KẾT LUẬN
Vạn thọ (Tagetes erecta L.) thuộc 2
giống hoa vàng và hoa cam có chứa
lượng đáng kể hàm lượng polyphenol và
flavonoid, trong đó nhiều nhất là mẫu
cao chiết bằng dung môi ethanol 70%
của giống Vạn thọ hoa vàng (V70) với
hàm lượng lần lượt là 88,41 ± 1,70 mg
GA/g dược liệu khô và 32,91 ± 0,62 mg
QE/g dược liệu khô.
Bốn loại cao chiết từ bộ phận trên mặt
đất của Vạn thọ thể hiện hoạt tính kháng
oxy hóa rõ rệt, mẫu cao chiết V70 cho
tác dụng kháng oxy hóa tốt nhất (IC50 =
114,741 ± 0,957 μg/mL), tiếp sau đó là
các mẫu cao V96, C96, C70 với các giá
trị IC50 lần lượt là 138,299 ± 0,814
μg/mL; 141,253 ± 2,067 μg/mL và
143,612 ± 1,315 μg/mL.
Hàm lượng polyphenol và flavonoid
ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt tính kháng
oxy hóa của các mẫu cao chiết từ Vạn
thọ. Theo đó, hàm lượng các hợp chất
polyphenol và flavonoid càng cao, hoạt
tính kháng oxy hóa càng mạnh.
Đề nghị tiếp tục sử dụng các mẫu cao
chiết để khảo sát các hoạt tính sinh học
khác như kháng α – glucosidase, gây độc
tế bào ung thư, kháng viêm, kháng
khuẩn. Hướng tới việc điều chế cao phân
đoạn, sản xuất các sản phẩm chức năng
từ Vạn thọ, thiết lập công thức trà dược
liệu từ Vạn thọ.
11 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 6 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Xác định hàm lượng Polyphenol, Flavonoid và hoạt tính kháng oxy hóa của cao chiết từ vạn thọ (tagetes erecta L) hoa vàng và hoa cam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô Số 08- 2020
188
XÁC ĐỊNH HÀM LƯỢNG POLYPHENOL, FLAVONOID
VÀ HOẠT TÍNH KHÁNG OXY HÓA CỦA CAO CHIẾT
TỪ VẠN THỌ (TAGETES ERECTA L.) HOA VÀNG VÀ HOA CAM
Nguyễn Trọng Tường, Huỳnh Duy Khang, Nguyễn Minh Quang Học,
Trì Kim Ngọc và Huỳnh Ngọc Trung Dung*
Khoa Dược - Điều Dưỡng, Trường Đại học Tây Đô
(Email: hntdung@tdu.edu.vn)
Ngày nhận: 13/01/2020
Ngày phản biện: 03/3/2020
Ngày duyệt đăng: 17/4/2020
TÓM TẮT
Nghiên cứu nhằm đánh giá hàm lượng polyphenol và flavonoid toàn phần cũng như hoạt
tính kháng oxy hóa của các mẫu cao chiết khác nhau từ hai giống Vạn thọ (Tagetes erecta
L.) hoa vàng (VTHV) và hoa cam (VTHC). Hàm lượng polyphenol toàn phần được xác định
bằng phương pháp Folin-Ciocalteu, hàm lượng flavonoid được xác định bằng phương pháp
Aluminium chloride colorietric và hoạt tính kháng oxy hóa được đánh giá in vitro thông
qua phương pháp đánh bắt gốc tự do DPPH (1,1-Diphenyl-2-picryl hydrazyl). Hàm lượng
polyphenol toàn phần của các mẫu cao chiết dao động từ 39,44 đến 88,41 (mg GA/g dược
liệu khô) và hàm lượng flavonoid toàn phần ở khoảng từ 20,00 đến 37,92 (mg QE/g dược
liệu khô). Các mẫu cao chiết bằng dung môi ethanol 70% chứa hàm lượng lớn polyphenol
và flavonoid toàn phần. Mẫu cao chiết từ VTHV bằng dung môi ethanol 70% đạt được hiệu
suất kháng oxy hóa mạnh nhất với IC50 = 114,741 µg/mL. Có sự tương quan thuận giữa
hàm lượng polyphenol toàn phần và hàm lượng flavonoid toàn phần (hệ số tương quan
r = 0,902), ngoài ra hàm lượng polyphenol toàn phần có tương quan nghịch với IC50 của
DPPH (r = - 0,60). Hàm lượng polyphenol toàn phần trong mẫu cao chiết càng cao, khả
năng kháng oxy hóa của mẫu cũng sẽ cao, kết quả thể hiện qua mẫu cao chiết của dược
liệu VTHV chiết với dung môi ethanol 70%.
Từ khóa: Flavonoid, kháng oxy hóa, polyphenol, Vạn thọ hoa vàng, Vạn thọ hoa cam
Trích dẫn: Nguyễn Trọng Tường, Huỳnh Duy Khang, Nguyễn Minh Quang Học, Trì Kim
Ngọc và Huỳnh Ngọc Trung Dung, 2020. Xác định hàm lượng Polyphenol,
Flavonoid và hoạt tính kháng oxy hóa của cao chiết từ vạn thọ (Tagetes erecta
L.) hoa vàng và hoa cam. Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế
Trường Đại học Tây Đô. 08: 188-198.
*Ths. Huỳnh Ngọc Trung Dung – Giảng viên Khoa Dược & Điều dưỡng, Trường Đại học
Tây Đô
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô Số 08- 2020
189
1. GIỚI THIỆU
Polyphenol nói chung và flavonoid
nói riêng là những nhóm hợp chất chính
trong thành phần hóa học của các loài
thực vật và hoa trái. Các hợp chất này có
hoạt tính sinh học nổi trội, có tác động
tích cực lên sức khỏe con người như
kháng oxy hóa, ngăn chặn sự hình thành
của các gốc oxy đơn phân tử, kiểm soát
sự tăng sinh các tế bào ung thư cũng như
bệnh tật của con người (Ali and Neda,
2011). Vạn thọ (Tagetes erecta L.) là
loại cây truyền thống và khá phổ biến ở
Việt Nam với 2 giống chủ yếu là Vạn
thọ hoa vàng (VTHV) và Vạn thọ hoa
cam (VTHC). Các nghiên cứu về cây
Vạn thọ trên thế giới hướng đến khảo sát
hàm lượng các hợp chất polyphenol và
flavonoid chứa trong cây (Li et al.,
2007; Kaisoon et al., 2012; Siriamo-
rnpun et al., 2012; Gong et al., 2012;
Phrutivora-pongkul et al., 2013); đồng
thời, cũng chứng minh các hoạt tính sinh
học có lợi cho sức khỏe con người, đặc
biệt là hoạt tính kháng oxy hóa của Vạn
thọ (Chivde et al., 2011; Wang et al.,
2016; Ayub et al., 2017). Mục tiêu
nghiên cứu của đề tài nhằm đánh giá
hàm lượng polyphenol và flavonoid toàn
phần cũng như hoạt tính kháng oxy hóa
của các mẫu cao chiết khác nhau từ hai
giống Vạn thọ (Tagetes erecta L.)
VTHV và VTHC.
2. PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Chuẩn bị nguyên liệu
Dược liệu bộ phận trên mặt đất (toàn
cây có hoa, bỏ rễ) Vạn thọ (Tagetes
erecta L.) thuộc hai giống VTHV và
VTHC được trồng hoàn toàn tự nhiên và
thu hái từ tháng 8 tới tháng 12 năm 2019
tại huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
Căn cứ vào các đặc điểm hình thái giống
với mô tả của các tài liệu tham khảo
(Phạm Hoàng Hộ, 2003), xác định đúng
loài, được phơi khô, xay thành bột, thu
được 2 mẫu bột dược liệu, lưu lại ở bộ
môn Sinh Hóa, trường Đại học Tây Đô.
Sử dụng 100 g của mỗi mẫu bột dược
liệu (VTHV, VTHC) chiết xuất bằng
phương pháp ngâm lạnh với dung môi
ethanol 70% và 96% trong 72 giờ, mỗi
lần chiết với một lượng dung môi vừa
đủ, đến khi thử vết dịch chiết bốc hơi
trên mặt kính đồng hồ không còn vết
mờ, tổng lượng dung môi chiết của mỗi
mẫu thu được là khoảng 3 L. Cô quay
dịch chiết dưới áp suất giảm ở 40 oC thu
được 4 mẫu cao toàn phần VTHV –
dung môi ethanol 96%; VTHV – dung
môi ethanol 70%; VTHC – dung môi
ethanol 96% và VTHC – dung môi
ethanol 70%, được ký hiệu lần lượt là
V96, V70, C96, C70 (Nguyễn Kim Phi
Phụng, 2007).
Các mẫu cao sau đó được sử dụng để
khảo sát hàm lượng polyphenol,
flavonoid và thử nghiệm hoạt tính kháng
oxy hóa.
2.2. Dung môi, hóa chất, thuốc thử
Ethanol 70%, ethanol 96%, methanol,
DPPH (1,1-diphenyl-2-picrylhydrazyl) (
Sigma), acid ascorbic (Vitamin C)
(Sigma, USA), quercetin (Sigma, USA),
acid gallic (Sigma, USA), Folin-
Ciocalteu (Sigma, USA), AlCl3, NaOH,
NaNO2, Na2CO3, H2O.
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô Số 08- 2020
190
2.3. Khảo sát hàm lượng flavonoid
và polyphenol trong các mẫu cao toàn
phần
2.3.1. Khảo sát hàm lượng
polyphenol
Hàm lượng polyphenol được xác định
bằng phương pháp Folin – Ciocalteu
(Waterman and Mole, 1994). Trong
thành phần thuốc thử Folin – Ciocalteu
có phức hợp phospho – wolfarm –
phosphomolybdat. Phức hợp này sẽ bị
khử các hợp chất polyphenol tạo thành
sản phẩm phản ứng có màu xanh dương,
hấp thu cực đại ở bước sóng 758 nm.
Hàm lượng polyphenol có trong mẫu tỉ
lệ thuận với cường độ mẫu và được tính
theo acid gallic.
Dùng methanol pha loãng bốn mẫu
cao chiết (C96, V96, C70, V70) thành
các dung dịch có nồng độ 1.000 µg/mL
và chất chuẩn acid gallic thành các nồng
độ 10, 20, 30, 40, 50, 60 µg/mL; pha
loãng thuốc thử Folin – Ciocalteu 10%
bằng nước cất.
Lần lượt cho 1 mL mẫu cần định
lượng hoặc dung dịch acid gallic chuẩn
vào bình định mức 10 mL đã có sẵn 6
mL nước cất, lắc đều sau đó thêm tiếp
0,5 mL thuốc thử Folin – Ciocalteu, lắc
đều và để yên. Sau 5 phút thêm tiếp 1,5
mL Na2CO3 20%. Lắc đều, thêm nước
cất để đạt thể tích 10 mL. Để yên trong
tối 2 giờ sau đó đo độ hấp thu ở bước
sóng 758 nm. Thí nghiệm được lặp lại 3
lần, giá trị hấp thu quang phổ (Abs)
được ghi nhận để tiến hành vẽ đường
thẳng hiệu chuẩn xác định hàm lượng
polyphenol toàn phần trong các mẫu cao
chiết.
Hàm lượng polyphenol toàn phần
chứa trong mẫu cao chiết được đo lường
bằng hàm lượng acid gallic đương lượng
(GA) và được tính bằng công thức:
P =
𝑎 𝑥 𝑉
𝑚
x N x H
Trong đó: F: Hàm lượng polyphenol
toàn phần (mg GA/g dược liệu khô)
a: Giá trị x từ đường chuẩn acid
gallic (µg/mL)
V: Thể tích dịch chiết (mL)
m: Khối lượng cao chiết có trong thể
tích (g)
N: Độ ẩm cao chiết
H: Hiệu suất chiết cao
2.3.2. Khảo sát hàm lượng flavonoid
Hàm lượng flavonoid toàn phần được
xác định bằng phương pháp Aluminum
Chloride colorimetric (AlCl3) (Zhishen
et al., 1999; Marinova et al., 2005).
Dùng methanol pha loãng 4 mẫu cao
chiết để đạt nồng độ 1.000 µg/mL và
dung dịch flavonoid chuẩn quercetin đạt
các nồng độ 10, 20, 40, 60, 80 µg/mL.
Các dung dịch hóa chất NaNO2 5%,
AlCl3 10%, NaOH 1M được pha loãng
bằng nước cất.
Cho vào bình định mức 10 mL (đã có
chứa 4 mL nước cất) 1 mL thể tích mẫu
cần định lượng hoặc chất chuẩn
quercetin. Thêm tiếp vào bình định mức
trên 0,3 mL NaNO2 5%. Sau 5 phút, cho
thêm vào 0,3 mL AlCl3 10%. Sau 6 phút,
cho tiếp vào 2 mL NaOH 1M, lắc đều,
định mức lên thể tích 10 mL. Sau đó tiến
hành đo độ hấp thu ở bước sóng 510 nm.
Thí nghiệm được lặp lại 3 lần, giá trị
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô Số 08- 2020
191
Abs được ghi nhận và tiến hành vẽ
đường thẳng hiệu chuẩn để sử dụng xác
định hàm lượng polyphenol toàn phần
trong các mẫu cao chiết.
Hàm lượng flavonoid toàn phần chứa
trong mẫu cao chiết được đo lường bằng
hàm lượng quercetin đương lượng (QE)
và được tính bằng công thức:
F =
𝑐 𝑥 𝑉
𝑚
x N x H
Trong đó: F: Hàm lượng flavonoid
toàn phần (mg QE/g dược liệu khô)
c: Giá trị x từ đường chuẩn quercetin
(mg/mL)
V: Thể tích dịch chiết (mL)
m: Khối lượng cao chiết có trong thể
tích (g)
N: Độ ẩm của cao chiết
H: Hiệu suất chiết cao
2.4. Khảo sát hoạt tính kháng oxy
hóa trên cao toàn phần
Hoạt tính kháng oxy hóa được khảo
sát bằng phương pháp đánh bắt gốc tự
do DPPH (Blois, 1958; Chanda and
Dave, 2009). Dung dịch DPPH nồng độ
0,6 mM, các mẫu cao chiết nồng độ 25;
50; 100; 200 µg/mL, đối chứng dương
acid ascorbic nồng độ 10; 20; 30; 40
µg/mL được pha loãng bằng methanol.
Lần lượt cho 0,5 mL dung dịch thử
(nồng độ 25 – 200 µg/mL) vào ống
nghiệm đã có sẵn 3 mL MeOH, tiếp theo
đó là 0,5 mL dung dịch DPPH 0,6 mM.
Đối với mẫu đối chứng thì thay dung
dịch thử bằng MeOH, ống nghiệm của
mẫu trắng chỉ chứa MeOH.
Các ống nghiệm sau khi pha được ủ
trong tối ở nhiệt độ phòng 30 phút, sau
đó đo độ hấp thu ở bước sóng 517 nm.
Hoạt tính kháng oxy hóa (%) =
( 𝐴𝑐−𝐴𝑡)
𝐴𝑐
x 100
Trong đó:
Ac: Giá trị hấp thu quang phổ của
mẫu đối chứng
At: Giá trị hấp thu quang phổ của mẫu
thử
Từ kết quả tính được và nồng độ mẫu,
xây dựng phương trình đường thẳng
tuyến tính giữa nồng độ mẫu thử và hoạt
tính kháng oxy hóa để tính IC50. Giá trị
IC50 càng thấp tương ứng với hoạt tính
kháng oxy hóa càng cao và ngược lại.
Các số liệu kết quả thử nghiệm được
biểu thị trung bình của 3 lần đo khác
nhau.
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Hàm lượng polyphenol toàn
phần và flavonoid toàn phần
Sau khi chiết xuất và cô dịch chiết,
thu được 4 mẫu cao chiết có độ ẩm và
hiệu suất chiết thể hiện trong Bảng 1.
Bảng 1. Độ ẩm cao chiết và hiệu suất chiết
cao
Mẫu Độ ẩm (%)
Hiệu suất
(%)
C96 10,08 15,23
V96 9,89 13,77
C70 11,56 29,54
V70 12,65 31,11
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô Số 08- 2020
192
Kết quả hàm lượng polyphenol toàn
phần và flavonoid toàn phần của các
mẫu cao chiết được thể hiện ở Bảng 2.
Bảng 2. Hàm lượng polyphenol toàn phần và flavonoid toàn phần trong các mẫu cao chiết
Mẫu cao
chiết
Hàm lượng flavonoid toàn phần
(mg QE/g dược liệu khô)(1)
Hàm lượng polyphenol toàn phần
(mg GA/g dược liệu khô)(2)
C96 21,65 ± 0,57(a) 40,27 ± 2,10(a)
V96 20,00 ± 0,21(a) 39,44 ± 0,42(a)
C70 37,92 ± 1,15(b) 76,89 ± 0,51(b)
V70 32,91 ± 0,62(b) 88,41 ± 1,70(c)
(1): Các giá trị được xác định dựa vào phương trình đường chuẩn của quercetin (y =
0,000748x + 0,002083; r2 = 0,999).
(2): Các giá trị được xác định dựa vào phương trình đường chuẩn của acid gallic (y =
0,006443x – 0,001794; r2 = 0,998).
Trong cùng một cột, các số trung bình theo sau bởi một hoặc những chữ cái giống nhau thì
khác biệt không có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 5% bằng phép thử Tukey.
Hàm lượng polyphenol toàn phần của
các mẫu cao chiết dao động từ 39,44 đến
88,41 mg GA/g dược liệu khô. Mẫu cao
chiết V70 có hàm lượng polyphenol toàn
phần lớn nhất là (115,88 ± 2,23 mg
GA/g dược liệu khô) gấp hơn 2 lần các
cao chiết C96, V96. Hàm lượng
flavonoid toàn phần của bốn mẫu cao
chiết dao động trong khoảng từ 20,00
đến 37,92 mg QE/g dược liệu khô, cao
nhất là mẫu cao chiết C70 (37,92 ± 1,15
mg QE/g dược liệu khô) cao gần 2 lần
các mẫu C96 và V96. Các mẫu cao chiết
bằng dung môi ethanol 70% cho kết quả
hàm lượng polyphenol toàn phần và
flavonoid cao hơn các mẫu cao chiết
bằng dung môi ethanol 96%. Kết quả
này tương tự với nghiên cứu của Gong et
al., 2012, khi khảo sát hàm lượng
polyphenol toàn phần và flavonoid toàn
phần trên các mẫu cao chiết bằng các
dung môi nước cất, ethanol 30%, ethanol
50%, ethanol 70% và ethanol nguyên
chất. Trong đó hàm lượng polyphenol
toàn phần và flavonoid toàn phần trong
các mẫu cao chiết từ ethanol 70% lần
lượt là 97,00 ± 2,21 (mg GA/g dược liệu
khô) và 62,33 ± 1,81 (mg QE/g dược
liệu khô) cao hơn các mẫu cao còn lại.
Tương tự, nghiên cứu của Sultana et al.,
2009, khảo sát ảnh hưởng của các loại
dung môi chiết khác nhau (methanol
nguyên chất, ethanol nguyên chất,
methanol 80%, ethanol 80%) với hai
phương pháp chiết khác nhau đến hàm
lượng polyphenol toàn phần của các loại
dược liệu khác nhau. Kết quả cho thấy
dung môi ethanol 80% và methanol 80%
thu được hàm lượng polyphenol toàn
phần cao hơn ethanol và methanol
nguyên chất ở cả 2 phương pháp chiết.
Hàm lượng polyphenol toàn phần
được xác định từ cao chiết bằng dung
môi ethanol 70% cao hơn dung môi
ethanol 96%, cho thấy hàm lượng này
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô Số 08- 2020
193
trong dược liệu Vạn thọ phụ thuộc vào
loại dung môi chiết xuất, cụ thể là độ
phân cực của dung môi. Dung môi có độ
phân cực càng cao, hàm lượng
polyphenol toàn phần chiết được càng
nhiều (Mohsen and Ammar, 2008;
Anwar et al., 2013). Tuy nhiên, nghiên
cứu của Jagtap and Bapat, 2012 lại cho
thấy điều ngược lại, dung môi aceton có
độ phân cực thấp hơn dung môi nước và
methanol lại cho thấy khả năng chiết
được nhiều polyphenol hơn. Sự khác
biệt này có thể xuất phát từ sự khác nhau
về cấu trúc hóa học của từng loại
polyphenol và flavonoid có trong thực
vật cũng như độ phân cực cụ thể của
chúng trong các dung môi hữu cơ khác
nhau.
3.2. Hoạt tính kháng oxy hóa
Kết quả hoạt tính kháng oxy hóa thể
hiện qua giá trị IC50 của các mẫu cao
chiết được thể hiện ở Bảng 3.
Bảng 3. Khả năng đánh bắt 50% gốc tự do DPPH (IC50) của các mẫu cao chiết
Mẫu cao chiết IC50 (µg/mL)
C96 141,253 ± 2,067(a)
V96 138,299 ± 0,814(a)
C70 143,612 ± 1,315(a)
V70 114,741 ± 0,957(b)
Acid ascorbic 20,907 ± 0,149(c)
*Ghi chú: Trong cùng một cột, các số trung bình theo sau bởi một hoặc những chữ cái
giống nhau thì khác biệt không có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 5% bằng phép thử
Tukey.
Cả 4 mẫu cao chiết C96, V96, C70 và
V70 đều thể hiện hoạt tính kháng oxy
hóa với các giá trị IC50 lần lượt là
141,253 ± 2,067 μg/mL; 138,299 ± 0,814
μg/mL; 143,612 ± 1,315 μg/mL; 114,741
± 0,957 μg/mL, trong đó, mẫu V70 với
giá trị IC50 nhỏ nhất (114,741 ± 0,957
μg/mL) là mẫu cao chiết cho khả năng
kháng oxy hóa tốt nhất trong thí nghiệm
này, thấp hơn đối chứng dương là acid
ascorbic 5,50 lần và cao hơn các mẫu
cao chiết còn lại khoàng 1,25 lần. Các
mẫu cao chiết C96, V96, C70 có hoạt
tính kháng oxy hóa tương đương nhau (p
< 0,05).
Dung môi ethanol 70% chiết xuất cao
chiết dược liệu Vạn thọ sẽ cho kết quả
kháng oxy hóa mạnh hơn so với dung
môi ethanol 96%. Kết quả này tương tự
với nghiên cứu của Gong et al, 2012, khi
thử hoạt tính kháng oxy hóa bằng 2
phương pháp: DPPH và FRAP (Ferric
ion Reducing Antioxidant Power, khử
ion sắt III, đối chứng dương là Trolox)
trên các mẫu cao chiết với các độ phân
cực khác nhau (nước cất, ethanol 30%,
ethanol 50%, ethanol 70%, ethanol
nguyên chất) từ cánh hoa vủa Vạn thọ,
kết quả ở 2 phương pháp đều giống
nhau, mẫu cao chiết bằng ethanol 70%
có hoạt tính kháng oxy hóa mạnh nhất.
Nghiên cứu của Addai et al., 2013, trên
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô Số 08- 2020
194
2 giống Đu đủ (Hongkong và Eksotika)
về ảnh hưởng của dung môi chiết và
phương pháp chiết lên hoạt tính kháng
oxy hóa cũng cho kết quả tương tự.
Theo đó các mẫu cao chiết bằng dung
môi ethanol 70% thể hiện hoạt tính
kháng oxy hóa vượt trội hơn mẫu chiết
bằng dung môi ethanol nguyên chất ở cả
3 phương pháp thử khác nhau. Một số
nghiên cứu cũng cho kết quả tương tự về
hoạt tính kháng oxy hóa của các mẫu
cao chiết bằng dung môi ethanol 70%
vượt trội hơn so với chiết bằng dung môi
ethanol có độ phân cực thấp hơn (Zhou
and Yu, 2004; Musa et al., 2011).
Sự tương quan giữa hàm lượng
polyphenol, flavonoid và giá trị IC50 của
các mẫu cao chiết được phân tích bằng
phép so sánh Pearson, kết quả thể hiện ở
Bảng 4.
Bảng 4. Tương quan giữa hàm lượng polyphenol, flavonoid và IC50 của các mẫu cao chiết
thông qua phép so sánh tương quan Pearson
Hệ số tương quan Pearson (r) Flavonoid Polyphenol IC50
Flavonoid 1 0,902** -0,218
Polyphenol 0,902** 1 -0,603*
IC50 -0,218 -0,603
* 1
**. Tương quan có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 0,01
*. Tương quan có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 0,05
Hàm lượng polyphenol và flavonoid
tương quan thuận có ý nghĩa thống kê
(r = 0,90) ở mức ý nghĩa 0,01. Nghĩa là,
hàm lượng polyphenol trong dược liệu tỉ
lệ thuận với hàm lượng flavonoid. Kết
quả hàm lượng polyphenol và IC50 tương
quan nghịch có ý nghĩa thống kê
(r = -0,60), nghĩa là hàm lượng
polyphenol trong dược liệu càng tăng thì
IC50 càng giảm; đồng thời khả năng
kháng oxy hóa càng cao, hoặc hàm
lượng polyphenol tỉ lệ thuận với khả
năng kháng oxy hóa. Từ phép so sánh
trên, có thể nhận định, hàm lượng
polyphenol, flavonoid trong Vạn thọ ảnh
hưởng trực tiếp đến khả năng kháng oxy
hóa của các mẫu cao chiết. Kết quả này
cũng tương tự với nghiên cứu của Dhar
et al., (2017) trên hai loại quả
Artocarpus chaplasha (một loài thuộc
chi Mít) và Carissa carandas (Cây Si
rô), kết quả cho thấy hàm lượng
polyphenol trong các mẫu có mối tương
quan thuận với khả năng kháng oxy hóa
(với hệ số tương quan lần lượt là
r = 0,88 và r = 0,93). Một số nghiên cứu
khác trước đó cũng chỉ ra rằng có sự
tương quan thuận giữa hàm lượng
polyphenol toàn phần và hoạt tính kháng
oxy hóa (Yu et al., 2005; Turkmen et al.,
2006).
4. KẾT LUẬN
Vạn thọ (Tagetes erecta L.) thuộc 2
giống hoa vàng và hoa cam có chứa
lượng đáng kể hàm lượng polyphenol và
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô Số 08- 2020
195
flavonoid, trong đó nhiều nhất là mẫu
cao chiết bằng dung môi ethanol 70%
của giống Vạn thọ hoa vàng (V70) với
hàm lượng lần lượt là 88,41 ± 1,70 mg
GA/g dược liệu khô và 32,91 ± 0,62 mg
QE/g dược liệu khô.
Bốn loại cao chiết từ bộ phận trên mặt
đất của Vạn thọ thể hiện hoạt tính kháng
oxy hóa rõ rệt, mẫu cao chiết V70 cho
tác dụng kháng oxy hóa tốt nhất (IC50 =
114,741 ± 0,957 μg/mL), tiếp sau đó là
các mẫu cao V96, C96, C70 với các giá
trị IC50 lần lượt là 138,299 ± 0,814
μg/mL; 141,253 ± 2,067 μg/mL và
143,612 ± 1,315 μg/mL.
Hàm lượng polyphenol và flavonoid
ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt tính kháng
oxy hóa của các mẫu cao chiết từ Vạn
thọ. Theo đó, hàm lượng các hợp chất
polyphenol và flavonoid càng cao, hoạt
tính kháng oxy hóa càng mạnh.
Đề nghị tiếp tục sử dụng các mẫu cao
chiết để khảo sát các hoạt tính sinh học
khác như kháng α – glucosidase, gây độc
tế bào ung thư, kháng viêm, kháng
khuẩn. Hướng tới việc điều chế cao phân
đoạn, sản xuất các sản phẩm chức năng
từ Vạn thọ, thiết lập công thức trà dược
liệu từ Vạn thọ.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Addai, Z.R., Abdullah, A. and
Mutalib, S.A., 2013. Effect of extraction
solvents on the phenolic content and
antioxidant properties of two papaya
cultivars. Journal of Medicinal Plants
Research. Vol. 7(47), pp. 3354-3359.
2. Ali, G. and Neda, G., 2011.
Flavonoids and phenolic acids: Role and
biochemical activity in phants and
human. Journal of Medicinal Plants
Research. Vol. 5(31), pp. 6697-6703.
3. Anwar, F., Kalsoom, U., Sultana,
B., Mushtaq, M., Mehmood, T. and
Arshad, H.A., 2013. Effect of drying
method and extraction solvent on the
total phenolics and antioxidant activity
of cauliflower (Brassica oleracea L.)
extracts. International Food Research
Journal. Vol. 20(2), pp. 653-659.
4. Ayub, M.A., Hussain, A.I., Hanif,
M.A., Chatha, S.A.S., Kamal, G.M.,
Muhammad Shahid and Omar Janneh,
2017. Variation in phenolic profile, β-
carotene and Flavonoid Contents,
Biological Activities of Two Tagetes
Species from Pakistani Flora. Chemistry
& Biodiversity. Vol. 14(6).
5. Blois, M.S., 1958. Antioxidant
Determinations by the Use of a Stable
Free Radical. Nature. Vol. 181(4617),
pp. 1199-1200.
6. Chanda, S. and Dave, R.,
2009. In vitro models for antioxidant
activity evaluation and some medicinal
plants possessing antioxidant properties:
An overview. African Journal of
Microbiology Research. Vol. 3(13), pp.
981-996.
7. Chivde, B.V., Biradar, K.V.,
Shiramane, R.S. and Manoj, K., 2011. In
vitro antioxidant activity studies on the
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô Số 08- 2020
196
flowers of Tagetes erecta L.
(Compositae). International Journal of
Pharma and Bio Sciences. Vol 2(3), pp.
223-229.
8. Dhar, G., Akther, S., Sultana, A.,
May, U., Islam, M.M., Dhali, M. and
Sikdar, D., 2017. Effect of extraction
solvents on phenolic contents and
antioxidant capacities of A. chaplasha
and C. carandas fruits from Bangladesh.
J App Biol Biotech. Vol. 5(03), pp. 039-
044.
9. Gong, Y., Liu, X., He, W.-H., Xu,
H.-G., Yuan, F. And Gao, Y.-X., 2012.
Investigation into the antioxidant
activity and chemical composition of
alcoholic extracts from defatted
marigold (Tagetes erecta L.) residue.
Fitoterapia. Vol. 83, pp. 481-489.
10. Jagtap, U.B., and Bapat, V.A.,
2012. Antioxidant activities of various
solvent extracts of custard apple
(Annona squamosa L.) fruit pulp.
Nutrafoods. Vol. 11(4), pp. 137–144.
11. Kaisoon, O., Konczak, I. and
Siriamornpun, S., 2012. Potential health
enhancing properties of edible flowers
from Thailand. Food Research
International. Vol 46(2), pp. 563-571.
12. Li, W., Gao, Y., Zhao, J. and
Wang, Q., 2007. Phenolic, Flavonoid,
and Lutein Ester Content and
Antioxidant Activity of 11 Cultivars of
Chinese Marigold. Journal of
Agricultural and Food Chemistry. Vol.
55, pp. 8478-8484.
13. Marinova, D., Ribarova, F.,
Atanassova, M., 2005. Total phenolics
and total flavonoids in Bulgarian fruits
and vegetables. Journal of the University
of Chemical Technology and
Metallurgy, Vol. 40(3), pp. 255-260.
14. Mohsen, S.M., and Ammar,
A.S.M., 2009. Total phenolic contents
and antioxidant activity of corn tassel
extracts. Food Chemistry. Vol. 112(3),
pp. 595–598.
15. Musa, K. H., Abdullah, A., Jusoh,
K. and Subramaniam, V.,
2010. Antioxidant Activity of Pink-
Flesh Guava (Psidium guajava L.):
Effect of extraction techniques and
solvents. Food Analytical Methods. Vol.
4(1), pp. 100–107.
16. Nguyễn Kim Phi Phụng, 2007.
Phương pháp cô lập hợp chất hữu cơ.
NXB Đại học Quốc gia TP Hồ Chí
Minh. Tr. 210-308.
17. Phạm Hoàng Hộ, 2003. Cây cỏ
Việt Nam. Quyển III – trang 282. NXB
Trẻ.
18. Phrutivorapongkul, A., Kiattisin,
K., Jantrawut, P., Chansakaow, S.,
Vejabhikul, S., and Leelapornpisid, P.,
2013. Appraisal of biological activities
and identification of phenolic compound
of African marigold (Tagetes erecta)
flower extract. Pakistan Journal of
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô Số 08- 2020
197
Pharmaceutical Sciences. Vol. 26(6), pp.
1071-1076.
19. Siriamornpun, S., Kaisoon, O.
and Meeso, N., 2012. Changes in colour,
antioxidant activities and carotenoids
(lycopene, β-carotene, lutein) of
marigold flower (Tagetes erecta L.)
resulting from different drying
processes. Journal of Functional Foods.
Vol. 4(4), pp. 757-766.
20. Sultana, B., Anwar, F. And
Ashraf, M., 2009. Effect of extraction
solvent/technique on the antioxidant
activity of selected medicinal plant
extracts. Molecules. Vol.14, pp. 2167-
2180.
21. Turkmen, N., Sari, F. and
Velioglu, Y.S., 2006. Effects of
extraction solvents on concentration and
antioxidant activity of black and black
mate tea polyphenols determined by
ferrous tartrate and Folin–Ciocalteu
methods. Food Chemistry. Vol. 99(4),
pp. 835-841.
22. Wang, W., Xu, H., Chen, H., Tai,
K., Liu, F. and Gao, Y., 2016. In vitro
antioxidant, anti-diabetic and antilipemic
potentials of quercetagetin extracted
from marigold (Tagetes erecta L.)
inflorescence residues. Journal of Food
Science and Technology. Vol. 53(6), pp.
2614-2624.
23. Waterman, P.G. and Mole, S.,
1994. Analysis of Phenolic Plant
Metabolites. Blackwell Scientific
Publication, Oxford.
24. Yu, J., Ahmedna, M. and
Goktepe, I., 2005. Effects of processing
methods and extraction solvents on
concentration and antioxidant activity of
peanut skin phenolics. Food Chemistry.
Vol. 90(1-2), pp. 199-206.
25. Zhishen, J., Mengcheng, T. and
Jianming, W., 1999. The determination
of flavonoid contents in mulberry and
their scavenging effects on superoxide
radicals. Food Chemistry. Vol. 64(4),
pp. 555-559.
26. Zhou, K. and Yu, L.,
2004. Effects of extraction solvent on
wheat bran antioxidant activity
estimation. LWT - Food Science and
Technology. Vol. 37(7), pp. 717–721.
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô Số 08- 2020
198
DETERMINATION OF POLYPHENOL, FLAVONOID CONTENT
AND ANTIOXIDANT ACTIVITY IN Tagetes erecta (L.)
Nguyen Trong Tuong, Huynh Duy Khang, Nguyen Minh Quang Hoc,
Tri Kim Ngoc and Huynh Ngoc Trung Dung
Faculty of Pharmacy and Nursery, Tay Do Univercity
(Email: hntdung@tdu.edu.vn)
ABSTRACT
The aim of this study was to evaluate the content of polyphenol, flavonoid and antioxidant
activity in two cultivars of Tagetes erecta L. (orange and yellow flowers). The extraction of
total polyphenols (TP) and flavonoids (TF) were quantitatively estimated using Folin-
Ciocalteu assay and Aluminium chloride colorimetric method, respectively. Free radical
scavenging activity of different extracts was evaluated by using DPPH (1,1-Diphenyl-2-
picryl hydrazyl) method. The TP contents varied from 39.44 to 88.41(mg GA/g DW). The
TF contents were between 20.00 and 37.92 (mg QE/g DW). The highest content of TP and
TF were found in 70% ethanol extracts.The greatest antioxidant activity was observed from
the yellow flowers cultivar extracted in 70% ethanol with IC50 = 114.741 µg/mL. Total
polyphenols were found positively correlated with total flavonoid content (r = 0.90) and
negatively correlated with DPPH IC50 (r = -0.60). The greater amount of TP compounds
leads to more powerful radical scavenging effect as shown by 70% ethanol extract of
Tagetes erecta L. yellow flowers.
Keywords: Antioxidant, DPPH, flavonoid, polyphenol, yellow and orange Tagetes erecta L.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
xac_dinh_ham_luong_polyphenol_flavonoid_va_hoat_tinh_khang_o.pdf