Kết quả nghiên cứu xác định thời gian
thu hoạch quả giống (tuổi quả giống) thích
hợp cho sản xuất hạt lai GL1-2
Sự sai khác có ý nghĩa về năng suất hạt,
khối lượng 1.000 hạt và tỷ lệ nảy mầm của hạt ở
các quả có độ tuổi quả khác nhau (Bảng 5).
Riêng hàm lượng chất khô không sai khác rõ
giữa các công thức thí nghiệm. Thu hoạch quả
35 ngày tuổi cho năng suất hạt đạt tới 5,27
g/cây ở Hà Nội và 4,96 g/cây ở Thái Nguyên;
Khối lượng 1.000 hạt lớn 26,44g ở Hà Nội
và25,67g ở Thái Nguyên; Tỷ lệ nảy mầm cao
98,00% ở Hà Nội và 95,67% ở Thái Nguyên. Các
chỉ tiêu này cao hơn ở mức có ý nghĩa LSD0,05 so
với các công thức thu hoạch quả sớm ở 20-25
ngày tuổi hoặc thu muộn hơn ở 40 ngày tuổi.
Thời gian thu hoạch quả giống tối ưu trong
nghiên cứu này ngắn hơn so với kết quả đã c ng
bố trước đây của nhiều tác giả các giống ưa
chuột và vùng sinh thái địa lý khác nhau
(Barbedo & cs., 1993; Nandeesh & cs., 1995;
Barbedo & cs., 1999).
Khả năng chống chịu sâu bệnh hại ưa
chuột GL1-2 là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới
sinh trưởng và hiệu quả của sản xuất ưa chuột.
Qua theo dõi tình hình nhiễm bệnh hại của các
thí nghiệm cho thấy, trên các thí nghiệm đều có
nhiễm bệnh giả sương mai (Pseu operonospora
cubensis) và bệnh phấn trắng (Erysiphe
cichoarcearum) ở mức độ thấp và trung bình
(cấp 1 đến cấp 3) và bọ xít (Halyomorpha halys)
gây hại ở mức 15,7% (theo QCVN 01-
38:2010/BNNPTNT).
6 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 1 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Xác định một số thông số kỹ thuật thích hợp cho sản xuất hạt giống dưa chuột lai F1 GL1-2 ở vùng đồng bằng và Trung Du Bắc Bộ, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Vietnam J. Agri. Sci. 2020, Vol. 18, No. 6: 408-413 Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam 2020, 18(6): 408-413
www.vnua.edu.vn
408
XÁC ĐỊNH MỘT SỐ THÔNG SỐ KỸ THUẬT THÍCH HỢP
CHO SẢN XUẤT HẠT GIỐNG DƯA CHUỘT LAI F1 GL1-2
Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG VÀ TRUNG DU BẮC BỘ
Lê Thị Thu1, Phạm Mỹ Linh2, Trần Thị Minh Hằng3
1Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Thái Nguyên
2
Công ty VinEco,
3
Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
*
Tác giả liên hệ: ttmhang@vnua.edu.vn
Ngày nhận bài: 06.03.2020 Ngày chấp nhận đăng: 11.06.2020
TÓM TẮT
GL1-2 là giống dưa chuột lai F1 do Viện Nghiên cứu Rau quả chọn tạo và được Bộ Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn công nhận giống sản xuất thử năm 2014. Giống có ưu điểm là sinh trưởng khỏe, ra hoa đậu quả tốt, năng
suất đạt 50 - 60 tấn/ha cả trong vụ đông và vụ Xuân Hè ở vùng Đồng bằng và Trung du Bắc bộ, chất lượng quả tốt, ít
nhiễm bệnh sương mai và phấn trắng. Để xây dựng quy trình sản xuất, nâng cao năng suất và chất lượng hạt giống
lai F1 GL1-2, cần tiến hành nghiên cứu xác định tỷ lệ cây bố/cây mẹ, thời điểm thụ phấn bổ khuyết và tuổi quả giống.
Ba thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh, ba lần nhắc lại với 7 công thức thí nghiệm về tỷ lệ cây bố
và cây mẹ, 5 công thức thí nghiệm về thời điểm thụ phấn và 5 công thức thí nghiệm về tuổi quả giống. Nghiên cứu
được thực hiện trong vụ Xuân Hè năm 2017 tại hai tỉnh Thái Nguyên và Hà Nội. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ
cây bố/cây mẹ thích hợp là 1/4, thời điểm thụ phấn là 8-9 giờ sáng và tuổi quả giống 30-35 ngày cho năng suất và
chất lượng hạt lai vượt trội.
Từ khóa: Dưa chuột, hạt lai F1, giống GL1-2, sản xuất hạt lai.
Determination of some Technical Factors
for Cucumber F1 Hybrid Gl1-2 Seed Production in Northern Delta and Midlands
ABSTRACT
GL1-2 is a cucumber F1 hybrid variety produced successfully by researchers of Fruit & Vegetable Research
Institute and approved by Ministry of Agriculture & Rural Development in 2014. This variety possesses several
desired characteristics: vigorous growth, good flowering and fruiting, high yield (50 - 60 tons/ha) both in spring-
summer and winter seasons in Northern Delta and Midlands areas, good fruit quality, resistance to downy mildew and
powdery mildew diseases. In order to develop the seed production process, increase yield and quality of F1 hybrid
GL1-2 seeds, we carried out the study on determination of optimum planting ratio of parental lines, pollination time
and time to harvest fruits. Three experiments were arranged in a randomized complete block with seven treatments
of experiment 1 (parental ratio), five treatments of experiment 2 (pollination time), five treatments of experiment 3
(fruit age) and three replications. The experiments were set up in Spring and Summer 2017 in two provinces Thai
Nguyen and Ha Noi. Our results showed that optimum planting ratio of GL1-2 parental lines was 1/4, from 8 to 9am
was an optimum time to do hand-pollination, and optimum time to harvest hybrid fruits was from 30 to 35 days after
pollination, giving the best F1 seed yield and quality.
Keywords: Cucumber, F1 hybrid seed, variety GL1-2, Hybrid seed production.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Dưa chuột (Cucumis sativus L.) là loại rau
ăn quả quan trọng, được trồng phổ biến ở nhiều
nước trên thế giới. Ở Việt Nam, ưa chu t được
trồng nhiều ở vùng đồng bằng sông Hồng với
Lê Thị Thu, Phạm Mỹ Linh, Trần Thị Minh Hằng
409
diện tích hàng năm ao động khoảng 10.000ha
và sản lượng bình quân đạt 300.000 tấn (Niên
giám thống kê, 2019). Với nhu cầu tiêu dùng
quả tươi và làm nguyên liệu cho chế biến đóng
hộp ở thị trường nội địa và xuất khẩu ngày càng
tăng, sản xuất ưa chuột lu n được chú trọng
phát triển. Diện tích sản xuất ưa chuột được
mở rộng. Giống và kỹ thuật thâm canh được cải
tiến nhằm không ngừng nâng cao năng suất và
chất lượng ưa chuột để đáp ứng với yêu cầu
của sản xuất và tiêu thụ. Trong những năm
qua, bên cạnh việc nhập nội giống ưa chuột để
phục vụ sản xuất, việc chọn tạo giống ưa chuột
lai F1 chất lượng cao trong nước cũng lu n được
đầu tư nghiên cứu nhằm chủ động nguồn cung
cấp và hạ giá thành hạt giống cho sản xuất ưa
chuột. Trong nỗ lực đó, giống ưa chuột lai F1
GL1-2 do Viện nghiên cứu Rau quả chọn tạo
được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
công nhận là giống sản xuất thử năm 2014.
Giống ưa chuột GL1-2 có thời gian sinh
trưởng ngắn (80-85 ngày), sinh trưởng khỏe, ra
hoa đậu quả tốt, năng suất cao (50-60 tấn/ha) cả
trong vụ đ ng và vụ Xuân Hè ở vùng đồng bằng
và trung du Bắc bộ, chất lượng quả tốt, ít nhiễm
bệnh sương mai và phấn trắng (Phạm Mỹ Linh
& cs., 2013).
Thái Nguyên là trung tâm của vùng trung
du và miền núi phía Bắc, là cửa ngõ trong trong
phát huy hiệu quả tiềm năng và thế mạnh của
vùng, phát triển hành lang kinh tế giữa các tỉnh
trong khu vực với thủ đ Hà Nội và vùng đồng
bằng sông Hồng. Việc nghiên cứu hoàn thiện
một số biện pháp kỹ thuật sản xuất hạt ưa
chuột lai giống GL1-2 cho từng khu vực có tiềm
năng và thế mạnh vùng là cần thiết nhằm nâng
cao năng suất và chất lượng hạt giống, đáp ứng
với nhu cầu về hạt giống chất lượng cao cho
từng khu vực sản xuất trước khi được thương
mại hoá trên diện rộng.
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Vật liệu nghiên cứu
Dòng bố và dòng mẹ của giống ưa chuột lai
GL1-2 do Viện nghiên cứu Rau quả chọn tạo
được sử dụng để sản xuất hạt lai.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành ngoài đồng
trong vụ Xuân Hè năm 2017 tại thị trấn Trâu
Quỳ - Gia Lâm - Hà Nội và xã Quyết Thắng -
thành phố Thái Nguyên - Thái Nguyên với 3
thí nghiệm:
Thí nghiệm 1: Xác định tỷ lệ cây bố/cây mẹ
thích hợp cho sản xuất hạt ưa chuột lai GL1-2.
Thí nghiệm gồm 7 công thức với 7 tỷ lệ cây
bố/cây mẹ: 1/4, 1/5, 1/6, 1/7, 1/8, 1/9, 1/10.
Thí nghiệm 2: Xác định thời gian thụ phấn
trong ngày thích hợp cho sản xuất hạt ưa
chuột lai GL1-2. Thí nghiệm gồm 5 công thức
với tỷ lệ cây bố/cây mẹ là 1/4 và 5 khoảng thời
điểm thụ phấn khác nhau trong ngày: 8-9 giờ,
9-10 giờ, 10-11 giờ, 13-14 giờ, 14-15 giờ.
Thí nghiệm 3: Xác định tuổi quả giống thích
hợp cho sản xuất hạt ưa chuột lai GL1-2. Thí
nghiệm gồm 5 công thức: 20 ngày tuổi, 25 ngày
tuổi, 30 ngày tuổi, 35 ngày tuổi, 40 ngày tuổi.
Các thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu
nhiên đầy đủ (RCB) với 3 lần nhắc lại. Diện tích
ô thí nghiệm là 6m2 (5m 1,2m). Mỗi ô trồng 24
cây với khoảng cách 40cm khoảng cách hàng
70cm, tương ứng với mật độ 33.000 cây/ha.
Các chỉ tiêu theo dõi gồm: Số hoa dòng bố có
thể cung cấp cho 1 cây dòng mẹ; tỷ lệ đậu quả
(%), số hạt chắc/quả, tỷ lệ hạt chắc; năng suất
hạt, khối lượng 1.000 hạt (g), tỷ lệ nảy mầm của
hạt lai GL1-2 (%), tỷ lệ hàm lượng chất khô của
cây con (g).
Kỹ thuật sản xuất hạt lai GL1-2: Các thí
nghiệm được gieo từ ngày 16/02/2017. Dòng mẹ
trồng trước dòng bố 3 ngày. Khử đực và thụ
phấn bằng tay. Ngắt bỏ hết tất cả nụ hoa đực
khi mới xuất hiện trên cây của dòng mẹ. Tiến
hành bao hoa cái của dòng mẹ trước khi hoa nở
1-2 ngày bằng túi chuyên dụng. Khi hoa của
dòng bố nở, vào buổi sáng (8-11 giờ), chọn hoa
đực mới nở và không bị dị dạng để thụ cho hoa
cái của dòng mẹ trong thí nghiệm 1 và thí
nghiệm 3. Thí nghiệm 2 được tiến hành theo
từng thời điểm thụ phấn trong thí ngiệm. Mỗi
hoa đực thụ cho 1 hoa cái. Trên mỗi cây dòng
Xác định một số thông số kỹ thuật thích hợp cho sản xuất hạt giống dưa chuột lai F1 GL1-2 ở vùng Đồng bằng và
Trung du Bắc bộ
410
mẹ, lai 7-10 hoa cái từ đốt thứ 6 trở lên. Lai tập
trung trong 7 ngày. Sau khi thụ phấn 3-5 ngày,
tỉa bớt quả, chọn giữ lại trên cây mẹ 2 quả lai
phát triển tốt, cân đối, không bị sâu bệnh hại để
làm giống.
2.3. Xử lý thống kê
Số liệu được phân tích và xử lý thống kê
theo phương pháp phân tích phương sai bằng
IRRISTART 5.0. Sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa
(LSD) ở mức độ tin cậy (P ≤0,05).
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Tỷ lệ cây bố/cây mẹ thích hợp cho sản
xuất hạt lai GL1-2
Bảng 1 cho thấy số hoa của dòng bố có thể
cung cấp cho một cây của dòng mẹ ao động từ
3,50-8,80 hoa trong điều kiện Hà Nội, từ 3,47-
8,75 hoa trong điều kiện Thái Nguyên. Mỗi cây
mẹ có 7-10 hoa cái được lai. Mỗi hoa đực cây bố
lai với 1 hoa cái của cây mẹ. Như vậy, tỷ lệ cây
bố/cây mẹ là 1/4 và 1/5 với điều kiện trồng ở Hà
Nội và tỷ lệ 1/4 trồng ở Thái Nguyên mới đáp
ứng đủ 7 hoa đực cho sản xuất hạt lai GL1-2.
Kết quả này cũng cho thấy tỷ lệ cây bố/cây mẹ
có ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu quả, số hạt chắc và
tỷ lệ hạt chắc. Tỷ lệ cây bố/cây mẹ 1/4 đến 1/6
tương ứng tại Hà Nội và Thái Nguyên cho tỷ lệ
đậu quả đạt cao tới 66,20% và 63,55%, số hạt
chắc/quả nhiều (162,25 hạt và 154,10 hạt) và tỷ
lệ hạt chắc rõ rệt (86,23% và 82,78%).
Tỷ lệ cây bố/cây mẹ ảnh hưởng rõ rệt đến
năng suất hạt cá thể, khối lượng hạt và tỷ lệ
nảy mầm của hạt lai F1 GL1-2 như kết quả ở
bảng 2. Tỷ lệ cây bố/cây mẹ giảm từ 1/4 đến 1/10
dẫn đến năng suất cá thể giảm theo mức tương
ứng từ 8,57 g/cây ở tỷ lệ 1/4 xuống 4,50 g/cây ở
tỷ lệ 1/10 trong điều kiện ở Hà Nội, và giảm từ
7,82 g/cây ở tỷ lệ 1/4 xuống 4,02 g/cây ở tỷ lệ
1/10 trong điều kiện ở Thái Nguyên. Ở tỷ lệ 1/4,
do số hoa đực nhiều, nhiều cơ hội chọn được hoa
đực tốt cho lai tạo nên chất lượng hạt tăng, thể
hiện ở khối lượng hạt lớn (sai khác có ý nghĩa ở
LSD0,05) đạt 26,40 g/1.000 hạt ở Hà Nội và 5,35
g/1.000 hạt ở Thái Nguyên; Tỷ lệ nảy mầm rất
cao, đạt 99,20% ở Hà Nội và 95,20% ở Thái
Nguyên. Hàm lượng chất khô của cây con cũng ở
công thức tỷ lệ 1/4 khi trồng ở Hà Nội đạt
13,38%, cao hơn hẳn các công thức khác.
Bảng 1. Ảnh hưởng của tỷ lệ cây bố/cây mẹ đến khả năng ra hoa, đậu quả
và kết hạt của giống dưa chuột lai GL1-2
Tỷ lệ cây
bố/mẹ
Số hoa dòng bố có thể cung
cấp cho 1 cây dòng mẹ (hoa)
Tỷ lệ đậu quả (%) Số hạt chắc/quả (hạt) Tỷ lệ hạt chắc (%)
Hà Nội Thái Nguyên Hà Nội
Thái
Nguyên
Hà Nội
Thái
Nguyên
Hà Nội
Thái
Nguyên
¼ 8,80
a
8,75
a
66,20
a
63,55
a
162,25
a
154,10
a
86,23
a
82,78
a
1/5 7,00
b
6,96
b
65,35
a
63,40
a
136,69
b
130,95
b
84,39
ab
81,86
ab
1/6 5,83
bc
5,75
bc
63,00
ab
60,84
a
125,49
c
119,90
c
82,56
b
79,67
ab
1/7 5,00
cd
4,86
cd
60,10
b
57,70
b
112,11
de
106,03
de
83,40
ab
80,06
ab
1/8 4,38
de
4,29
cd
52,85
c
50,48
c
114,10
d
107,85
d
81,97
b
77,96
bc
1/9 3,89
de
3,89
d
48,20
d
46,51
cd
116,74
cd
112,19
cd
76,80
c
74,12
c
1/10 3,50
e
3,47
d
43,00
e
41,75
d
101,50
e
97,79
e
76,61
c
74,31
c
CV% 18.54 19.28 15,64 16,21 11,14 8,85 3,52 4,60
LSD05 1,31 1,48 4,65 5,51 17,44 15,60 4,74 4,98
Ghi chú: Các giá trị trung bình mang chữ a, b,c là khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 5%
Lê Thị Thu, Phạm Mỹ Linh, Trần Thị Minh Hằng
411
Bảng 2. Ảnh hưởng của tỷ lệ cây bố/cây mẹ đến năng suất
và chất lượng hạt giống dưa chuột lai GL1-2
Tỷ lệ
cây bố/mẹ
Năng suất hạt cá thể
(g/cây)
Khối lượng 1000 hạt (g) Tỷ lệ nảy mầm (%)
Hàm lượng chất khô ở cây
con (%)
*
Hà Nội Thái Nguyên Hà Nội Thái Nguyên Hà Nội Thái Nguyên Hà Nội Thái Nguyên
1/4 8,57
a
7,82
a
26,40
a
25,35
a
99,20
a
95,20
a
13,38
ns
12,85
ns
1/5 6,92
b
6,46
b
25,42
ab
24,66
a
95,00
b
92,15
ab
13,32
ns
12,92
ns
1/6 6,28
bc
5,80
b
25,01
ab
24,14
ab
93,63
b
90,35
bc
13,00
ns
12,55
ns
1/7 5,50
c
4,97
c
24,52
abc
23,54
ab
89,87
c
86,28
cd
11,93
ns
12,42
ns
1/8 5,36
c
4,96
c
23,45
bcd
22,39
ab
88,50
c
84,52
d
12,73
ns
12,16
ns
1/9 5,26
c
4,87
c
22,48
cd
21,69
ab
88,50
c
85,40
d
11,90
ns
11,97
ns
1/10 4,50
d
4,02
d
22,20
d
20,56
b
85,23
d
82,64
d
11,40
ns
12,03
ns
CV (%) 16,99 17,65 7,59 10,71 3,24 4,68 2,09 2,16
LSD05 0,73 0,82 2,27 3,93 12,22 13,54 9,90 8,81
Ghi chú: (*) đo ở giai đoạn cây con 10 ngày tuổi (1-2 lá thật; a, b,c là khác biệt các giá trị trung bình ở mức ý
nghĩa 5%, ns là không sai khác.
Tỷ lệ cây bố/cây mẹ 1/4 thích hợp cho sản
xuất hạt lai F1 GL1-2 ở Hà Nội và Thái Nguyên.
Tỷ lệ này cũng được áp dụng phổ biến trong sản
xuất hạt ưa chuột lai trên thế giới trong trường
hợp dòng bố là dạng cây đơn tính cùng gốc. Tỷ lệ
1/3 cũng được áp dụng ở một số nghiên cứu trên
thế giới. Với cây bố dạng hoa đơn tính đực, tỷ lệ
1/5-1/10 được khuyến cáo áp dụng trong quy
trình của Niego & cs. đã được đăng ký sáng chế
tại Cơ quan Sáng chế Hoa Kỳ năm 1989 (Ka i
& cs., 2014).
3.2. Kết quả nghiên cứu xác định thời điểm
thụ phấn thích hợp cho sản xuất hạt lai
GL1-2
Bảng 3 cho thấy tỷ lệ đậu quả, số hạt
chắc/quả và tỷ lệ hạt chắc có chiều hướng giảm
dần theo thời điểm thụ phấn từ 8-15h trong
ngày ở cả hai điểm nghiên cứu tại Hà Nội và
Thái Nguyên. Trong đó, khi thụ phấn từ 13 giờ
trở đi có tỷ lệ đậu quả và số hạt chắc trên quả
giảm đi đáng kể. Thụ phấn cho ưa chuột trong
khoảng thời điểm từ 8-11 giờ cho tỷ lệ đậu quả
cao trên 60% và đạt cao nhất trong khoảng thời
điểm 8-9 giờ ở cả 2 điểm nghiên cứu. Thụ phấn
trong khoảng 8-9h cho số hạt chắc trên quả
nhiều (117,74 hạt/quả) ở Hà Nội và (112,49
hạt/quả) ở Thái Nguyên; tỷ lệ hạt chắc đạt tới
84,40% ở Hà Nội và 80,06% ở Thái Nguyên.
Kết quả nghiên cứu này cũng tương tự với kết
quả nghiên cứu của Kaddi & cs. (2015) khi
nghiên cứu thời điểm thụ phấn thích hợp cho
giống ưa chuột Pant Shankar Khira-1 trong
điều kiện ở New Dehli, Ấn Độ. Bên cạnh đó, số
quả đậu/cây và số hạt/quả giảm dần khi
thời điểm thụ phấn muộn hơn trong ngày, 7-11
giờ sáng.
Năng suất và chất lượng hạt lai F1 GL1-2
cũng giảm rõ rệt theo thời điểm thụ phấn muộn
dần từ 8 giờ sáng đến 15 giờ chiều (Bảng 4).
Trong đó, thụ phấn trong khoảng 8-9h cho
năng suất hạt cá thể đạt 6,17 g/cây ở Hà Nội và
5,60 g/cây ở Thái Nguyên; Khối lượng 1.000 hạt
lớn 26,20g ở Hà Nội và 24,91g ở Thái Nguyên;
Tỷ lệ nảy mầm của hạt cao (98,33%) ở Hà Nội
và (95,40%) ở Thái Nguyên; Hàm lượng chất
khô của cây con cũng vượt các công thức khác,
đạt 15,78% ở Hà Nội và 15,15% ở Thái Nguyên.
Nghiên cứu của Ka i & cs. (2015) cũng cho
kết quả tương tự năng suất cá thể và khối
lượng 100 hạt ưa chuột đạt cao nhất khi thụ
phấn lúc 7 giờ sáng so với 9 giờ và 11 giờ sáng.
Xác định một số thông số kỹ thuật thích hợp cho sản xuất hạt giống dưa chuột lai F1 GL1-2 ở vùng Đồng bằng và
Trung du Bắc bộ
412
Bảng 3. Ảnh hưởng của thời điểm thụ phấn trong ngày đến khả năng đậu quả
và kết hạt của giống dưa chuột lai GL1-2
Thời điểm
thụ phấn
Tỷ lệ đậu quả (%) Số hạt chắc/quả (hạt) Tỷ lệ hạt chắc (%)
Hà Nội Thái Nguyên Hà Nội Thái Nguyên Hà Nội Thái Nguyên
8-9h 70,23
a
67,41
a
117,74
a
112,49
a
84,40
a
80,06
a
9-10h 67,07
ab
65,05
a
98,40
b
93,58
b
82,00
ab
78,51
ab
10-11h 64,50
b
62,24
a
95,03
b
91,48
b
82,63
a
78,39
ab
13-14h 51,33
c
49,28
b
86,66
c
80,84
c
79,80
b
74,30
b
14-15h 45,67
d
43,58
b
86,40
c
81,13
c
80,00
b
75,83
ab
CV (%) 16,98 17,40 12,74 13,73 2,45 5,05
LSD05 4,21 5,30 7,44 8,83 5,58 4,10
Ghi chú: a, b,c là khác biệt các giá trị trung bình ở mức ý nghĩa 5%.
Bảng 4. Ảnh hưởng của thời điểm thụ phấn đến năng suất
và chất lượng hạt giống dưa chuột lai GL1-2
Thời điểm
thụ phấn
Năng suất hạt cá thể
(g/cây)
Khối lượng 1.000 hạt
(g)
Tỷ lệ nảy mầm
(%)
Hàm lượng chất khô ở cây con
(%)
*
Hà Nội Thái Nguyên Hà Nội
Thái
Nguyên
Hà Nội
Thái
Nguyên
Hà Nội Thái Nguyên
8-9h 6,17
a
5,60
a
26,20
a
24,91
a
98,33
a
95,40
a
15,78
a
15,15
a
9-10h 4,87
b
4,42
b
24,70
ab
23,60
a
90,33
b
87,62
b
13,97
ab
13,55
ab
10-11h 4,57
bc
4,17
bc
24,00
b
22,77
ab
89,33
b
86,21
b
14,00
ab
13,51
ab
13-14h 3,66
c
3,20
c
21,00
c
19,84
bc
88,68
b
85,14
b
12,35
ab
11,86
ab
14-15h 3,67
c
3,32
c
21,20
c
20,56
c
88,03
b
84,07
b
12,03
b
11,49
b
CV (%) 17,68 17,25 9,51 10,26 4,80 4,62 2,46 2,81
LSD05 1,10 0,86 1,62 2,58 4.94 4,97 13,22 14.40
Ghi chú: a, b,c là khác biệt ở mức ý nghĩa 5%.
Bảng 5. Ảnh hưởng của tuổi quả giốngđến năng suất
và chất lượng hạt giống dưa chuột lai GL1-2
Tuổi quả giống
(ngày tuổi)
Năng suất hạt cá thể
(g/cây)
Khối lượng 1.000 hạt
(g)
Tỷ lệ nảy mầm
(%)
Hàm lượng chất khô ở cây con
(%)
*
Hà Nội
Thái
Nguyên
Hà Nội
Thái
Nguyên
Hà Nội
Thái
Nguyên
Hà Nội Thái Nguyên
20 4,45
ab
4,14
b
21,73
c
20,95
c
89,37
c
88,33
c
13,17
ns
12,53
ns
25 4,91
ab
4,53
ab
23,30
b
22,33
bc
90,03
c
90,33
bc
13,53
ns
12,70
ns
30 5,15
a
4,65
ab
26,17
a
24,43
ab
93,67
b
94,33
b
13,50
ns
12,23
ns
35 5,27
a
4,96
a
26,44
a
25,67
a
98,00
a
95,67
a
13,33
ns
12,73
ns
40 4,23
b
3,86
b
22,53
bc
21,53
c
89,50
c
89,40
bc
13,03
ns
12,73
ns
CV (%) 11,21 11,57 8,76 9,27 1,59 4,33 1,26 2,46
LSD05 0,71 0,55 1,50 2,27 7,84 8,72 7,24 9,20
Ghi chú: a, b,c là khác biệt ở mức ý nghĩa 5%, ns là không sai khác .
Lê Thị Thu, Phạm Mỹ Linh, Trần Thị Minh Hằng
413
3.3. Kết quả nghiên cứu xác định thời gian
thu hoạch quả giống (tuổi quả giống) thích
hợp cho sản xuất hạt lai GL1-2
Sự sai khác có ý nghĩa về năng suất hạt,
khối lượng 1.000 hạt và tỷ lệ nảy mầm của hạt ở
các quả có độ tuổi quả khác nhau (Bảng 5).
Riêng hàm lượng chất khô không sai khác rõ
giữa các công thức thí nghiệm. Thu hoạch quả
35 ngày tuổi cho năng suất hạt đạt tới 5,27
g/cây ở Hà Nội và 4,96 g/cây ở Thái Nguyên;
Khối lượng 1.000 hạt lớn 26,44g ở Hà Nội
và25,67g ở Thái Nguyên; Tỷ lệ nảy mầm cao
98,00% ở Hà Nội và 95,67% ở Thái Nguyên. Các
chỉ tiêu này cao hơn ở mức có ý nghĩa LSD0,05 so
với các công thức thu hoạch quả sớm ở 20-25
ngày tuổi hoặc thu muộn hơn ở 40 ngày tuổi.
Thời gian thu hoạch quả giống tối ưu trong
nghiên cứu này ngắn hơn so với kết quả đã c ng
bố trước đây của nhiều tác giả các giống ưa
chuột và vùng sinh thái địa lý khác nhau
(Barbedo & cs., 1993; Nandeesh & cs., 1995;
Barbedo & cs., 1999).
Khả năng chống chịu sâu bệnh hại ưa
chuột GL1-2 là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới
sinh trưởng và hiệu quả của sản xuất ưa chuột.
Qua theo dõi tình hình nhiễm bệnh hại của các
thí nghiệm cho thấy, trên các thí nghiệm đều có
nhiễm bệnh giả sương mai (Pseu operonospora
cubensis) và bệnh phấn trắng (Erysiphe
cichoarcearum) ở mức độ thấp và trung bình
(cấp 1 đến cấp 3) và bọ xít (Halyomorpha halys)
gây hại ở mức 15,7% (theo QCVN 01-
38:2010/BNNPTNT).
4. KẾT LUẬN
Trong quy trình sản xuất hạt lai F1 giống
ưa chuột GL1-2 trong vụ Xuân Hè ở vùng đồng
bằng (Hà Nội) và trung du Bắc bộ (Thái
Nguyên), tỷ lệ trồng cây bố/cây mẹ thích hợp là
1/4, đảm bảo cung cấp đủ 8,75-8,80 hoa đực cho
1 cây mẹ đã cho tỷ lệ đậu quả, kết hạt cao, năng
suất và chất lượng hạt đạt cao. Khoảng thời
điểm 8-9 giờ sáng thụ phấn tốt cho dòng mẹ và
thu hoạch quả giống 30-35 ngày sau thụ phấn
đã cho năng suất hạt cao, khối lượng hạt lớn và
tỷ lệ nảy mầm đạt trên 95%.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Barbedo C.J., Coelho A.S., Zanin A.C.W. &
Nakagawa, J. (1993). Influence of age of cucumber
fruits on seed quality. Horticultura Brasileira.
11: 18-21.
Barbedo C.J., Barbedo A.S.C., Nakagawa J. & Sato O.
(1999). Effect of Fruit Age and post-harvest Period
of Cucumber on Stored Seeds. Pesquisa
Agropecuária Brasileira. 34(5): 839-847.
Carvalho N.M. & Nakagawa J. (2000). Seeds: Science,
technology and production. 4. ed. Jaboticabal:
FUNEP. p. 588.
Kaddi G., Tomar B.S., Singh B. & Kumar S. (2014).
Effect of growing conditions on seed yield and
quality of cucumber (Cucumis stivus) hybrid.
Indian Journal of Agricultural Sciences.
84(5): 624-7.
Kaddi G., Tomar B.S. & Singh B. (2015). Effect of
pollination time on fruit set and seed yield in
hybrid seed production of cucumber (Cucumis
sativus) cv. Pant Shankar Khira 1. under different
growing conditions. Indian Journal of Agricultural
Sciences. 85(5): 725-729.
Nandeesh J., Gowda S. & Rame Gowd G. (1995).
Studies on the stage of harvest and post-harvest
ripening on seed quality in cucumber (Cucumis
sativus L.). Seed Research. 23(2): 113-115.
Niên giám thống kê (2019). Nông nghiệp, Lâm nghiệp,
Thủy sản. Nhà xuất bản Thống kê.
Phạm Mỹ Linh, Ngô Thị Hạnh, Lê Thị Tình & Nguyễn
Tuấn Dũng (2013). Kết quả nghiên cứu chọn tạo
giống dưa chuột lai F1 GL1-2. Tạp chí Khoa học và
Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam. 3: 3-9.
Quy chuẩn QCVN 01-38:2010/BNNPTNT (2010). Quy
chuẩn kỹ thuật quốc gia về phương pháp điều tra,
phát hiện dịch hại cây trồng.
Shakti P.S. (1990). Pollination and seed setting studies
in cucumber (Cucumis sativus L.). Vegetable
Science. 17(1): 99-101.
Shlomo N., Maskeret B., Esra G. & Margalith L.
(1989). Production of hybrid cucumber seeds.
United States Patent. Patent Number: 4, 822, 949.
Date of Patent: Apr. 18, 1989.
Sidhu A. S., Kallo G. & Pandita M. C. (1980). Studies
on some important aspects of floral biology in
vegetable crops. A Review. Haryana Journal of
Horticultural Science. 9: 207-217.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
xac_dinh_mot_so_thong_so_ky_thuat_thich_hop_cho_san_xuat_hat.pdf