Kết quả xác định nhu cầu nước tưới
cho cây Lạc vụ xuân
Với các kết quả xác định ETc, Pe ở các phần
trên, thay vào phương trình (2) xác định được
nhu cầu nước tưới của cây Lạc (IWR) trong suốt
thời kỳ sinh trưởng như trong bảng 4.
Thông qua tính toán, xác định được tổng
lượng nước cần tưới cho cây Lạc vụ xuân là
196,4 mm tương ứng với 1964 m3/ha. Theo Tiêu
chuẩn Quốc gia TCVN 8611 : 2011 – Công
trình thủy lợi, Kỹ thuật tưới tiêu nước cho cây
lương thực và cây thực phẩm, đối với cây Lạc,
tổng mức tưới cả vụ trung bình 2000 m3/ha. Do
vậy, kết quả tính toán lượng nước cần tưới cho
cây Lạc trong bài báo này phù hợp với Tiêu
chuẩn Quốc gia TCVN 8611 : 2011.
III. KẾT LUẬN
Việc xác định nhu cầu nước tưới cho cây
trồng là cơ sở quan trọng của công tác quản lý
tưới và xác định loại hình cây trồng. Bài báo thực
hiện việc phân tích phương pháp tính nhu cầu
nước cho cây Lạc bằng cách áp dụng phương
pháp hệ số cây trồng. Trong đó đã sử dụng
phương trình FAO Penman – Monteith và tài liệu
khí tượng trạm khí tượng Văn Lý (Nam Định) để
xác định lượng bốc thoát hơi nước cây trồng
tham khảo ETo, đồng thời sử dụng phương pháp
hệ số cây trồng đơn và tài liệu về thời vụ gieo
trồng của cây Lạc vụ xuân, tài liệu thực nghiệm
về các chỉ tiêu cơ lý của đất tại thị trấn Thịnh
Long, huyện Hải Hậu (Nam Định) do Viện
Nước, Tưới tiêu và Môi trường thực hiện để tiến
hành tính toán xác định các giá trị hệ số cây trồng
Kc của cây Lạc. Từ đó xác định được lượng bốc
thoát hơi nước của cây trồng ETc và nhu cầu
nước tưới cho cây Lạc vụ xuân. Các kết quả này
tương đối phù hợp với Tiêu chuẩn Quốc gia
TCVN 8611 : 2011 – Công trình thủy lợi, Kỹ
thuật tưới tiêu nước cho cây lương thực và cây
thực phẩm. Do vậy, có thể áp dụng phương trình
FAO Penman – Monteith và phương pháp hệ số
cây trồng đơn để tính toán nhu cầu nước của cây
Lạc và các loại cây trồng cạn khác, nhằm cung
cấp tài liệu tham khảo cho công tác quản lý tưới.
7 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 9 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Xác định nhu cầu nước tưới cho cây lạc bằng phương trình FAO Penman – Monteith và phương pháp hệ số cây trồng đơn, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG - SỐ 46 (9/2014)
79
XÁC ĐỊNH NHU CẦU NƯỚC TƯỚI CHO CÂY LẠC BẰNG PHƯƠNG TRÌNH
FAO PENMAN – MONTEITH VÀ PHƯƠNG PHÁP HỆ SỐ CÂY TRỒNG ĐƠN
Nguyễn Quang Phi1
Tóm tắt: Bài báo áp dụng phương pháp hệ số cây trồng để xác định nhu cầu nước cho cây Lạc.
Trong đó sử dụng phương trình FAO Penman – Monteith tính toán bốc thoát hơi nước cây trồng
tham khảo ETo và phương pháp hệ số cây trồng đơn để xác định hệ số cây trồng Kc cho các giai
đoạn sinh trưởng của cây Lạc. Bài báo sử dụng tài liệu khí tượng của trạm khí tượng Văn Lý (Nam
Định), tài liệu thổ nhưỡng và các chỉ tiêu cơ lý của đất khu vực thị trấn Thịnh Long (Hải Hậu, Nam
Định) để xác định nhu cầu tưới cho cây Lạc vụ xuân trong khu vực nghiên cứu nhằm cung cấp tài
liệu tham khảo cho việc quản lý tưới cho cây Lạc và qua đó kiến nghị có thể áp dụng phương pháp
này để xác định nhu cầu tưới cho các loại cây trồng cạn khác.
Từ khóa: FAO Penman – Monteith; bốc thoát hơi nước; cây trồng tham khảo; hệ số cây trồng; yêu
cầu nước tưới; cây Lạc.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ1
Lạc là một loài cây công nghiệp ngắn ngày
thuộc họ Đậu có nguồn gốc lịch sử ở Nam Mỹ.
Sản phẩm của Lạc có nguồn protein cao, làm
thức ăn tốt cho người và gia súc, làm nguyên
liệu cho công nghiệp chế biến và là một trong
những cây lấy dầu quan trọng nhất của thế giới.
Cây Lạc ngoài việc là cây trồng có khả năng tạo
tính đa dạng hóa cho sản xuất nông nghiệp bằng
các hình thức trồng xen canh, trồng gối vụ nhằm
nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp và che
phủ bảo vệ đất chống xói mòn, rửa trôi và Lạc
còn có ý nghĩa lớn trong việc cải tạo đất do khả
năng cố định đạm của nó.
Cây Lạc không yêu cầu cao về độ phì của đất
trồng, thường được trồng trên các vùng đất cát
ven biển, đất bạc màu, đất xám, đất đỏ bazan,
đất dốc miền núi và đất phù sa. Lạc cho năng
suất cao nhất trên đất thịt nhẹ, cát pha, có kết
cấu tơi xốp, có khả năng giữ nước và thoát nước
tốt. Ở Việt Nam cây Lạc được trồng chủ yếu ở 4
vùng lớn là Miền núi và Trung du Bắc Bộ, đồng
bằng Sông Hồng, Bắc Trung Bộ và Đông Nam
Bộ, còn lại rải rác ở một số vùng. Ở các tỉnh
miền Bắc, Lạc xuân được gieo trồng tốt nhất là
1 Trường Đại học Thủy lợi.
vào tháng 2 hàng năm và thu hoạch vào tháng 5,
6; Lạc thu gieo trồng vào tháng 7, 8 và thu
hoạch vào tháng 11, 12; Lạc đông gieo trồng
vào tháng 8, 9 và thu hoạch tháng 12, tháng 1
năm sau.
Mặc dù Lạc thường được xem là một loại cây
trồng chịu hạn, song chỉ có khả năng chịu hạn ở
một giai đoạn sinh trưởng nhất định. Ngoài ra,
thiếu nước ở các thời kỳ khác đều ảnh hưởng
đến năng suất nên nước là yếu tố có ảnh hưởng
rất lớn đến sinh trưởng phát triển và năng suất,
chất lượng của cây Lạc. Yêu cầu nước tưới cả
vụ của cây Lạc trung bình khoảng 2000 m3/ha,
tùy theo sự thay đổi của các yếu tố khí hậu. Lạc
vụ xuân ở các tỉnh miền Bắc vào các thời kỳ
gieo và ra hoa – kết quả khả năng hạn thường
xảy ra, còn Lạc vụ đông thì khả năng hạn
thường xảy ra vào thời kỳ ra hoa – chín. Mặt
khác, vì các yếu tố khí hậu thường thay đổi, nên
việc đảm bảo nước cho cây Lạc trong các vụ
này rất quan trọng trong quá trình sinh trưởng
và phát triển của cây Lạc, đồng thời để đảm bảo
năng suất cao và chất lượng tốt.
Chính vì vậy, bài báo này ứng dụng phương
trình FAO Penman – Monteith và phương pháp
xác định hệ số cây trồng Kc theo khuyến nghị
của FAO và dựa trên tài liệu khí tượng của trạm
KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG - SỐ 46 (9/2014) 80
khí tượng Văn Lý (Nam Định), tài liệu thực
nghiệm xác định các chỉ tiêu cơ lý của đất trồng
Lạc do Viện Nước, Tưới tiêu và Môi trường
thực hiện tại thị trấn Thịnh Long, huyện Hải
Hậu (Nam Định) để phân tích và tính toán nhu
cầu nước tưới của cây Lạc vụ xuân nhằm cung
cấp tài liệu tham khảo cho việc quản lý tưới của
cây Lạc.
II. PHƯƠNG PHÁP VÀ KẾT QUẢ TÍNH TOÁN
2.1. Phương trình cân bằng nước xác định
nhu cầu nước tưới cho cây Lạc
Lạc là cây trồng cạn, phát triển trên môi
trường đất ẩm, nhu cầu nước tưới cho cây trồng
cạn nói chung được xác định dựa trên phương
trình cân bằng nước viết cho tầng đất ẩm nuôi
cây, phương trình cân bằng nước có dạng:
IWRi =Dri + ETci – Pei – CRi (1)
Trong đó: IWRi – lượng nước yêu cầu tưới
trong thời đoạn thứ i (mm); Dri – sự thay đổi
lượng nước chứa trong tầng đất trong thời đoạn
thứ i (mm); ETci – lượng bốc thoát hơi nước cây
trồng trong thời đoạn thứ i (mm); Pei – lượng
mưa hiệu quả trong thời đoạn thứ i (mm); CRi –
lượng nước mao dẫn từ mặt nước ngầm trong
thời đoạn thứ i (mm).
Theo kết quả thăm dò mực nước ngầm do
Viện Nước, Tưới tiêu và Môi trường thực hiện
tại khu vực nghiên cứu, khi đào thăm dò xuống
đến độ sâu 1,5 m bắt đầu xuất hiện nước mạch,
trong khi đó cây Lạc có bộ rễ nông, cây trưởng
thành có bộ rễ ăn sâu khoảng 20 – 25 cm. Vì
vậy, theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp
Liên Hiệp Quốc (FAO) khi mực nước ngầm
nằm dưới đáy tầng rễ cây trên 1,0 m thì có thể
coi CR 0. Do độ ẩm của đất được tưới trong
một thời đoạn thay đổi không đáng kể nên có
thể bỏ qua sự thay đổi này, tức Dri 0. Vì vậy,
phương trình (1) xác định nhu cầu nước tưới
cho Lạc để có được năng suất cao và ổn định có
thể được đơn giản hóa thành:
IWRi =ETci – Pei (2)
2.2. Xác định lượng bốc thoát hơi nước
ETc của cây Lạc
Lượng bốc thoát hơi nước của cây trồng ETc
được xác định theo phương pháp hệ số cây
trồng bằng cách nhân ETo với hệ số Kc.
ETc = KcETo (3)
Trong đó: Kc – hệ số cây trồng; ETo – lượng
bốc thoát hơi nước cây trồng tham khảo.
2.2.1. Xác định lượng bốc thoát hơi nước
cây trồng tham khảo ETo
Theo FAO: Tỷ lệ bốc thoát hơi nước từ một
bề mặt tham khảo, không thiếu nước được gọi là
bốc thoát hơi nước cây trồng tham khảo hoặc bốc
thoát hơi nước tham khảo và được ký hiệu là
ETo. Bề mặt tham khảo là một loại cây cỏ tham
khảo giả định với các đặc điểm cụ thể là chiều
cao cây trồng giả định 0,12 m; sức cản bề mặt lá
cố định là 70 s/m và hệ số phản xạ là 0,23. Bề
mặt tham khảo gần giống với một bề mặt rộng
lớn của thảm cỏ xanh được tưới nước đầy đủ, cao
đều, phát triển tốt và phủ kín bề mặt đất.
1) Phương trình FAO Penman – Monteith
Phương trình FAO Penman – Monteith hiện
nay được khuyến cáo như là phương pháp tiêu
chuẩn duy nhất để định nghĩa và tính toán bốc
thoát hơi nước tham khảo, nó dựa trên sự cân
bằng năng lượng và lý thuyết khuếch tán hơi
nước, nó không những xem xét đặc điểm sinh lý
của cây trồng mà còn xem xét sự thay đổi các
tham số khí động học. Phương pháp FAO
Penman – Monteith đòi hỏi số liệu về bức xạ,
nhiệt độ không khí, độ ẩm không khí và tốc độ
gió, do vậy phương pháp FAO Penman –
Monteith được cho là phương pháp tiêu chuẩn
duy nhất để tính ETo từ dữ liệu khí tượng.
Phương trình FAO Penman – Monteith có dạng:
Hình 1. Đặc điểm của cây trồng tham khảo
giả định (FAO)
KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG - SỐ 46 (9/2014)
81
)0,34uγ(1Δ
)e(eu
273T
900
γGR0,408Δ
ET
2
as2n
o
(mm/ngày) (4)
Trong đó: ETo – lượng bốc thoát hơi nước
cây trồng tham khảo (mm/ngày); Rn – bức xạ
thực trên bề mặt cây trồng (MJ/m2/ngày); G –
mật độ thông lượng nhiệt của đất (MJ/m2/ngày);
T – nhiệt độ không khí trung bình ngày ở độ cao
2 m (oC); u2 – tốc độ gió ở độ cao 2 m (m/s); es –
áp suất hơi nước bão hòa (kPa); ea – áp suất hơi
nước thực tế (kPa); – độ dốc của đường cong
áp suất hơi nước (kPa/oC) và – hằng số ẩm
(kPa/oC).
2) Kết quả tính lượng bốc thoát hơi nước cây
trồng tham khảo ETo
Xác định ETo theo phương trình (4) chủ yếu
dựa vào tài liệu khí tượng và vị trí địa lý của
khu vực tính toán, bao gồm: nhiệt độ tối đa,
nhiệt độ tối thiểu, độ ẩm tương đối trung bình,
tốc độ gió ở độ cao 2 m, bức xạ mặt trời và vĩ
độ, độ cao. Trong bài báo này sử dụng tài liệu
khí tượng của trạm khí tượng Văn Lý (Nam
Định) để tính toán xác định lượng bốc thoát hơi
nước cây trồng tham khảo ETo và kết quả tính
ETo được thể hiện trong bảng 1.
Bảng 1. Lượng bốc thoát hơi nước cây trồng tham khảo ETo (mm/ngày)
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
ETo 2,0 2,4 2,5 2,7 4,0 5,0 5,3 4,2 4,0 3,8 2,8 2,6
2.2.2. Xác định hệ số cây trồng Kc
Hệ số biểu thị sự khác nhau trong bốc thoát
hơi nước giữa bề mặt cỏ được cắt xén và tham
khảo. Sự khác nhau đó có thể được kết hợp
thành một hệ số duy nhất hoặc có thể được chia
thành hai yếu tố mô tả một cách riêng biệt sự
khác biệt trong sự bay hơi và thoát hơi nước
giữa hai bề mặt.
Theo FAO, ở trạng thái tiêu chuẩn (không có
căng thẳng về nước) hệ số cây trồng được tính
theo hai phương pháp: (1) phương pháp hệ số
cây trồng đơn, đây là phương pháp tương đối
đơn giản, dễ tính, có thể sử dụng trong công tác
lập quy hoạch thiết kế và quản lý hệ thống tưới;
(2) phương pháp hệ số cây trồng kép, đây là
phương pháp tính toán cân bằng nhu cầu nước
hàng ngày, tính toán phức tạp, yêu cầu tài liệu
nhiều, thường được sử dụng trong công tác
nghiên cứu chế độ tưới và phân tích cân bằng
nước mặt ruộng.
Việc xác định lượng nước tưới cho cây Lạc
thường được sử dụng cho công tác quản lý tưới,
do vậy trong bài báo này sử dụng phương pháp
hệ số cây trồng đơn để xác định hệ số cây trồng
Kc của cây Lạc.
1) Hệ số cây trồng đơn
Trong phương pháp hệ số cây trồng đơn, tác
động của thoát hơi nước từ cây trồng và bốc hơi
nước từ đất được kết hợp chặt chẽ thành một hệ
số cây trồng Kc duy nhất. Phương pháp này khái
quát quá trình thay đổi của hệ số cây trồng
thành một vài giai đoạn. Đối với hầu hết các
loại cây trồng, quá trình thay đổi hệ số cây trồng
có thể khái quát thành 3 giá trị của 4 giai đoạn
như hình 2.
Bốn giai đoạn này gồm: (1) giai đoạn đầu vụ,
tính từ khi gieo trồng đến khi độ che phủ mặt
đất của cây trồng đạt khoảng 10%, trong giai
đoạn này hệ số cây trồng là Kc ini; (2) giai đoạn
cây trồng phát triển, tính từ khi độ che phủ mặt
đất của cây trồng bằng 10% đến khi độ che phủ
đạt khoảng 70 – 80%, giai đoạn này hệ số cây
trồng tăng từ Kc ini lên Kc mid; (3) giai đoạn giữa
Hình 2. Đường cong hệ số cây trồng (FAO)
KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG - SỐ 46 (9/2014) 82
vụ, từ khi độ che phủ đạt khoảng 70 – 80% cho
đến thời kỳ bắt đầu trưởng thành, giai đoạn này
hệ số cây trồng là Kc mid và (4) giai đoạn cuối
vụ, tính từ khi bắt đầu trưởng thành đến khi thu
hoạch, giai đoạn này hệ số cây trồng giảm từ Kc
mid xuống Kc end.
2) Xác định hệ số cây trồng theo phương
pháp hệ số cây trồng đơn
Theo FAO, trình tự xác định hệ số cây trồng
theo phương pháp hệ số cây trồng đơn như sau:
(1) xác định các giai đoạn sinh trưởng cây
trồng, xác định thời gian của mỗi giai đoạn và
lựa chọn các hệ số Kc tương ứng cho mỗi giai
đoạn; (2) điều chỉnh các hệ số Kc đã chọn đối
với tần suất làm ẩm hoặc điều kiện khí hậu
trong mỗi giai đoạn và (3) xây dựng đường
cong hệ số cây trồng.
Xác định hệ số cây trồng của một loại cây
trồng cụ thể trong điều kiện tiêu chuẩn bằng
cách tra Bảng 12 trong “Hướng dẫn tính toán
nhu cầu nước của cây trồng – FAO 56”. Điều
kiện tiêu chuẩn ở đây đề cập đến một vùng khí
hậu bán ẩm (độ ẩm tương đối nhỏ nhất, RHmin ≈
45%; tốc độ gió ở độ cao 2 m, u2 ≈ 2 m/s), cung
cấp nước đầy đủ, quản lý tốt, cây trồng phát
triển bình thường, năng suất cây trồng cao. Các
giá trị Kc mid và Kc end trong Bảng 12 là ứng với
vùng khí hậu bán ẩm. Đối với vùng ẩm ướt hơn
hoặc trong điều kiện khô hạn, điều kiện gió lớn
hay nhỏ hơn, hệ số Kc mid và Kc end cần được
điều chỉnh cho phù hợp.
a) Xác định hệ số cây trồng giai đoạn đầu vụ Kc ini
Trong giai đoạn đầu vụ, bốc hơi từ mặt đất
chiếm tỷ lệ lớn trong tổng lượng bốc hơi nước,
do vậy ảnh hưởng của mặt đất phải được xem
xét khi tính toán. Các yếu tố ảnh hưởng chính là
cấu trúc đất, khoảng thời gian trung bình giữa
các lần mưa hoặc tưới, do vậy hệ số cây trồng
Kc ini giai đoạn đầu vụ được xác định theo công
thức (5) hoặc (6):
15,1
ET
E
K
o
so
inic khi tw < t1 (5)
ow
so1w
inic
ETt
TEW
REWTEW
REW
1Ett
expREWTEWTEW
K
khi tw > t1 (6)
Trong đó: tw – khoảng thời gian trung bình
giữa các lần mưa hoặc tưới (ngày); t1 – thời gian
khi giai đoạn 1 khô hoàn toàn (ngày), t1 =
REW/Eso; Eso – mức độ bốc hơi tiềm năng
(mm/ngày), Eso = 1,15ETo; ETo – giá trị ETo
trung bình trong giai đoạn đầu vụ (mm/ngày);
REW – lượng nước dễ bay hơi trong tầng đất
mặt (mm), lượng nước này có quan hệ với kết
cấu đất và được tính như sau:
REW = 20 – 0,15Sa khi Sa 80% (7)
REW = 11 – 0,06Cl khi Cl 50% (8)
REW = 8 + 0,08Cl khi Sa < 80%
và Cl < 50% (9)
với Sa, Cl lần lượt là hàm lượng cát và hàm
lượng sét trong tầng đất bay hơi (%);
TEW – tổng lượng bay hơi nước từ tầng đất
mặt sau khi mưa hoặc tưới (mm), giá trị của
TEW cho giai đoạn đầu vụ được tính như sau:
TEW = 1000 (FC – 0,5WP)Ze khi ETo 5 mm/ngày (10)
5
ET
Z5,01000EWT oeWPFC khi ETo < 5 mm/ngày (11)
FC – độ ẩm tối đa đồng ruộng (m
3/m3); WP
– độ ẩm cây héo (m3/m3); Ze – độ sâu tầng đất
bay hơi (m), Ze = 0,10 – 0,15 m.
b) Xác định hệ số cây trồng giai đoạn giữa
vụ Kc mid
Giá trị Kc mid trong Bảng 12 là giá trị ứng với
KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG - SỐ 46 (9/2014)
83
điều kiện khí hậu tiêu chuẩn. Đối với vùng khí
hậu cụ thể có RHmin 45% hay u2 2 m/s thì
giá trị hệ số Kc mid tra từ Bảng 12 được điều
chỉnh theo công thức (12):
3,0
min2)tab(midcmidc
3
h
45RH004,02u04,0KK
(12)
Trong đó: Kc mid(tab) – giá trị Kc mid tra từ Bảng
12; u2 – tốc độ gió trung bình ngày trong giai
đoạn giữa vụ ở độ cao 2 m (m/s); RHmin – độ ẩm
tương đối thấp nhất hàng ngày trong giai đoạn
giữa vụ (%) và h – chiều cao trung bình của cây
trồng trong giai đoạn giữa vụ (m).
c) Xác định hệ số cây trồng giai đoạn cuối vụ Kc end
Tương tự giá trị Kc mid, trong điều kiện RHmin
45% hay u2 2 m/s giá trị Kc end cũng phải
được điều chỉnh và công thức điều chỉnh là:
3,0
min2)tab(endcendc
3
h
45RH004,02u04,0KK
(13)
Trong đó: Kc end(tab) – giá trị Kc end tra từ Bảng
12; u2 – tốc độ gió trung bình ngày trong giai
đoạn cuối vụ ở độ cao 2 m (m/s); RHmin – độ ẩm
tương đối thấp nhất hàng ngày trong giai đoạn
cuối vụ (%); h – chiều cao trung bình của cây
trồng trong giai đoạn cuối vụ (m).
3) Hệ số cây trồng trong các giai đoạn sinh
trưởng của cây Lạc
Thời kỳ sinh trưởng của cây Lạc được chia
thành 4 giai đoạn sinh trưởng: Mọc mầm – ba lá
(Đầu vụ), Ba lá – ra hoa (Cây trồng phát triển), Ra
hoa – quả chắc (Giữa vụ) và giai đoạn quả chín
(Cuối vụ). Bài báo này dựa vào tài liệu về thời vụ
gieo trồng của cây Lạc vụ xuân và tài liệu thực
nghiệm về các chỉ tiêu cơ lý đất tại thị trấn Thịnh
Long, huyện Hải Hậu (Nam Định) do Viện Nước,
Tưới tiêu và Môi trường thực hiện để tiến hành
tính toán xác định các giá trị hệ số cây trồng. Đất
khu vực thị trấn Thịnh Long là đất cát pha, nghèo
mùn, hàm lượng cát Sa = 65%, hàm lượng sét Cl
= 10%, độ ẩm tối đa đồng ruộng FC = 0,35 m
3/m3
và độ ẩm cây héo WP = 0,05 m
3/m3, độ sâu tầng
đất bay hơi Ze, lấy Ze = 0,10 m.
Với cây Lạc, tra Bảng 12 trong “Hướng dẫn
tính toán nhu cầu nước của cây trồng – FAO
56” xác định được các giá trị hệ số cây trồng
của cây Lạc trong các giai đoạn sinh trưởng như
sau: Hệ số cây trồng giai đoạn giữa vụ Kc mid =
1,15 và hệ số cây trồng giai đoạn cuối vụ Kc end
= 0,60. Hệ số cây trồng của giai đoạn phát triển
(Kc dev) được tính bằng trung bình của hệ số cây
trồng giai đoạn giữa vụ và hệ số cây trồng giai
đoạn đầu vụ.
Do điều kiện khí hậu khu vực nghiên cứu
khác với điều kiện khí hậu tiêu chuẩn nên các
giá trị hệ số Kc được tra từ Bảng 12 nêu trên cần
được điều chỉnh theo các công thức (12) và (13)
ở trên. Căn cứ các tài liệu về khí hậu và đất đai
khu vực nghiên cứu, áp dụng các công thức tính
hệ số cây trồng Kc đã nêu thu được kết quả hệ
số cây trồng trong các giai đoạn sinh trưởng của
cây Lạc vụ xuân như trong bảng 2.
Bảng 2. Hệ số cây trồng Kc trong các giai đoạn sinh trưởng của cây Lạc
Giai đoạn
sinh trường
Mọc mầm – ba lá Ba lá – ra hoa Ra hoa – quả chắc Quả chín
Thời gian Kc ini Thời gian Kc dev Thời gian Kc mid Thời gian Kc end
Hệ số cây trồng 5/2–19/2 0,78 20/2–20/3 0,96 21/3–7/5 1,15 8/5–23/5 0,59
2.2.3. Kết quả xác định lượng bốc thoát hơi
nước ETc của cây Lạc
Lượng bốc thoát hơi nước của cây trồng ETc
được xác định theo phương trình (3), trong đó ảnh
hưởng của điều kiện thời tiết khác nhau được đưa
vào ETo và các đặc tính của cây trồng được đưa
vào Kc. Kết quả tính toán lượng bốc thoát hơi nước
của cây Lạc vụ xuân được thể hiện trong bảng 3.
KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG - SỐ 46 (9/2014) 84
Bảng 3. Lượng bốc thoát hơi nước của cây Lạc vụ xuân
TT Giai đoạn sinh trưởng
Thời gian
Kc ETo (mm) ETc (mm)
Từ ngày... đến ngày...
1 Mọc mầm – ba lá 5/2 19/2 0,79 35,9 28,5
2 Ba lá – ra hoa 20/2 20/3 0,97 70,5 68,6
3 Ra hoa – quả chắc 21/3 7/5 1,15 135,3 155,7
4 Quả chín 8/5 23/5 0,59 64,5 38,1
5 Tổng 306,2 290,9
Từ kết quả bảng 3 cho thấy, tổng lượng bốc
thoát hơi nước cây trồng tham khảo khu vực
nghiên cứu là ETo = 306,2 mm, với cây Lạc vụ
xuân trồng trên đất cát pha tổng lượng bốc thoát
hơi nước trong cả vụ là ETc = 290,9 mm.
2.3. Xác định lượng mưa hiệu quả
Lượng mưa hiệu quả được xác định theo
phương pháp hệ số, tức là lượng mưa hiệu quả
bằng lượng mưa rơi xuống nhân với hệ số sử
dụng nước mưa:
Pe = P (14)
Trong đó: P – lượng mưa rơi xuống ứng với
tần suất thiết kế (mm); – hệ số sử dụng nước
mưa, hệ số sử dụng nước mưa ở đây tính theo
tài liệu kinh nghiệm của Trung Quốc: Khi lượng
mưa P < 5 mm, = 0; khi 5 mm ≤ P ≤ 50 mm,
= 1,0 và khi P > 50 mm, = 0,8.
Căn cứ tài liệu mưa ngày từ năm 1970 đến
2010 của trạm khí tượng Văn Lý, ứng với tần
suất thiết kế 85% tổng lượng mưa trong thời kỳ
sinh trưởng của cây Lạc vụ xuân P = 113,4 mm.
Kết quả tính toán lượng mưa hiệu quả trong các
giai đoạn sinh trưởng của Lạc được nêu trong
bảng 4.
2.4. Kết quả xác định nhu cầu nước tưới
cho cây Lạc vụ xuân
Với các kết quả xác định ETc, Pe ở các phần
trên, thay vào phương trình (2) xác định được
nhu cầu nước tưới của cây Lạc (IWR) trong suốt
thời kỳ sinh trưởng như trong bảng 4.
Bảng 4. Nhu cầu tưới của Lạc vụ xuân
TT
Giai đoạn sinh
trưởng
Thời gian ETc
(mm)
P (mm)
Pe
(mm)
IWR
(mm) Từ ngày... đến ngày...
1 Mọc mầm – ba lá 5/2 19/2 28,5 10,5 10,5 18,0
2 Ba lá – ra hoa 20/2 20/3 68,6 15,9 15,9 52,7
3 Ra hoa – quả chắc 21/3 7/5 155,7 85,1 68,1 87,6
4 Quả chín 8/5 23/5 38,1 1,9 0,0 38,1
5 Tổng 290,9 113,4 94,5 196,4
Thông qua tính toán, xác định được tổng
lượng nước cần tưới cho cây Lạc vụ xuân là
196,4 mm tương ứng với 1964 m3/ha. Theo Tiêu
chuẩn Quốc gia TCVN 8611 : 2011 – Công
trình thủy lợi, Kỹ thuật tưới tiêu nước cho cây
lương thực và cây thực phẩm, đối với cây Lạc,
tổng mức tưới cả vụ trung bình 2000 m3/ha. Do
vậy, kết quả tính toán lượng nước cần tưới cho
cây Lạc trong bài báo này phù hợp với Tiêu
chuẩn Quốc gia TCVN 8611 : 2011.
III. KẾT LUẬN
Việc xác định nhu cầu nước tưới cho cây
trồng là cơ sở quan trọng của công tác quản lý
tưới và xác định loại hình cây trồng. Bài báo thực
hiện việc phân tích phương pháp tính nhu cầu
nước cho cây Lạc bằng cách áp dụng phương
pháp hệ số cây trồng. Trong đó đã sử dụng
phương trình FAO Penman – Monteith và tài liệu
khí tượng trạm khí tượng Văn Lý (Nam Định) để
xác định lượng bốc thoát hơi nước cây trồng
tham khảo ETo, đồng thời sử dụng phương pháp
hệ số cây trồng đơn và tài liệu về thời vụ gieo
trồng của cây Lạc vụ xuân, tài liệu thực nghiệm
về các chỉ tiêu cơ lý của đất tại thị trấn Thịnh
KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG - SỐ 46 (9/2014)
85
Long, huyện Hải Hậu (Nam Định) do Viện
Nước, Tưới tiêu và Môi trường thực hiện để tiến
hành tính toán xác định các giá trị hệ số cây trồng
Kc của cây Lạc. Từ đó xác định được lượng bốc
thoát hơi nước của cây trồng ETc và nhu cầu
nước tưới cho cây Lạc vụ xuân. Các kết quả này
tương đối phù hợp với Tiêu chuẩn Quốc gia
TCVN 8611 : 2011 – Công trình thủy lợi, Kỹ
thuật tưới tiêu nước cho cây lương thực và cây
thực phẩm. Do vậy, có thể áp dụng phương trình
FAO Penman – Monteith và phương pháp hệ số
cây trồng đơn để tính toán nhu cầu nước của cây
Lạc và các loại cây trồng cạn khác, nhằm cung
cấp tài liệu tham khảo cho công tác quản lý tưới.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Allen, R. G., Pereira, L. S., Raes, D., and Smith, M. 1998. “Crop evapotranspiration: Guidelines
for computing crop water requirements” FAO Irrigation and Drainage Paper No. 56, Rome.
[2]. Ritchie, J. T., Godwin, D. C., and Singh, U. 1989. “Soil and weather inputs for the IBSNAT
crop models.” Proc., IBSNAT Symp. Decision Support System for Agrotechnology Transfer:
Part I., IBSNAT, Dept. Agronomy and Soil Science, College of Tropical Agriculture and
Human Resources, Univ. of Hawaii, Honolulu.
[3]. Phạm Ngọc Hải, Tống Đức Khang, Bùi Hiếu, Phạm Việt Hòa. 2006. Giáo trình Quy hoạch và
thiết kế hệ thống thủy lợi. Nhà xuất bản Xây Dựng. Hà Nội.
[4]. Sái Hồng Dương, Phạm Văn Đông. 2012. Ảnh hưởng của độ mặn và chế độ tưới đến cây Lạc
vụ xuân vùng ven biển Bắc Bộ. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Thủy lợi – Viện Khoa học
Thủy lợi Việt Nam. Hà Nội.
[5]. Richard G. Allen, William O. Pruitt, Dirk Raes, etc. 2005. Estimating Evaporation from Bare
Soil and the Crop Coefficient for the Initial Period Using Common Soils Information. Journal
of irrigation and drainage engineering.
[6]. 郭元裕. 1986. 高等学校教材 (农田水利学). 水利水电出版社. 北京.
[7]. 樊慧芳, 于既玉, 吴伟民. 2010. 灌溉排水工程技术. 黄河水利出版社. 郑州.
[8]. Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 8611 : 2011 – Công trình thủy lợi, Kỹ thuật tưới tiêu nước cho cây
lương thực và cây thực phẩm.
Abstract:
DETERMINATION OF IRRIGATION WATER REQUIREMENT FOR PEANUT
BY FAO PENMAN – MONTEITH EQUATION AND SINGLE CROP COEFFICIENT METHOD
The study applied the crop coefficient to determine irrigation water requirement for peanut in
which FAO Penman – Monteith equation and single crop coefficient method were used to calculate
reference crop evapotranspiration (ETo) and crop coefficient (Kc) for growth stages of peanut. This
study used meteorological data monitored by Van Ly meteorological station and physical and
chemical characteristics of soil measured in Thinh Long town, Nam Dinh to estimate irrigation
water requirement for peanut cultivated in spring crop season of the area study. The researched
results aim to provide references to irrigation water management for peanut. From that,
recommendations are also proposed to apply this method for determination of irrigation water
requirement for other cops.
Key words: FAO Penman – Monteith; reference crop; evapotranspiration; crop coefficient;
irrigation water requirement; peanut.
Người phản biện: TS. Lê Văn Chín
BBT nhận bài: 27/8/2014
Phản biện xong: 11/9/2014
Các file đính kèm theo tài liệu này:
xac_dinh_nhu_cau_nuoc_tuoi_cho_cay_lac_bang_phuong_trinh_fao.pdf