Xác định liều lượng bón phân hữu cơ vi sinh thay thế phân vô cơ thích hợp cho sân xuất rau ăn lá an toàn trong vụ hè thu ở miền Bắc Việt Nam
Nghiên cứu của Li & cs. (2017) vế ảnh hương của phân HCVS sinh đến chất lượng hóa sinh cúa rau muông cũng cho kết quá tương tự. Kết quả này cho thấy ó công thức bón nhiều 3.7. Ảnh hưởng của tỉ lệ phân HCVS thay thế phân vô cơ đến chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm của rau muống và mồng tơi Kết quá phân tích trình bày trong bảng 7 cho thấy ở tất cả các công thức thí nghiệm trên rau muông và mồng tơi, tồn dư Nitrate và vi sinh vật gây bệnh (E. Coli, Saỉmoneỉà) đều dưới ngưỡng tồn dư cho phép cúa FAO, WHO và TCVN (Nguyền Minh Trí & cs., 2013). ở các công thức bón phân HCVS thay thế phân vô cơ với lượng càng tăng, dư lượng nitrate trong rau muống và muồng tơi càng giảm, đạt thấp nhất ó CT4 (thay thế 75% phân vô cơ) và cao nhất ở đối chứng (CT1). Nguyễn Lệ Phương & cs. (2019) khi nghiên cứu ảnh hưởng cúa liều lượng bón phân hữu cơ biogas đến dư lượng nitrate trong rau muống và cái xanh cũng cho thấy dư lượng nitrate giảm dần từ công thức không bón phân biogas (bón 100% phân vô cơ) đến bón hoàn toàn phân biogas (không bón phân vô cơ). Nghiên cứu cúa Li & cs. (2017) cũng cho thấy ở các công thức bón phân HCVS cho rau muông, dư lượng nitrate thấp hơn nhiều so với công thức bón 100% phân vô cơ. Các kết quả này cũng tương tự như kết quá nghiên cứu của chúng tôi. Điều này cho thấy bón phân hữu cơ làm giảm đáng kể khả năng tồn dư Nitrate trong rau ăn lá.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
xac_dinh_lieu_luong_bon_phan_huu_co_vi_sinh_thay_the_phan_vo.pdf


