Phân tích yếu tố nguy cơ nhiễm S. suis
Bằng phương pháp nghiên cứu bệnh-chứng
(case-control study), những thông tin thu thập
từ hộ có heo bệnh liên cầu khuẩn (hộ) và 15
hộ không có heo bệnh liên cầu khuẩn (S. suis
không mang gen gây độc) được tổng hợp, mã
hóa bằng phần mềm Microsoft Excel 2013 và
phân tích đơn biến để xác định yếu tố nguy cơ.
Kết quả được trình bày qua bảng 4.
Qua bảng 4 cho thấy, hộ có quy mô heo cai
sữa >100 con sẽ làm tăng nguy cơ heo mắc bệnh
liên cầu khuẩn với OR= 11 (P < 0,05). Điều này
cũng phù hợp với nghiên cứu của Ream và ctv
(1996) và Cloutier và ctv (2003), các tác giả
này cho rằng hộ nuôi heo cai sữa càng nhiều thì
nguy cơ bệnh liên cầu khuẩn trên heo càng cao.
Trong phân tích này, biến tiêu độc khử trùng
chuồng nuôi heo cai sữa trước khi chuyển đàn
với OR = 0,13 đã cho thấy, nếu chủ nuôi thực
hiện việc tiêu độc khử trùng chuồng nuôi heo
cai sữa trước khi chuyển đàn thì sẽ làm giảm
thấp nguy cơ bệnh liên cầu khuẩn xảy ra trên
heo; và ngược lại (P < 0,05). Kết quả này cũng
phù hợp với nghiên cứu của Michel Dione và
ctv (2018) cho rằng, khi thực hiện vệ sinh, tiêu
độc khử trùng, tỷ lệ heo nhiễm S. suis sẽ giảm
đáng kể với OR = 0,15 (P = 0,017). Bên cạnh
đó, việc tận dụng chất thải từ chăn nuôi heo
không qua xử lý trực tiếp bón cho cây trồng tại
trại cũng sẽ làm tăng nguy cơ heo mắc bệnh liên
cầu khuẩn với OR = 9,75 (P< 0,05), do S. suis
có thể tồn tại 24 giờ trong bụi và 8 ngày trong
phân, đã tạo điều kiện cho việc phát tán và lây
truyền mầm bệnh trong môi trường.
8 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 1 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Xác định các streptococcus suis serotype trên đàn heo nuôi tại tỉnh Tiền Giang, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
47
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 1 - 2019
XAÙC ÑÒNH CAÙC STREPTOCOCCUS SUIS SEROTYPE
TREÂN ÑAØN HEO NUOÂI TAÏI TÆNH TIEÀN GIANG
Trương Minh Dũ1, Thái Quốc Hiếu1, Ngô Thị Hoa2, Lê Vĩnh Nguyên Hân1,
Đường Chi Mai3, Trần Thị Dân3, Nguyễn Ngọc Tuân3
TÓM TẮT
Mục đích của nghiên cứu này nhằm thăm dò sự hiện diện của các serotype Streptococcus suis trên heo
tại các trại heo của tỉnh Tiền Giang. Có 270 mẫu swab hầu-họng của heo được kiểm tra sự hiện diện và xác
định serotype của Streptococcus suis. Kháng huyết thanh đặc hiệu cho kháng nguyên vỏ capsul của S. suis
(Statens Serum Institute, Đan Mạch) được dùng để xác định các serotype của S. suis. Bằng phương pháp
PCR, có 206 khuẩn lạc S. suis đã xác định serotype được dùng để tìm 4 gen gây độc bao gồm Suilysin
(sly), protein phóng thích Muramidase (mrp), gen bề mặt liên quan giống như subtilisin (sspA) và gen S.
suis secreted nuclease (ssnA). Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mẫu dương tính với S. suis ở nhóm hộ có
heo không có triệu chứng lâm sàng là 21,48% thấp hơn nhóm hộ có heo có triệu chứng lâm sàng (85,19%).
Có 28 serotype S. suis được tìm thấy trên heo ở các hộ chăn nuôi heo đã khảo sát. Các serotype S. suis 1,
1/2, 2, 3, 5, 7, 8, 9, 11, 14, 16, 21, 23, 30, 31 và 5/21 chỉ được phát hiện trên đàn heo của nhóm hộ có heo
có biểu hiện lâm sàng. Tất cả 4 gen gây độc này đã được tìm thấy, đặc biệt là các serotype S. suis 1/2, 2,
31 có mang từ 2 kiểu gen gây độc trở lên. Đã sử dụng phương pháp phân tích biến đơn để xác định yếu tố
nguy cơ liên quan đến bệnh liên cầu khuẩn trên heo. Kết quả phân tích đã đưa ra 3 yếu tố nguy cơ chính
liên quan, bao gồm hộ có quy mô nuôi heo sau cai sữa lớn (OR = 11; P < 0,05); hộ sử dụng biện pháp tiêu
độc khử trùng chuồng heo cai sữa trước khi chuyển đàn (OR = 0,13; P < 0,05); hộ sử dụng chất thải từ
chăn nuôi heo trực tiếp bón phân cho cây trồng (OR = 9,75; P < 0,05).
Từ khóa: Streptococcus suis, serotype, yếu tố nguy cơ, Tiền Giang.
Study on serotypes of Streptococcus suis isolated from pigs
in Tien Giang
Truong Minh Du, Thai Quoc Hieu, Ngo Thi Hoa, Le Vinh Nguyen Han,
Duong Chi Mai, Tran Thi Dan, Nguyen Ngoc Tuan
SUMMARY
The aim of this study was to detect the presence of Streptococcus suis serotypes from the
pigs raising in Tien Giang province. A total of 270 pig swab samples were collected for testing the
presence of S. suis and identifying S. suis serotypes. Specific antisera for S. suis capsular antigens
(Statens Serum Institute, Denmark) was used to determine the serotypes of the isolated strains.
A total of 206 S. suis isolated strains were genotyped using PCR assays for detecting four virulent
genes, such as: the suilysin (sly gene), the muramidase-released protein (mrp gene), subtilisin serin
protease (sspA gene) and S. suis secreted nuclease (ssnA gene). The studied result showed that
S. suis was detected from 21.48% of pigs in the farms without clinical signs, 85.19% of pigs in the
farms with clinical signs. 28 different serotypes were identified. Serotypes S. suis 1, 1/2, 2, 3, 5, 7,
8, 9, 11, 14, 16, 21, 23, 30, 31 and 5/21 were only isolated from the pig samples in the farms with
clinical signs. The four virulent genes were found, especially in the S. suis serotypes 1/2, 2 and
1. Chi cục Chăn nuôi và Thú y Tiền Giang
2. Đơn vị nghiên cứu lâm sàng Đại học Oxford
3. Đại học Nông Lâm Tp. HCM
48
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 1 - 2019
31 carried 2 to 4 virulent genes. Single variability was used for analyzing the risk factors relating
to S.suis in pigs. The analysed result indicated that there were 3 related risk factors, including
the large size s farms raising the post-weaning piglets (OR = 11; P < 0.05); disinfection of the
weaning piglet houses (OR = 0.13; P < 0.05) and using fresh swine manure for the farm crops
(OR = 9.75; P < 0.05).
Keywords: Streptococcus suis, serotype, risk factor, Tien Giang.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Streptococcus suis (S. suis) hay liên cầu
khuẩn heo là tác nhân gây bệnh quan trọng nhất
trong ngành chăn nuôi heo với các triệu chứng
nhiễm trùng huyết, viêm màng não và nhiều
bệnh nhiễm trùng khác. Theo Michel Dione và
ctv (2018), vi khuẩn S. suis được tìm thấy trên
heo ở mọi lứa tuổi, nhưng heo lớn tuổi có tỷ lệ
nhiễm thấp hơn heo nhỏ tuổi. Theo Gottschalk
(2000) và Gottschalk và ctv (2010), việc lây
truyền S. suis từ heo mẹ sang heo con trong
quá trình sinh sản và giai đoạn nuôi con là rất
quan trọng, vì heo là nguồn lây nhiễm chính
cho người do tiếp xúc trực tiếp với heo bị nhiễm
hoặc sử dụng các sản phẩm từ heo bị nhiễm S.
suis chưa nấu chín. Do vậy, bệnh liên cầu khuẩn
được xem là bệnh truyền lây giữa người và động
vật, và là một trong những bệnh truyền nhiễm
nguy hiểm được Bộ Y tế và Bộ Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn quan tâm kiểm soát.
Với tầm quan trọng trên, từ năm 2010, tỉnh
Tiền Giang đã phối hợp với Đơn vị nghiên
cứu lâm sàng Đại học Oxford khảo sát về tỷ
lệ nhiễm S. suis trên heo tại các cơ sở giết mổ
heo tập trung cũng như sự đồng nhiễm của S.
suis và virus PRRS (Porcine reproductive and
respiratory syndrome) tại các ổ dịch Hội chứng
rối loạn sinh sản và hô hấp trên heo (PRRS)
(Ngo và ctv, 2011). Trong nghiên cứu này, các
tác giả cũng cho rằng S. suis có thể là tác nhân
vi khuẩn góp phần làm tình trạng dịch PRRS
nghiêm trọng hơn và có thể làm tăng nguy cơ
nhiễm S. suis trên người, nhất là những người
thường xuyên chăm sóc, điều trị heo bệnh cũng
như tiêu hủy heo bệnh, heo chết trong các ổ
dịch. Đến nay, vẫn chưa có nghiên cứu về xác
định serotype S. suis có mang gen gây độc,
đánh giá về mức độ của các yếu tố nguy cơ đối
với bệnh liên cầu khuẩn trên heo tại tỉnh Tiền
Giang. Chính vì thế, đề tài “Tình hình nhiễm
các serotype Streptococcus suis trên đàn heo tại
tỉnh Tiền Giang” đã được Chi cục Chăn nuôi và
Thú y Tiền Giang phối hợp với Đơn vị nghiên
cứu lâm sàng Đại học Oxford và Trường Đại
học Nông Lâm Tp.HCM thực hiện.
II. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1. Vật liệu
- Phiếu điều tra bao gồm những câu hỏi về
tình hình quản lý, chăm sóc heo tại các hộ khảo
sát.
- Các trang thiết bị, máy móc, hóa chất phục
vụ cho nghiên cứu được cung cấp bởi Phòng Thí
nghiệm của Đơn vị nghiên cứu lâm sàng Đại
học Oxford.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thu thập mẫu
Tổng cộng 30 hộ chăn nuôi thuộc hai nhóm
bao gồm nhóm hộ có heo biểu hiện lâm sàng
và hộ không có heo biểu hiện lâm sàng nghi do
bệnh liên cầu khuẩn sẽ được chọn để điều tra
cắt ngang theo hình thức phỏng vấn chủ hộ hoặc
công nhân trực tiếp chăn nuôi. Mỗi nhóm có 15
hộ, các hộ này có quy mô từ 5 heo nái trở lên.
Tại mỗi hộ, tiến hành thu thập mẫu swab hầu
họng của 3 heo nái và 6 heo cai sữa nhỏ hơn
5 tuần tuổi từ 2 ô chuồng (20 - 30 heo con/ô
chuồng). Tổng cộng 270 mẫu (135 mẫu/nhóm
hộ) đã được thu thập. Mẫu thu thập sẽ được
chuyển về Phòng Thí nghiệm của Đơn vị nghiên
cứu lâm sàng Đại học Oxford ngay trong ngày
để phân lập, định danh và xác định gen gây độc
49
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 1 - 2019
theo các phương pháp sau:
- Phân lập S. suis: Sử dụng phương pháp vi
sinh truyền thống. Tất cả mẫu thu nhận được
tiến hành nuôi cấy trên đĩa thạch máu cừu (BA-
blood agar) nhằm xác định tác nhân gây bệnh.
Khuẩn lạc được chọn là khuẩn lạc có dung
huyết alpha, màu trắng đục, trơn bóng, sau đó
nhuộm Gram và tiến hành cấy chuyền trên đĩa
thạch máu nhằm cấy thuần chủng và tăng sinh
cho mục đích định danh.
- Định danh: Sử dụng phản ứng PCR khuếch
đại 16SrDNA để phát hiện S. suis.
- Xác định serotype S. suis: Những mẫu
dương tính với PCR sẽ được tiến hành xác
định serotype S. suis bằng cách dùng test S.
suis antisera bằng phản ứng ngưng kết nhanh
sử dụng kháng thể đặc hiệu cho polysaccharide
màng (Statens Serum Institute, Đan Mạch).
- Xác định gen gây độc: Sử dụng phương
pháp PCR để xác định các gen gây độc chủ yếu
(sly+/mrp+/sspA+/ssnA+) dựa vào các nghiên
cứu trước đây của Đơn vị nghiên cứu lâm sàng
Đại học Oxford.
2.2.2. Phân tích yếu tố nguy cơ nhiễm S. suis
Phân tích yếu tố nguy cơ bằng phần mềm
STATA 11 nhờ vào những thông tin cơ bản
được thu thập từ các hộ chăn nuôi và kết quả
xét nghiệm phòng thí nghiệm. Trong đó, biến
phụ thuộc là nhóm hộ bao gồm (1) 15 hộ có heo
bệnh liên cầu khuẩn (hộ chăn nuôi có ít nhất
1 heo biểu hiện lâm sàng nghi ngờ bệnh liên
cầu khuẩn và có kết quả xét nghiệm dương tính
với S. suis và có ít nhất 1 gen gây độc) và 15
hộ không có heo bệnh (không có biểu hiện lâm
sàng nghi ngờ bệnh liên cầu khuẩn và có kết quả
xét nghiệm âm tính với S. suis mang gen gây
độc) và biến độc lập là các yếu tố được thu thập
dựa theo phiếu điều tra.
2.3. Phân tích thống kê
Nhập dữ liệu bằng phần mềm Microsoft
Excel. So sánh các tỷ lệ bằng phương pháp χ2 sử
dụng phần mềm Minitab. Phân tích yếu tố nguy
cơ bằng phần mềm STATA 11 (StataCorp, 2009.
Stata Statistical Software: Release 11. College
Station, TX: StataCorp LP).
III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Tỷ lệ heo dương tính với S. suis
Bảng 1. Tỷ lệ mẫu dương tính với S. suis theo quy mô và nhóm heo
Chỉ tiêu
Hộ không heo biểu hiện
lâm sàng (n = 135)
Hộ có heo biểu hiện
lâm sàng (n = 135)
Số mẫu
kiểm tra
Số mẫu
dương tính Tỷ lệ (%)
Số mẫu
kiểm tra
Số mẫu
dương tính Tỷ lệ (%)
Quy mô
101 – 200 54 2 1,48 72 52 38,52
Trên 200 81 27 20,00 63 63 46,67
Nhóm
Heo nái 45 11 8,15 45 36 26,67
Heo cai sữa 90 18 13,33 90 79 58,52
Tổng cộng 135 29 21,48 135 115 85,19
Nhìn chung, kết quả bảng 1 cho thấy tỷ
lệ heo nhiễm S. suis ở nhóm hộ có quy mô
> 200 con và nhóm heo cai sữa lần lượt cao
hơn nhóm hộ có quy mô ≤ 200 con và nhóm
heo nái. Có sự khác biệt thống kê về tỷ lệ heo
nhiễm S. suis giữa hai loại quy mô ở nhóm hộ
không có heo biểu hiện lâm sàng, và hai nhóm
heo ở nhóm hộ có heo biểu hiện lâm sàng (P
< 0,05). Kết quả này phù hợp với nghiên cứu
của Ream và ctv (1996) và Cloutier và ctv
(2003), các tác giả này cho rằng bệnh do S.
suis thường tập trung trong giai đoạn 4-10
tuần tuổi, bởi đây là giai đoạn heo sau cai sữa,
ở thời điểm này, kháng thể thụ động của heo
50
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 1 - 2019
con giảm thấp cùng với nhiều yếu tố stress tác
động (chuyển chuồng mới, nhập chung đàn
heo khác, thay đổi thức ăn...) có thể góp phần
cho bệnh xảy ra.
Bảng 2. Tần số xuất hiện các serotype của S. suis trên heo
theo nhóm hộ, quy mô đàn, nhóm heo
Serotype
Hộ Quy mô Nhóm
Hộ không heo
biểu hiện
lâm sàng (%)
Hộ có heo
biểu hiện
lâm sàng (%)
101- 200
(%)
>200
(%)
Heo nái
(%)
Heo cai sữa
(%)
1 0(0,00) 9 (3,64) 7 (5,79) 2 (1,04) 4 (3,57) 5 (2,49)
1/2 0(0,00) 6 (2,43) 0,00 6 (3,13) 3 (2,68) 3 (1,49)
2 0(0,00) 6 (2,43) 0,00 6 (3,13) 3 (2,68) 3 (1,49)
3 0(0,00) 3 (1,21) 3 (2,48) 0(0,00) 2 (1,79) 1 (0,50)
5 0(0,00) 9 (3,64) 4 (3,31) 5 (2,60) 5 (4,46) 4 (1,99)
6 4 (6,06) 0(0,00) 0(0,00) 4 (2,08) 2 (1,79) 2 (1,00)
7 0(0,00) 12 (4,86) 0(0,00) 12 (6,25) 4 (3,57) 8 (3,98)
8 0(0,00) 9 (3,64) 4 (3,31) 5 (2,60) 3 (2,68) 6 (2,99)
9 0(0,00) 6 (2,43) 1 (0,83) 5 (2,60) 1 (0,89) 5 (2,49)
10 2 (3,03) 9 (3,64) 9 (7,44) 2 (1,04) 4 (3,57) 7 (3,48)
11 0(0,00) 6 (2,43) 0(0,00) 6 (3,13) 1 (0,89) 5 (2,49)
13 4 (6,06) 0(0,00) 0(0,00) 4 (2,08) 2 (1,79) 2 (1,00)
14 0(0,00) 4 (1,62) 4 (3,31) 0,00 2 (1,79) 2 (1,00)
15 6 (9,09) 0(0,00) 1 (0,83) 5 (2,60) 4 (3,57) 2 (1,00)
16 0(0,00) 9 (3,64) 7 (5,79) 2 (1,04) 3 (2,68) 6 (2,99)
20 2 (3,03) 3 (1,21) 2 (1,65) 3 (1,56) 1 (0,89) 4 (1,99)
21 0(0,00) 15 (6,07) 8 (6,61) 7 (3,65) 4 (3,57) 11 (5,47)
22 4 (6,06) 6 (2,43) 1 (0,83) 9 (4,69) 4 (3,57) 6 (2,99)
23 0(0,00) 3 (1,21) 2 (1,65) 1 (0,52) 1 (0,89) 2 (1,00)
24 4 (6,06) 0(0,00) 2 (1,65) 2 (1,04) 1 (0,89) 3 (1,49)
26 3 (4,55) 3 (1,21) 3 (2,48) 3 (1,56) 3 (2,68) 3 (1,49)
27 5 (7,58) 6 (2,43) 6 (4,96) 5 (2,60) 4 (3,57) 7 (3,48)
30 0(0,00) 4 (1,62) 3 (2,48) 1 (0,52) 0(0,00) 4 (1,99)
29 3 (4,55) 3 (1,21) 4 (3,31) 2 (1,04) 2 (1,79) 4 (1,99)
31 0(0,00) 6 (2,43) 3 (2,48) 3 (1,56) 3 (2,68) 3 (1,49)
32 6 (9,09) 9 (3,64) 2 (1,65) 13 (6,77) 5 (4,46) 10 (4,98)
5/21 0(0,00) 9 (3,64) 3 (2,48) 6 (3,13) 2 (1,79) 7 (3,48)
22/34 2 (3,03) 6 (2,43) 3 (2,48) 5 (2,60) 2 (1,79) 6 (2,99)
≥ 3 serotype 21 (31,82) 86 (34,82) 39 (32,23) 68 (35,42) 37 (33,04) 70 (34,83)
Tổng 66 (100) 247 (100) 121 (100) 192 (100) 112 (100) 201 (100)
Tần suất (%) 21,09 78,91 38,66 61,34 35,78 64,22
51
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 1 - 2019
Kết quả bảng 2 cho thấy có 28 serotype S.
suis được tìm thấy trên heo ở các hộ khảo sát.
Các serotype được phát hiện ở cả 2 nhóm hộ
có và không có heo biểu hiện lâm sàng như
serotype: 10, 20, 22, 26, 27, 29, 32, 22/34. Tuy
nhiên, các serotype S. suis 1, 1/2, 2, 3, 5, 7, 8, 9,
11, 14, 16, 21, 23, 30, 31 và 5/21 chỉ được tìm
thấy trên nhóm hộ có heo biểu hiện lâm sàng.
Kết quả khảo sát của Torremorell và ctv (1998)
và Cloutier và ctv (2003) cũng ghi nhận rằng
hầu hết heo đều có khả năng bị nhiễm S. suis,
nhưng không phải tất cả heo đều biểu hiện triệu
chứng bởi thực tế chỉ có một số serotype S. suis
gây bệnh trên heo như các serotype 1, 2, 1/2, 3,
7, 8, 9, 14.
Thêm vào đó, có thể phát hiện một hoặc nhiều
kiểu serotype S. suis trên cùng một mẫu swab
hầu họng. Tần số xuất hiện các serotype của S.
suis trên heo ở hộ quy mô ≤ 200 (38,66 %) thấp
hơn so với hộ quy mô >200 con (61,34%) với P
< 0,05; trong đó, hai serotype 1/2 và 2 chỉ xuất
hiện ở hộ quy mô > 200 con. Về nhóm heo, tần
số xuất hiện các serotype của S. suis trên nhóm
heo nái (35,78 %) thấp hơn so với nhóm heo con
(64,22 %) với P < 0,05; trong đó, 3 serotype 1/2,
2 và 31 đều xuất hiện trên cả 2 nhóm heo, đặc
biệt là heo nái. Do đó, cần chú ý đến sự hiện diện
của 3 serotype 1/2, 2, 31 trong đàn heo có biểu
hiện lâm sàng của bệnh liên cầu khuẩn vì đây có
thể là nguy cơ lây truyền mầm bệnh sang người.
3.2. Xác định gen gây độc
Trên cùng một serotype S. suis có thể phát
hiện 1 hoặc nhiều kiểu gen gây độc khác nhau
(hình 1). Tuy nhiên, không tìm thấy gen gây độc
của các S. suis ở những mẫu swab hầu họng heo
được thu thập từ nhóm hộ có heo không biểu
hiện lâm sàng của bệnh liên cầu khuẩn. Tuy
nhiên, đối với hộ heo có biểu hiện lâm sàng,
tỷ lệ mẫu dương tính với gen gây độc chiếm
40,78%, kết quả được trình bày ở bảng 3.
Bảng 3. Kết quả xác định gen gây độc (n = 206)
Kiểu gen Serotype Số mẫu dương tính Tỷ lệ (%)
sly+/mrp+/sspA+/ssnA+
2 6 2,91
8 3 1,46
11 6 2,91
16 3 1,46
23 3 1,46
sly+/sspA+/ssnA+ 5 4 1,94
mrp+/sspA+/ssnA+
5 5 2,43
8 2 0,97
16 3 1,46
1/2 6 2,91
ssnA+/sspA+
8 4 1,94
9 6 2,91
16 3 1,46
21 3 1,46
31 6 2,91
sspA+
21 12 5,83
5+21 9 4,37
Tổng cộng 84 40,78
52
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 1 - 2019
Qua bảng 3 cho thấy, có thể phát hiện đồng
thời 4 gen gây độc (sly+/mrp+/sspA+/ssnA+)
trên các serotype S. suis 2, 8, 11, 16, 23; hoặc
gen gây độc (mrp+/sspA+/ssnA+) trên serotype
S. suis 8, 16; hoặc serotype S. suis 5 cùng lúc
phát hiện 3 kiểu gen quy định yếu tố gây độc
khác nhau trên mẫu khác nhau (sly+/sspA+/
ssnA+ hoặc mrp+/sspA+/ssnA+). Các nghiên
cứu y học gần đây cho biết, S. suis serotype 2
thường là tác nhân chính gây bệnh viêm màng
não mủ cấp trên người (Ho Dang Trung và ctv,
2012). S. suis serotype 1/2 là mẫu cho kết quả
dương tính với phản ứng ngưng kết kháng huyết
thanh đặc hiệu cho cả serotype 1 và serotype 2
(Higgins và ctv, 1995). Theo kết quả của nhiều
nghiên cứu, các serotype 1/2, 2, 31 là những
serotype có khả năng gây bệnh nghiêm trọng
trên heo và truyền lây sang người (Gottschalk
và ctv, 2010; Rujirat và ctv, 2015).
3.3. Phân tích yếu tố nguy cơ nhiễm S. suis
Bằng phương pháp nghiên cứu bệnh-chứng
(case-control study), những thông tin thu thập
từ hộ có heo bệnh liên cầu khuẩn (hộ) và 15
hộ không có heo bệnh liên cầu khuẩn (S. suis
không mang gen gây độc) được tổng hợp, mã
hóa bằng phần mềm Microsoft Excel 2013 và
phân tích đơn biến để xác định yếu tố nguy cơ.
Kết quả được trình bày qua bảng 4.
Qua bảng 4 cho thấy, hộ có quy mô heo cai
sữa >100 con sẽ làm tăng nguy cơ heo mắc bệnh
liên cầu khuẩn với OR= 11 (P < 0,05). Điều này
cũng phù hợp với nghiên cứu của Ream và ctv
(1996) và Cloutier và ctv (2003), các tác giả
này cho rằng hộ nuôi heo cai sữa càng nhiều thì
nguy cơ bệnh liên cầu khuẩn trên heo càng cao.
Trong phân tích này, biến tiêu độc khử trùng
chuồng nuôi heo cai sữa trước khi chuyển đàn
với OR = 0,13 đã cho thấy, nếu chủ nuôi thực
hiện việc tiêu độc khử trùng chuồng nuôi heo
cai sữa trước khi chuyển đàn thì sẽ làm giảm
thấp nguy cơ bệnh liên cầu khuẩn xảy ra trên
heo; và ngược lại (P < 0,05). Kết quả này cũng
phù hợp với nghiên cứu của Michel Dione và
ctv (2018) cho rằng, khi thực hiện vệ sinh, tiêu
độc khử trùng, tỷ lệ heo nhiễm S. suis sẽ giảm
đáng kể với OR = 0,15 (P = 0,017). Bên cạnh
đó, việc tận dụng chất thải từ chăn nuôi heo
không qua xử lý trực tiếp bón cho cây trồng tại
trại cũng sẽ làm tăng nguy cơ heo mắc bệnh liên
cầu khuẩn với OR = 9,75 (P< 0,05), do S. suis
có thể tồn tại 24 giờ trong bụi và 8 ngày trong
phân, đã tạo điều kiện cho việc phát tán và lây
truyền mầm bệnh trong môi trường.
Hình 1. Điện di gen gây độc mrp, sly, ssnA và sspA của S. suis
(+) Đối chứng dương, (-) Đối chứng âm,
M: Thang đo; 10, 11, 21, 22: Mẫu DNA của các chủng S. suis được phân lập
53
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 1 - 2019
Bảng 4. Kết quả phân tích đơn biến xác định yếu tố nguy cơ
STT Tên biến
Hộ có heo bệnh
(n=15)
Hộ không có heo
bệnh (n=15)
Tổng OR P
1 Quy mô heo cai sữa 0,0092
Có (>100 con) 12 4 16 11,00
Không ( ≤ 100 con) 3 11 14
2 Chất thải từ chăn nuôi heo trực tiếp bón cho cây trồng tại trại 0,0209
Có 13 6 19 9,75
Không 2 9 11
3 Có tiêu độc khử trùng chuồng heo cai sữa trước khi chuyển đàn 0,0253
Có 3 10 13 0,13
Không 12 5 17
4 Xử lý heo chết đúng kỹ thuật 0,2635
Có 7 11 18 0,32
Không 8 4 12
5 Nhập heo trong vòng 21 ngày 0,2635
Có 8 4 12 3,14
Không 7 11 18
6 Phương tiện vận chuyển vào trại trong vòng 21 ngày 0,2635
Có 11 7 18 3,14
Không 4 8 12
7 Sử dụng nguồn nước giếng tầng nông cho heo uống 0,3898
Có 13 10 23 3,25
Không 2 5 7
8 Quy mô heo nái 0,4497
Có (>20 con) 4 7 11 0,42
Không ( ≤ 20 con) 11 8 19
9 Tiêm phòng dịch tả heo 0,4828
Có 13 15 28 0,00
Không 2 0 2
10 Thú y tham gia điều trị 0,6513
Có 13 11 24 2,36
Không 2 4 6
11 Tiêm phòng tai xanh 0,6817
Có 10 12 22 0,50
Không 5 3 8
12 Thức ăn hỗn hợp 0,6999
Có 6 4 10 1,83
Không 9 11 20
13 Chất thải từ chăn nuôi heo được xử lý qua hệ thống biogas 0,6999
Có 11 9 20 1,83
Không 4 6 10
14 Tập cho heo con ăn sớm (trước 10 ngày) 1,0000
Có 3 4 7 0,69
Không 12 11 23
15 Chất thải từ chăn nuôi heo thoát trực tiếp vào nguồn nước công cộng 1,0000
Có 1 1 2 1,00
Không 14 14 28
54
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 1 - 2019
IV. KẾT LUẬN
Trên cùng 1 mẫu có thể phát hiện nhiều
serotype S. suis (đơn hoặc ghép). Các S. suis
serotype 1, 1/2, 2, 3, 5, 7, 8, 9, 11, 14, 16, 21,
23, 30 và 31 chỉ phát hiện được trên heo thuộc
nhóm hộ có heo biểu hiện lâm sàng liên quan
đến S. suis.
Trên cùng serotype S. suis có thể phát hiện
1 hoặc nhiều kiểu gen quy định yếu tố gây độc
khác nhau. Các serotype S. suis 1/2, 2, 31 có từ
2 kiểu gen quy định yếu tố gây độc trở lên.
Quy mô heo cai sữa >100 con; tiêu độc khử
trùng chuồng heo cai sữa trước khi chuyển đàn;
sử dụng chất thải từ chăn nuôi heo trực tiếp bón
cho cây trồng là yếu tố nguy cơ chính liên quan
đến bệnh liên cầu khuẩn trên heo.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Cloutier G., et al. 2003. Epidemiology of
Streptococcus suis serotype 5 infection in a
pig herd with and without clinical disease.
Vet Microbiol, 97, 135 – 151
2. Gottschalk, M., and M. Segura., 2000. The
pathogenesis of the meningitis caused by
Streptococcus suis: the unresolved questions.
Vet Microbiol 76:259-272.
3. Halaby T., Hupperts R., Spanjaard L.,
Luirink M., Jacobs J., 2000. Streptococcus
suis meningitis, a poacher’s risk. J Clin
Microbiol Infect Dis, 19 (12), 943-935.
4. Higgins R., et al. 1995. Description of six
new capsular types (29-34) of Streptococcus
suis, J Vet Diagn Invest, 7(3), pg: 405-406.
5. Ho Dang Trung N, Le Thi Phuong T, Wolbers
M, Nguyen Van Minh H, Nguyen Thanh V,
Van MP, Thieu NT, Van TL, Song DT, Thi
PL, Thi Phuong TN, Van CB, Tang V, Ngoc
Anh TH, Nguyen D, Trung TP, Thi Nam
LN, Kiem HT, Thi Thanh TN, Campbell J,
Caws M, Day J, de Jong MD, Van Vinh CN,
Van Doorn HR, Tinh HT, Farrar J,Schultsz
C. 2012. Aetiologies of central nervous
system infection in Viet Nam: a prospective
provincial hospital-based descriptive
surveillance study. PLoS One 7(5): e37825.
6. Michel D., et al.2018. The importance of-
on farm biosecurity: Sero-prevalence and
risk factors of bacterial and viral pathogens
in smallholder pig systems in Uganda. Acta
Tropica 187 (2018): p.212-221
7. Ngo TH, Tran TB, Tran TT, Nguyen VD,
Campbell J, Pham HA, Huynh HT, Nguyen
VV, Bryant JE, Tran TH, Farrar J, Schultsz
C (2011). Slaughterhouse pigs are a major
reservoir of Streptococcus suis serotype
2 capable of causing human infection in
southern Vietnam. PLoS One 6(3): e17943.
8. Ream, RY., et al. 1996. Multiple serotypes
and strains of Streptococcus suis in naturally
infected swine herds. J Vet Diagn Invest,
8(1): p. 119-21.
9. Rujirat H., Anusak K., Marcelo G., Dan T.,
Shigeyuki O. and Yukihiro A., 2015. First
human case report of sepsis due to infection
with Streptococcus suis serotype 31 in
Thailand. BMC infectious diseases 15, pg:
392.
10. Torremorell, M., M Calsamiglia., and C.
Pijoan., 1998. Colonization of suckling
pigs by Streptococcus suis with particular
reference to pathogenic serotype 2 strains.
Can J Vet Res, 62(1): p. 21-6.
Ngày nhận 28-8-2018
Ngày phản biện 2-10-2018
Ngày đăng 1-1-2019
Các file đính kèm theo tài liệu này:
xac_dinh_cac_streptococcus_suis_serotype_tren_dan_heo_nuoi_t.pdf