Xác định hàm lượng Polyphenol, Flavonoid và hoạt tính kháng oxy hóa của cao chiết từ vạn thọ (tagetes erecta L) hoa vàng và hoa cam

KẾT LUẬN Vạn thọ (Tagetes erecta L.) thuộc 2 giống hoa vàng và hoa cam có chứa lượng đáng kể hàm lượng polyphenol và flavonoid, trong đó nhiều nhất là mẫu cao chiết bằng dung môi ethanol 70% của giống Vạn thọ hoa vàng (V70) với hàm lượng lần lượt là 88,41 ± 1,70 mg GA/g dược liệu khô và 32,91 ± 0,62 mg QE/g dược liệu khô. Bốn loại cao chiết từ bộ phận trên mặt đất của Vạn thọ thể hiện hoạt tính kháng oxy hóa rõ rệt, mẫu cao chiết V70 cho tác dụng kháng oxy hóa tốt nhất (IC50 = 114,741 ± 0,957 μg/mL), tiếp sau đó là các mẫu cao V96, C96, C70 với các giá trị IC50 lần lượt là 138,299 ± 0,814 μg/mL; 141,253 ± 2,067 μg/mL và 143,612 ± 1,315 μg/mL. Hàm lượng polyphenol và flavonoid ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt tính kháng oxy hóa của các mẫu cao chiết từ Vạn thọ. Theo đó, hàm lượng các hợp chất polyphenol và flavonoid càng cao, hoạt tính kháng oxy hóa càng mạnh. Đề nghị tiếp tục sử dụng các mẫu cao chiết để khảo sát các hoạt tính sinh học khác như kháng α – glucosidase, gây độc tế bào ung thư, kháng viêm, kháng khuẩn. Hướng tới việc điều chế cao phân đoạn, sản xuất các sản phẩm chức năng từ Vạn thọ, thiết lập công thức trà dược liệu từ Vạn thọ.

pdf11 trang | Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 6 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Xác định hàm lượng Polyphenol, Flavonoid và hoạt tính kháng oxy hóa của cao chiết từ vạn thọ (tagetes erecta L) hoa vàng và hoa cam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô Số 08- 2020 188 XÁC ĐỊNH HÀM LƯỢNG POLYPHENOL, FLAVONOID VÀ HOẠT TÍNH KHÁNG OXY HÓA CỦA CAO CHIẾT TỪ VẠN THỌ (TAGETES ERECTA L.) HOA VÀNG VÀ HOA CAM Nguyễn Trọng Tường, Huỳnh Duy Khang, Nguyễn Minh Quang Học, Trì Kim Ngọc và Huỳnh Ngọc Trung Dung* Khoa Dược - Điều Dưỡng, Trường Đại học Tây Đô (Email: hntdung@tdu.edu.vn) Ngày nhận: 13/01/2020 Ngày phản biện: 03/3/2020 Ngày duyệt đăng: 17/4/2020 TÓM TẮT Nghiên cứu nhằm đánh giá hàm lượng polyphenol và flavonoid toàn phần cũng như hoạt tính kháng oxy hóa của các mẫu cao chiết khác nhau từ hai giống Vạn thọ (Tagetes erecta L.) hoa vàng (VTHV) và hoa cam (VTHC). Hàm lượng polyphenol toàn phần được xác định bằng phương pháp Folin-Ciocalteu, hàm lượng flavonoid được xác định bằng phương pháp Aluminium chloride colorietric và hoạt tính kháng oxy hóa được đánh giá in vitro thông qua phương pháp đánh bắt gốc tự do DPPH (1,1-Diphenyl-2-picryl hydrazyl). Hàm lượng polyphenol toàn phần của các mẫu cao chiết dao động từ 39,44 đến 88,41 (mg GA/g dược liệu khô) và hàm lượng flavonoid toàn phần ở khoảng từ 20,00 đến 37,92 (mg QE/g dược liệu khô). Các mẫu cao chiết bằng dung môi ethanol 70% chứa hàm lượng lớn polyphenol và flavonoid toàn phần. Mẫu cao chiết từ VTHV bằng dung môi ethanol 70% đạt được hiệu suất kháng oxy hóa mạnh nhất với IC50 = 114,741 µg/mL. Có sự tương quan thuận giữa hàm lượng polyphenol toàn phần và hàm lượng flavonoid toàn phần (hệ số tương quan r = 0,902), ngoài ra hàm lượng polyphenol toàn phần có tương quan nghịch với IC50 của DPPH (r = - 0,60). Hàm lượng polyphenol toàn phần trong mẫu cao chiết càng cao, khả năng kháng oxy hóa của mẫu cũng sẽ cao, kết quả thể hiện qua mẫu cao chiết của dược liệu VTHV chiết với dung môi ethanol 70%. Từ khóa: Flavonoid, kháng oxy hóa, polyphenol, Vạn thọ hoa vàng, Vạn thọ hoa cam Trích dẫn: Nguyễn Trọng Tường, Huỳnh Duy Khang, Nguyễn Minh Quang Học, Trì Kim Ngọc và Huỳnh Ngọc Trung Dung, 2020. Xác định hàm lượng Polyphenol, Flavonoid và hoạt tính kháng oxy hóa của cao chiết từ vạn thọ (Tagetes erecta L.) hoa vàng và hoa cam. Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô. 08: 188-198. *Ths. Huỳnh Ngọc Trung Dung – Giảng viên Khoa Dược & Điều dưỡng, Trường Đại học Tây Đô Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô Số 08- 2020 189 1. GIỚI THIỆU Polyphenol nói chung và flavonoid nói riêng là những nhóm hợp chất chính trong thành phần hóa học của các loài thực vật và hoa trái. Các hợp chất này có hoạt tính sinh học nổi trội, có tác động tích cực lên sức khỏe con người như kháng oxy hóa, ngăn chặn sự hình thành của các gốc oxy đơn phân tử, kiểm soát sự tăng sinh các tế bào ung thư cũng như bệnh tật của con người (Ali and Neda, 2011). Vạn thọ (Tagetes erecta L.) là loại cây truyền thống và khá phổ biến ở Việt Nam với 2 giống chủ yếu là Vạn thọ hoa vàng (VTHV) và Vạn thọ hoa cam (VTHC). Các nghiên cứu về cây Vạn thọ trên thế giới hướng đến khảo sát hàm lượng các hợp chất polyphenol và flavonoid chứa trong cây (Li et al., 2007; Kaisoon et al., 2012; Siriamo- rnpun et al., 2012; Gong et al., 2012; Phrutivora-pongkul et al., 2013); đồng thời, cũng chứng minh các hoạt tính sinh học có lợi cho sức khỏe con người, đặc biệt là hoạt tính kháng oxy hóa của Vạn thọ (Chivde et al., 2011; Wang et al., 2016; Ayub et al., 2017). Mục tiêu nghiên cứu của đề tài nhằm đánh giá hàm lượng polyphenol và flavonoid toàn phần cũng như hoạt tính kháng oxy hóa của các mẫu cao chiết khác nhau từ hai giống Vạn thọ (Tagetes erecta L.) VTHV và VTHC. 2. PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. Chuẩn bị nguyên liệu Dược liệu bộ phận trên mặt đất (toàn cây có hoa, bỏ rễ) Vạn thọ (Tagetes erecta L.) thuộc hai giống VTHV và VTHC được trồng hoàn toàn tự nhiên và thu hái từ tháng 8 tới tháng 12 năm 2019 tại huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp. Căn cứ vào các đặc điểm hình thái giống với mô tả của các tài liệu tham khảo (Phạm Hoàng Hộ, 2003), xác định đúng loài, được phơi khô, xay thành bột, thu được 2 mẫu bột dược liệu, lưu lại ở bộ môn Sinh Hóa, trường Đại học Tây Đô. Sử dụng 100 g của mỗi mẫu bột dược liệu (VTHV, VTHC) chiết xuất bằng phương pháp ngâm lạnh với dung môi ethanol 70% và 96% trong 72 giờ, mỗi lần chiết với một lượng dung môi vừa đủ, đến khi thử vết dịch chiết bốc hơi trên mặt kính đồng hồ không còn vết mờ, tổng lượng dung môi chiết của mỗi mẫu thu được là khoảng 3 L. Cô quay dịch chiết dưới áp suất giảm ở 40 oC thu được 4 mẫu cao toàn phần VTHV – dung môi ethanol 96%; VTHV – dung môi ethanol 70%; VTHC – dung môi ethanol 96% và VTHC – dung môi ethanol 70%, được ký hiệu lần lượt là V96, V70, C96, C70 (Nguyễn Kim Phi Phụng, 2007). Các mẫu cao sau đó được sử dụng để khảo sát hàm lượng polyphenol, flavonoid và thử nghiệm hoạt tính kháng oxy hóa. 2.2. Dung môi, hóa chất, thuốc thử Ethanol 70%, ethanol 96%, methanol, DPPH (1,1-diphenyl-2-picrylhydrazyl) ( Sigma), acid ascorbic (Vitamin C) (Sigma, USA), quercetin (Sigma, USA), acid gallic (Sigma, USA), Folin- Ciocalteu (Sigma, USA), AlCl3, NaOH, NaNO2, Na2CO3, H2O. Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô Số 08- 2020 190 2.3. Khảo sát hàm lượng flavonoid và polyphenol trong các mẫu cao toàn phần 2.3.1. Khảo sát hàm lượng polyphenol Hàm lượng polyphenol được xác định bằng phương pháp Folin – Ciocalteu (Waterman and Mole, 1994). Trong thành phần thuốc thử Folin – Ciocalteu có phức hợp phospho – wolfarm – phosphomolybdat. Phức hợp này sẽ bị khử các hợp chất polyphenol tạo thành sản phẩm phản ứng có màu xanh dương, hấp thu cực đại ở bước sóng 758 nm. Hàm lượng polyphenol có trong mẫu tỉ lệ thuận với cường độ mẫu và được tính theo acid gallic. Dùng methanol pha loãng bốn mẫu cao chiết (C96, V96, C70, V70) thành các dung dịch có nồng độ 1.000 µg/mL và chất chuẩn acid gallic thành các nồng độ 10, 20, 30, 40, 50, 60 µg/mL; pha loãng thuốc thử Folin – Ciocalteu 10% bằng nước cất. Lần lượt cho 1 mL mẫu cần định lượng hoặc dung dịch acid gallic chuẩn vào bình định mức 10 mL đã có sẵn 6 mL nước cất, lắc đều sau đó thêm tiếp 0,5 mL thuốc thử Folin – Ciocalteu, lắc đều và để yên. Sau 5 phút thêm tiếp 1,5 mL Na2CO3 20%. Lắc đều, thêm nước cất để đạt thể tích 10 mL. Để yên trong tối 2 giờ sau đó đo độ hấp thu ở bước sóng 758 nm. Thí nghiệm được lặp lại 3 lần, giá trị hấp thu quang phổ (Abs) được ghi nhận để tiến hành vẽ đường thẳng hiệu chuẩn xác định hàm lượng polyphenol toàn phần trong các mẫu cao chiết. Hàm lượng polyphenol toàn phần chứa trong mẫu cao chiết được đo lường bằng hàm lượng acid gallic đương lượng (GA) và được tính bằng công thức: P = 𝑎 𝑥 𝑉 𝑚 x N x H Trong đó: F: Hàm lượng polyphenol toàn phần (mg GA/g dược liệu khô) a: Giá trị x từ đường chuẩn acid gallic (µg/mL) V: Thể tích dịch chiết (mL) m: Khối lượng cao chiết có trong thể tích (g) N: Độ ẩm cao chiết H: Hiệu suất chiết cao 2.3.2. Khảo sát hàm lượng flavonoid Hàm lượng flavonoid toàn phần được xác định bằng phương pháp Aluminum Chloride colorimetric (AlCl3) (Zhishen et al., 1999; Marinova et al., 2005). Dùng methanol pha loãng 4 mẫu cao chiết để đạt nồng độ 1.000 µg/mL và dung dịch flavonoid chuẩn quercetin đạt các nồng độ 10, 20, 40, 60, 80 µg/mL. Các dung dịch hóa chất NaNO2 5%, AlCl3 10%, NaOH 1M được pha loãng bằng nước cất. Cho vào bình định mức 10 mL (đã có chứa 4 mL nước cất) 1 mL thể tích mẫu cần định lượng hoặc chất chuẩn quercetin. Thêm tiếp vào bình định mức trên 0,3 mL NaNO2 5%. Sau 5 phút, cho thêm vào 0,3 mL AlCl3 10%. Sau 6 phút, cho tiếp vào 2 mL NaOH 1M, lắc đều, định mức lên thể tích 10 mL. Sau đó tiến hành đo độ hấp thu ở bước sóng 510 nm. Thí nghiệm được lặp lại 3 lần, giá trị Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô Số 08- 2020 191 Abs được ghi nhận và tiến hành vẽ đường thẳng hiệu chuẩn để sử dụng xác định hàm lượng polyphenol toàn phần trong các mẫu cao chiết. Hàm lượng flavonoid toàn phần chứa trong mẫu cao chiết được đo lường bằng hàm lượng quercetin đương lượng (QE) và được tính bằng công thức: F = 𝑐 𝑥 𝑉 𝑚 x N x H Trong đó: F: Hàm lượng flavonoid toàn phần (mg QE/g dược liệu khô) c: Giá trị x từ đường chuẩn quercetin (mg/mL) V: Thể tích dịch chiết (mL) m: Khối lượng cao chiết có trong thể tích (g) N: Độ ẩm của cao chiết H: Hiệu suất chiết cao 2.4. Khảo sát hoạt tính kháng oxy hóa trên cao toàn phần Hoạt tính kháng oxy hóa được khảo sát bằng phương pháp đánh bắt gốc tự do DPPH (Blois, 1958; Chanda and Dave, 2009). Dung dịch DPPH nồng độ 0,6 mM, các mẫu cao chiết nồng độ 25; 50; 100; 200 µg/mL, đối chứng dương acid ascorbic nồng độ 10; 20; 30; 40 µg/mL được pha loãng bằng methanol. Lần lượt cho 0,5 mL dung dịch thử (nồng độ 25 – 200 µg/mL) vào ống nghiệm đã có sẵn 3 mL MeOH, tiếp theo đó là 0,5 mL dung dịch DPPH 0,6 mM. Đối với mẫu đối chứng thì thay dung dịch thử bằng MeOH, ống nghiệm của mẫu trắng chỉ chứa MeOH. Các ống nghiệm sau khi pha được ủ trong tối ở nhiệt độ phòng 30 phút, sau đó đo độ hấp thu ở bước sóng 517 nm. Hoạt tính kháng oxy hóa (%) = ( 𝐴𝑐−𝐴𝑡) 𝐴𝑐 x 100 Trong đó: Ac: Giá trị hấp thu quang phổ của mẫu đối chứng At: Giá trị hấp thu quang phổ của mẫu thử Từ kết quả tính được và nồng độ mẫu, xây dựng phương trình đường thẳng tuyến tính giữa nồng độ mẫu thử và hoạt tính kháng oxy hóa để tính IC50. Giá trị IC50 càng thấp tương ứng với hoạt tính kháng oxy hóa càng cao và ngược lại. Các số liệu kết quả thử nghiệm được biểu thị trung bình của 3 lần đo khác nhau. 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1. Hàm lượng polyphenol toàn phần và flavonoid toàn phần Sau khi chiết xuất và cô dịch chiết, thu được 4 mẫu cao chiết có độ ẩm và hiệu suất chiết thể hiện trong Bảng 1. Bảng 1. Độ ẩm cao chiết và hiệu suất chiết cao Mẫu Độ ẩm (%) Hiệu suất (%) C96 10,08 15,23 V96 9,89 13,77 C70 11,56 29,54 V70 12,65 31,11 Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô Số 08- 2020 192 Kết quả hàm lượng polyphenol toàn phần và flavonoid toàn phần của các mẫu cao chiết được thể hiện ở Bảng 2. Bảng 2. Hàm lượng polyphenol toàn phần và flavonoid toàn phần trong các mẫu cao chiết Mẫu cao chiết Hàm lượng flavonoid toàn phần (mg QE/g dược liệu khô)(1) Hàm lượng polyphenol toàn phần (mg GA/g dược liệu khô)(2) C96 21,65 ± 0,57(a) 40,27 ± 2,10(a) V96 20,00 ± 0,21(a) 39,44 ± 0,42(a) C70 37,92 ± 1,15(b) 76,89 ± 0,51(b) V70 32,91 ± 0,62(b) 88,41 ± 1,70(c) (1): Các giá trị được xác định dựa vào phương trình đường chuẩn của quercetin (y = 0,000748x + 0,002083; r2 = 0,999). (2): Các giá trị được xác định dựa vào phương trình đường chuẩn của acid gallic (y = 0,006443x – 0,001794; r2 = 0,998). Trong cùng một cột, các số trung bình theo sau bởi một hoặc những chữ cái giống nhau thì khác biệt không có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 5% bằng phép thử Tukey. Hàm lượng polyphenol toàn phần của các mẫu cao chiết dao động từ 39,44 đến 88,41 mg GA/g dược liệu khô. Mẫu cao chiết V70 có hàm lượng polyphenol toàn phần lớn nhất là (115,88 ± 2,23 mg GA/g dược liệu khô) gấp hơn 2 lần các cao chiết C96, V96. Hàm lượng flavonoid toàn phần của bốn mẫu cao chiết dao động trong khoảng từ 20,00 đến 37,92 mg QE/g dược liệu khô, cao nhất là mẫu cao chiết C70 (37,92 ± 1,15 mg QE/g dược liệu khô) cao gần 2 lần các mẫu C96 và V96. Các mẫu cao chiết bằng dung môi ethanol 70% cho kết quả hàm lượng polyphenol toàn phần và flavonoid cao hơn các mẫu cao chiết bằng dung môi ethanol 96%. Kết quả này tương tự với nghiên cứu của Gong et al., 2012, khi khảo sát hàm lượng polyphenol toàn phần và flavonoid toàn phần trên các mẫu cao chiết bằng các dung môi nước cất, ethanol 30%, ethanol 50%, ethanol 70% và ethanol nguyên chất. Trong đó hàm lượng polyphenol toàn phần và flavonoid toàn phần trong các mẫu cao chiết từ ethanol 70% lần lượt là 97,00 ± 2,21 (mg GA/g dược liệu khô) và 62,33 ± 1,81 (mg QE/g dược liệu khô) cao hơn các mẫu cao còn lại. Tương tự, nghiên cứu của Sultana et al., 2009, khảo sát ảnh hưởng của các loại dung môi chiết khác nhau (methanol nguyên chất, ethanol nguyên chất, methanol 80%, ethanol 80%) với hai phương pháp chiết khác nhau đến hàm lượng polyphenol toàn phần của các loại dược liệu khác nhau. Kết quả cho thấy dung môi ethanol 80% và methanol 80% thu được hàm lượng polyphenol toàn phần cao hơn ethanol và methanol nguyên chất ở cả 2 phương pháp chiết. Hàm lượng polyphenol toàn phần được xác định từ cao chiết bằng dung môi ethanol 70% cao hơn dung môi ethanol 96%, cho thấy hàm lượng này Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô Số 08- 2020 193 trong dược liệu Vạn thọ phụ thuộc vào loại dung môi chiết xuất, cụ thể là độ phân cực của dung môi. Dung môi có độ phân cực càng cao, hàm lượng polyphenol toàn phần chiết được càng nhiều (Mohsen and Ammar, 2008; Anwar et al., 2013). Tuy nhiên, nghiên cứu của Jagtap and Bapat, 2012 lại cho thấy điều ngược lại, dung môi aceton có độ phân cực thấp hơn dung môi nước và methanol lại cho thấy khả năng chiết được nhiều polyphenol hơn. Sự khác biệt này có thể xuất phát từ sự khác nhau về cấu trúc hóa học của từng loại polyphenol và flavonoid có trong thực vật cũng như độ phân cực cụ thể của chúng trong các dung môi hữu cơ khác nhau. 3.2. Hoạt tính kháng oxy hóa Kết quả hoạt tính kháng oxy hóa thể hiện qua giá trị IC50 của các mẫu cao chiết được thể hiện ở Bảng 3. Bảng 3. Khả năng đánh bắt 50% gốc tự do DPPH (IC50) của các mẫu cao chiết Mẫu cao chiết IC50 (µg/mL) C96 141,253 ± 2,067(a) V96 138,299 ± 0,814(a) C70 143,612 ± 1,315(a) V70 114,741 ± 0,957(b) Acid ascorbic 20,907 ± 0,149(c) *Ghi chú: Trong cùng một cột, các số trung bình theo sau bởi một hoặc những chữ cái giống nhau thì khác biệt không có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 5% bằng phép thử Tukey. Cả 4 mẫu cao chiết C96, V96, C70 và V70 đều thể hiện hoạt tính kháng oxy hóa với các giá trị IC50 lần lượt là 141,253 ± 2,067 μg/mL; 138,299 ± 0,814 μg/mL; 143,612 ± 1,315 μg/mL; 114,741 ± 0,957 μg/mL, trong đó, mẫu V70 với giá trị IC50 nhỏ nhất (114,741 ± 0,957 μg/mL) là mẫu cao chiết cho khả năng kháng oxy hóa tốt nhất trong thí nghiệm này, thấp hơn đối chứng dương là acid ascorbic 5,50 lần và cao hơn các mẫu cao chiết còn lại khoàng 1,25 lần. Các mẫu cao chiết C96, V96, C70 có hoạt tính kháng oxy hóa tương đương nhau (p < 0,05). Dung môi ethanol 70% chiết xuất cao chiết dược liệu Vạn thọ sẽ cho kết quả kháng oxy hóa mạnh hơn so với dung môi ethanol 96%. Kết quả này tương tự với nghiên cứu của Gong et al, 2012, khi thử hoạt tính kháng oxy hóa bằng 2 phương pháp: DPPH và FRAP (Ferric ion Reducing Antioxidant Power, khử ion sắt III, đối chứng dương là Trolox) trên các mẫu cao chiết với các độ phân cực khác nhau (nước cất, ethanol 30%, ethanol 50%, ethanol 70%, ethanol nguyên chất) từ cánh hoa vủa Vạn thọ, kết quả ở 2 phương pháp đều giống nhau, mẫu cao chiết bằng ethanol 70% có hoạt tính kháng oxy hóa mạnh nhất. Nghiên cứu của Addai et al., 2013, trên Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô Số 08- 2020 194 2 giống Đu đủ (Hongkong và Eksotika) về ảnh hưởng của dung môi chiết và phương pháp chiết lên hoạt tính kháng oxy hóa cũng cho kết quả tương tự. Theo đó các mẫu cao chiết bằng dung môi ethanol 70% thể hiện hoạt tính kháng oxy hóa vượt trội hơn mẫu chiết bằng dung môi ethanol nguyên chất ở cả 3 phương pháp thử khác nhau. Một số nghiên cứu cũng cho kết quả tương tự về hoạt tính kháng oxy hóa của các mẫu cao chiết bằng dung môi ethanol 70% vượt trội hơn so với chiết bằng dung môi ethanol có độ phân cực thấp hơn (Zhou and Yu, 2004; Musa et al., 2011). Sự tương quan giữa hàm lượng polyphenol, flavonoid và giá trị IC50 của các mẫu cao chiết được phân tích bằng phép so sánh Pearson, kết quả thể hiện ở Bảng 4. Bảng 4. Tương quan giữa hàm lượng polyphenol, flavonoid và IC50 của các mẫu cao chiết thông qua phép so sánh tương quan Pearson Hệ số tương quan Pearson (r) Flavonoid Polyphenol IC50 Flavonoid 1 0,902** -0,218 Polyphenol 0,902** 1 -0,603* IC50 -0,218 -0,603 * 1 **. Tương quan có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 0,01 *. Tương quan có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 0,05 Hàm lượng polyphenol và flavonoid tương quan thuận có ý nghĩa thống kê (r = 0,90) ở mức ý nghĩa 0,01. Nghĩa là, hàm lượng polyphenol trong dược liệu tỉ lệ thuận với hàm lượng flavonoid. Kết quả hàm lượng polyphenol và IC50 tương quan nghịch có ý nghĩa thống kê (r = -0,60), nghĩa là hàm lượng polyphenol trong dược liệu càng tăng thì IC50 càng giảm; đồng thời khả năng kháng oxy hóa càng cao, hoặc hàm lượng polyphenol tỉ lệ thuận với khả năng kháng oxy hóa. Từ phép so sánh trên, có thể nhận định, hàm lượng polyphenol, flavonoid trong Vạn thọ ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng kháng oxy hóa của các mẫu cao chiết. Kết quả này cũng tương tự với nghiên cứu của Dhar et al., (2017) trên hai loại quả Artocarpus chaplasha (một loài thuộc chi Mít) và Carissa carandas (Cây Si rô), kết quả cho thấy hàm lượng polyphenol trong các mẫu có mối tương quan thuận với khả năng kháng oxy hóa (với hệ số tương quan lần lượt là r = 0,88 và r = 0,93). Một số nghiên cứu khác trước đó cũng chỉ ra rằng có sự tương quan thuận giữa hàm lượng polyphenol toàn phần và hoạt tính kháng oxy hóa (Yu et al., 2005; Turkmen et al., 2006). 4. KẾT LUẬN Vạn thọ (Tagetes erecta L.) thuộc 2 giống hoa vàng và hoa cam có chứa lượng đáng kể hàm lượng polyphenol và Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô Số 08- 2020 195 flavonoid, trong đó nhiều nhất là mẫu cao chiết bằng dung môi ethanol 70% của giống Vạn thọ hoa vàng (V70) với hàm lượng lần lượt là 88,41 ± 1,70 mg GA/g dược liệu khô và 32,91 ± 0,62 mg QE/g dược liệu khô. Bốn loại cao chiết từ bộ phận trên mặt đất của Vạn thọ thể hiện hoạt tính kháng oxy hóa rõ rệt, mẫu cao chiết V70 cho tác dụng kháng oxy hóa tốt nhất (IC50 = 114,741 ± 0,957 μg/mL), tiếp sau đó là các mẫu cao V96, C96, C70 với các giá trị IC50 lần lượt là 138,299 ± 0,814 μg/mL; 141,253 ± 2,067 μg/mL và 143,612 ± 1,315 μg/mL. Hàm lượng polyphenol và flavonoid ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt tính kháng oxy hóa của các mẫu cao chiết từ Vạn thọ. Theo đó, hàm lượng các hợp chất polyphenol và flavonoid càng cao, hoạt tính kháng oxy hóa càng mạnh. Đề nghị tiếp tục sử dụng các mẫu cao chiết để khảo sát các hoạt tính sinh học khác như kháng α – glucosidase, gây độc tế bào ung thư, kháng viêm, kháng khuẩn. Hướng tới việc điều chế cao phân đoạn, sản xuất các sản phẩm chức năng từ Vạn thọ, thiết lập công thức trà dược liệu từ Vạn thọ. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Addai, Z.R., Abdullah, A. and Mutalib, S.A., 2013. Effect of extraction solvents on the phenolic content and antioxidant properties of two papaya cultivars. Journal of Medicinal Plants Research. Vol. 7(47), pp. 3354-3359. 2. Ali, G. and Neda, G., 2011. Flavonoids and phenolic acids: Role and biochemical activity in phants and human. Journal of Medicinal Plants Research. Vol. 5(31), pp. 6697-6703. 3. Anwar, F., Kalsoom, U., Sultana, B., Mushtaq, M., Mehmood, T. and Arshad, H.A., 2013. Effect of drying method and extraction solvent on the total phenolics and antioxidant activity of cauliflower (Brassica oleracea L.) extracts. International Food Research Journal. Vol. 20(2), pp. 653-659. 4. Ayub, M.A., Hussain, A.I., Hanif, M.A., Chatha, S.A.S., Kamal, G.M., Muhammad Shahid and Omar Janneh, 2017. Variation in phenolic profile, β- carotene and Flavonoid Contents, Biological Activities of Two Tagetes Species from Pakistani Flora. Chemistry & Biodiversity. Vol. 14(6). 5. Blois, M.S., 1958. Antioxidant Determinations by the Use of a Stable Free Radical. Nature. Vol. 181(4617), pp. 1199-1200. 6. Chanda, S. and Dave, R., 2009. In vitro models for antioxidant activity evaluation and some medicinal plants possessing antioxidant properties: An overview. African Journal of Microbiology Research. Vol. 3(13), pp. 981-996. 7. Chivde, B.V., Biradar, K.V., Shiramane, R.S. and Manoj, K., 2011. In vitro antioxidant activity studies on the Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô Số 08- 2020 196 flowers of Tagetes erecta L. (Compositae). International Journal of Pharma and Bio Sciences. Vol 2(3), pp. 223-229. 8. Dhar, G., Akther, S., Sultana, A., May, U., Islam, M.M., Dhali, M. and Sikdar, D., 2017. Effect of extraction solvents on phenolic contents and antioxidant capacities of A. chaplasha and C. carandas fruits from Bangladesh. J App Biol Biotech. Vol. 5(03), pp. 039- 044. 9. Gong, Y., Liu, X., He, W.-H., Xu, H.-G., Yuan, F. And Gao, Y.-X., 2012. Investigation into the antioxidant activity and chemical composition of alcoholic extracts from defatted marigold (Tagetes erecta L.) residue. Fitoterapia. Vol. 83, pp. 481-489. 10. Jagtap, U.B., and Bapat, V.A., 2012. Antioxidant activities of various solvent extracts of custard apple (Annona squamosa L.) fruit pulp. Nutrafoods. Vol. 11(4), pp. 137–144. 11. Kaisoon, O., Konczak, I. and Siriamornpun, S., 2012. Potential health enhancing properties of edible flowers from Thailand. Food Research International. Vol 46(2), pp. 563-571. 12. Li, W., Gao, Y., Zhao, J. and Wang, Q., 2007. Phenolic, Flavonoid, and Lutein Ester Content and Antioxidant Activity of 11 Cultivars of Chinese Marigold. Journal of Agricultural and Food Chemistry. Vol. 55, pp. 8478-8484. 13. Marinova, D., Ribarova, F., Atanassova, M., 2005. Total phenolics and total flavonoids in Bulgarian fruits and vegetables. Journal of the University of Chemical Technology and Metallurgy, Vol. 40(3), pp. 255-260. 14. Mohsen, S.M., and Ammar, A.S.M., 2009. Total phenolic contents and antioxidant activity of corn tassel extracts. Food Chemistry. Vol. 112(3), pp. 595–598. 15. Musa, K. H., Abdullah, A., Jusoh, K. and Subramaniam, V., 2010. Antioxidant Activity of Pink- Flesh Guava (Psidium guajava L.): Effect of extraction techniques and solvents. Food Analytical Methods. Vol. 4(1), pp. 100–107. 16. Nguyễn Kim Phi Phụng, 2007. Phương pháp cô lập hợp chất hữu cơ. NXB Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh. Tr. 210-308. 17. Phạm Hoàng Hộ, 2003. Cây cỏ Việt Nam. Quyển III – trang 282. NXB Trẻ. 18. Phrutivorapongkul, A., Kiattisin, K., Jantrawut, P., Chansakaow, S., Vejabhikul, S., and Leelapornpisid, P., 2013. Appraisal of biological activities and identification of phenolic compound of African marigold (Tagetes erecta) flower extract. Pakistan Journal of Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô Số 08- 2020 197 Pharmaceutical Sciences. Vol. 26(6), pp. 1071-1076. 19. Siriamornpun, S., Kaisoon, O. and Meeso, N., 2012. Changes in colour, antioxidant activities and carotenoids (lycopene, β-carotene, lutein) of marigold flower (Tagetes erecta L.) resulting from different drying processes. Journal of Functional Foods. Vol. 4(4), pp. 757-766. 20. Sultana, B., Anwar, F. And Ashraf, M., 2009. Effect of extraction solvent/technique on the antioxidant activity of selected medicinal plant extracts. Molecules. Vol.14, pp. 2167- 2180. 21. Turkmen, N., Sari, F. and Velioglu, Y.S., 2006. Effects of extraction solvents on concentration and antioxidant activity of black and black mate tea polyphenols determined by ferrous tartrate and Folin–Ciocalteu methods. Food Chemistry. Vol. 99(4), pp. 835-841. 22. Wang, W., Xu, H., Chen, H., Tai, K., Liu, F. and Gao, Y., 2016. In vitro antioxidant, anti-diabetic and antilipemic potentials of quercetagetin extracted from marigold (Tagetes erecta L.) inflorescence residues. Journal of Food Science and Technology. Vol. 53(6), pp. 2614-2624. 23. Waterman, P.G. and Mole, S., 1994. Analysis of Phenolic Plant Metabolites. Blackwell Scientific Publication, Oxford. 24. Yu, J., Ahmedna, M. and Goktepe, I., 2005. Effects of processing methods and extraction solvents on concentration and antioxidant activity of peanut skin phenolics. Food Chemistry. Vol. 90(1-2), pp. 199-206. 25. Zhishen, J., Mengcheng, T. and Jianming, W., 1999. The determination of flavonoid contents in mulberry and their scavenging effects on superoxide radicals. Food Chemistry. Vol. 64(4), pp. 555-559. 26. Zhou, K. and Yu, L., 2004. Effects of extraction solvent on wheat bran antioxidant activity estimation. LWT - Food Science and Technology. Vol. 37(7), pp. 717–721. Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô Số 08- 2020 198 DETERMINATION OF POLYPHENOL, FLAVONOID CONTENT AND ANTIOXIDANT ACTIVITY IN Tagetes erecta (L.) Nguyen Trong Tuong, Huynh Duy Khang, Nguyen Minh Quang Hoc, Tri Kim Ngoc and Huynh Ngoc Trung Dung Faculty of Pharmacy and Nursery, Tay Do Univercity (Email: hntdung@tdu.edu.vn) ABSTRACT The aim of this study was to evaluate the content of polyphenol, flavonoid and antioxidant activity in two cultivars of Tagetes erecta L. (orange and yellow flowers). The extraction of total polyphenols (TP) and flavonoids (TF) were quantitatively estimated using Folin- Ciocalteu assay and Aluminium chloride colorimetric method, respectively. Free radical scavenging activity of different extracts was evaluated by using DPPH (1,1-Diphenyl-2- picryl hydrazyl) method. The TP contents varied from 39.44 to 88.41(mg GA/g DW). The TF contents were between 20.00 and 37.92 (mg QE/g DW). The highest content of TP and TF were found in 70% ethanol extracts.The greatest antioxidant activity was observed from the yellow flowers cultivar extracted in 70% ethanol with IC50 = 114.741 µg/mL. Total polyphenols were found positively correlated with total flavonoid content (r = 0.90) and negatively correlated with DPPH IC50 (r = -0.60). The greater amount of TP compounds leads to more powerful radical scavenging effect as shown by 70% ethanol extract of Tagetes erecta L. yellow flowers. Keywords: Antioxidant, DPPH, flavonoid, polyphenol, yellow and orange Tagetes erecta L.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfxac_dinh_ham_luong_polyphenol_flavonoid_va_hoat_tinh_khang_o.pdf
Tài liệu liên quan