiol.; 21(4) pp:260-3.
31
phần nghiên cứu
11. Richards MJ, Edwards JR, Culver DH, Gaynes
RP. (1999). “Nosocomial Infections in Pediatric
Intensive Care Units in the United States”. Pediatrics,
103 (4), pp: 135- 141.
12. Sarah YW and Edward SW (1999). “Surgical
site infections” Hospital Epidemiology and Infection
Control, 2rd edition, chapter 21, Lipincotte William
and Wilkins, Baltimore.
13. Singh-Naz N, Sprague BM, Patel KM, Pollack
MM (1996). “Risk factors for nosocomial infection in
critically ill children: A prospective cohort study”.
Crit Care Med, 24 (5), pp:875 - 878.
14. Weinstein RA1 (1998). “Nosocomial infection
update”. Emerg Infect Dis.; 4(3) pp: 416-20.
15. Zaidi AK1, Huskins WC, Thaver D, Bhutta
ZA, Abbas Z, Goldmann DA (2005). “Hospital
- acquired neonatal infections in developing
countries”. Lancet; 365 (9465) pp:1175-88.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
vi_khuan_gay_nhiem_khuan_benh_vien_tai_khoa_hoi_suc_tich_cuc.pdf