Đề xuất sử dụng BTL
- Đối với GV: BTL có thể được sử dụng với
nhiều mục đích khác nhau.
+ GV sử dụng các bài hướng dẫn thực hành
như là nguồn tài liệu tham khảo để rèn luyện thao
tác thực hành trước khi đứng lớp;
+ Sử dụng để dạy các bài thực hành trên lớp:
Trước khi tiến hành thí nghiệm trên lớp, GV chiếu
phim thao tác thực hành (hoặc yêu cầu HS xem
trước ở nhà), việc này có thể giúp GV tiết kiệm phí
thời gian và tránh những sai sót không đáng có xảy
ra trong quá trình làm mẫu thao tác. Sau khi HS đã
tiến hành thí nghiệm xong, GV sử dụng phim kết
quả để đối chiếu với kết quả của HS làm ra.
+ Đối với những bài không có điều kiện
thực hành, GV có thể chiếu phim hướng dẫn thao
tác để HS dự đoán kết quả thí nghiệm dựa trên
những kiến thức đã học, sau đó chiếu phim kết quả
để HS so sánh với đáp án. Như vậy có thể giúp HS
củng cố kiến thức sâu sắc hơn, đồng thời hình
dung được các công đoạn trong khi thực hiện một
bài thực hành thí nghiệm.
+ GV có thể sử dụng phim hướng dẫn thí
nghiệm, video và tranh ảnh sưu tầm để sử dụng tổ
chức các hoạt động cho học sinh khi hình thành
các khái niệm trong các bài lý thuyết.
+ Tham khảo các bộ câu hỏi trắc nghiệm để sử
dụng kiểm tra, đánh giá kết quả thực hành của HS.
- Đối với HS:
+ Sử dụng các đoạn phim thao tác (không
kèm phim kết quả) để nghiên cứu trước hoặc làm
trước ở nhà nhằm tránh tình trạng lúng túng trong
tiết thực hành ở trường; khắc phục nhược điểm về
thời lượng tiết học.
+ Sử dụng các bài hướng dẫn TNTH, các
video, tranh ảnh, các câu hỏi trắc nghiệm để ôn
tập, củng cố nội dung bài thực hành.
4. Kết luận
Xây dựng BTL đảm bảo các yêu cầu về tính
khoa học, thẩm mỹ, dễ sử dụng sẽ hỗ trợ có hiệu
quả cho giáo viên và học sinh trong dạy và học các
bài thực hành Sinh học. Tư liệu sử dụng là các phim
hướng dẫn thao tác tiến hành thí nghiệm sẽ phát
huy được những ưu điểm về thời gian, tăng độ
chính xác của khâu hướng dẫn và thao tác thực
hành của giáo viên, giảm gánh nặng về tài chính,
nâng cao chất lượng dạy học thực hành môn Sinh
học ở trường THPT. BTL nếu được thiết kế thành
website học tập sẽ giúp giáo viên và học sinh có thể
tổ chức giờ dạy – học thực hành mọi lúc, mọi nơi
thông qua mạng internet, góp phần nâng cao chất
lượng các giờ thực hành Sinh học tại trường THPT
hiện nay.
6 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 2 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Xây dựng bộ tư liệu hỗ trợ dạy học thực hành môn sinh học Trung học Phổ thông, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
UED JOURNAL OF SOCIAL SCIENCES, HUMANITIES AND EDUCATION VOL.4, NO.3 (2014)
126
XÂY DỰNG BỘ TƯ LIỆU HỖ TRỢ DẠY HỌC THỰC HÀNH
MÔN SINH HỌC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
BUILDING MULTIMEDIA MATERIALS SUPPORTING PRACTICAL BIOLOGY LESSONS
AT HIGH SCHOOL
Nguyễn Thị Hải Yến, Trương Thị Thanh Mai
Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng
Email: nguyenthihaiyen.smt@gmail.com
TÓM TẮT
Sinh học là môn học gắn liền với hoạt động quan sát, thí nghiệm. Tuy nhiên, trong thực tế dạy học ở trường
Trung học phổ thông (THPT) hiện nay, việc dạy các bài thực hành Sinh học chưa đáp ứng được yêu cầu cả về số
lượng lẫn chất lượng. Khi tìm hiểu nguyên nhân, đa phần giáo viên cho rằng rất khó để đảm bảo mối tương quan
giữa mục tiêu cần đạt được của bài học với nội dung, thời lượng tiết học, và quan trọng hơn là mối tương quan với
cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ thực hành. Trên cơ sở đó, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu xây dựng bộ tư
liệu (BTL) để hỗ trợ giáo viên và học sinh trong việc dạy và học các bài thực hành môn Sinh học - THPT, bao gồm
các bài thực hành thí nghiệm (THTN) và thực hành quan sát (THQS). Bài báo này sẽ giới thiệu về quy trình xây dựng
BTL và đưa ra một số gợi ý sử dụng cho giáo viên và học sinh.
Từ khóa: bộ tư liệu; thực hành; thí nghiệm; dạy học; sinh học.
ABSTRACT
Biology is the subject that is strongly associated with observation and experiments. In fact, the implementation
of practical lessons at high school does not meet requirements in terms of both quantity and quality. Through the
process of finding the explanation, it has been realized that most teachers have difficulty in assuring the interrelation
between objectives, content of practical lessons, teaching methods, time of class and experimental facilities.
Accordingly, the multimedia materials have been conducted to support teachers and students in teaching and learning
practical lessons in high school including observation and experiment practices . This paper introduces the process of
building materials and gives some proposals to teachers and students.
Key words: materials; practice; experiment; teaching; biology.
1. Đặt vấn đề
Sinh học thuộc lĩnh vực khoa học thực
nghiệm, chính vì thế, dạy học Sinh học phải gắn
liền với hoạt động quan sát, thực hành. Thông qua
đó, học sinh không những lĩnh hội tri thức một
cách sâu sắc, vững chắc hơn mà còn hình thành
nên động lực bên trong, thúc đẩy hứng thú học tập.
Tuy nhiên, qua khảo sát thực tế tại một số trường
THPT tại thành phố Đà Nẵng cho thấy chỉ có 70%
các bài thực hành được tiến hành, trong đó chủ yếu
tập trung vào các bài THQS được tổ chức dưới
hình thức chiếu phim hoặc xem tranh. Hầu hết các
bài THTN không được tiến hành ở trường THPT
theo nội dung chương trình (Bài 6, 12, 42 – lớp 10;
bài 21– lớp 11; bài 19, 50, 59 – lớp 12). Thực
trạng đó xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau.
Trước hết, cơ sở vật chất như thiết bị, dụng cụ thí
nghiệm, hóa chất không phải trường nào cũng được
trang bị đầy đủ, kinh phí thực hành hạn hẹp. Bên
cạnh đó, nhiều thí nghiệm phụ thuộc khá nhiều vào
thời tiết nên không cho kết quả như mục tiêu đề ra.
Ngoài ra, do thiếu sự quản lý chỉ đạo, quan tâm,
động viên từ cấp trên nên giáo viên chưa chủ động
đầu tư và cải tiến cách thức tổ chức các bài dạy thực
hành Sinh học sao cho phù hợp với điều kiện thực
tiễn. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến sự chủ động
của giáo viên và hiệu quả giáo dục của việc dạy
thực hành theo phân bố của chương trình, đặc biệt ở
những trường THPT nằm xa trung tâm thành phố –
nơi cơ sở vật chất còn hạn chế.
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI, NHÂN VĂN VÀ GIÁO DỤC TẬP 4, SỐ 3 (2014)
127
Để đáp ứng yêu cầu đổi mới dạy học tăng
cường dạy thí nghiệm thực hành, đồng thời nhằm
triển khai Đề án phát triển hệ thống trường THPT
giai đoạn 2010 – 2020, với mục tiêu nâng cao chất
lượng dạy học trong các trường THPT và phát
triển chuyên môn cho giáo viên giảng dạy bộ môn
Sinh học, việc xây dựng nguồn tài liệu, tư liệu hỗ
trợ, hướng dẫn dạy học thực hành cũng như bồi
dưỡng kỹ năng làm thí nghiệm và giảng dạy thực
hành là vấn đề cấp thiết của ngành giáo dục hiện
nay. Trong bối cảnh đó, việc tạo nguồn tư liệu và
đổi mới phương pháp dạy học thực hành theo
hướng ứng dụng công nghệ thông tin là một trong
những giải pháp tất yếu. Xuất phát từ lý luận và
thực tiễn như trên, chúng tôi đã nghiên cứu để xây
dựng bộ tư liệu hỗ trợ dạy học thực hành môn Sinh
học ở trường THPT nhằm cung cấp cho giáo viên
và học sinh những tư liệu hữu ích, góp phần nâng
cao chất lượng các giờ thực hành Sinh học ở
trường THPT.
2. Giải quyết vấn đề
2.1. Quy trình xây dựng BTL
Trong chương trình Sinh học ở trường
THPT, các bài thực hành có thể được chia thành 2
dạng: Thực hành thí nghiệm và thực hành quan
sát. Vì thế, với mục tiêu xây dựng BTL hỗ trợ dạy
học thực hành, chúng tôi đã xác định các nội dung
cần có trong BTL, bao gồm: các đoạn phim hướng
dẫn thao tác tiến hành thí nghiệm, các đoạn phim
tư liệu dùng cho các bài thực hành quan sát, giáo
án mẫu các bài thực hành và bộ câu hỏi nhằm
kiểm tra đánh giá kết quả các bài thực hành.
Việc xây dựng BTL phải đảm bảo các
nguyên tắc cơ bản như: phù hợp với nội dung,
chương trình SGK; phù hợp với đối tượng cần
phục vụ; đảm bảo tính trực quan, thẩm mĩ; tính
linh hoạt, hiệu quả, hữu dụng. Từ các nguyên tắc
này, kết hợp với việc tham khảo các nguồn tài liệu
liên quan, cùng với kinh nghiệm giảng dạy thí
nghiệm thực hành, chúng tôi đã đề xuất quy trình
xây dựng BTL với các bước như sơ đồ dưới đây:
Sơ đồ 1. Quy trình xây dựng bộ tư liệu
UED JOURNAL OF SOCIAL SCIENCES, HUMANITIES AND EDUCATION VOL.4, NO.3 (2014)
128
Quy trình này có thể được chia thành 3
giai đoạn:
1) Giai đoạn chuẩn bị:
+ Tiến hành nghiên cứu mục tiêu, nội dung
của bài thực hành để định hướng cho việc tìm tài
liệu, xây dựng kịch bản quay video;
+ Đối với các bài THTN, tiến hành đánh giá
ưu, nhược điểm các thí nghiệm có trong SGK, làm
định hướng cho việc sưu tầm, cải tiến, biên tập các
tư liệu phù hợp với nội dung của bài.
Để đánh giá các bài THTN, chúng tôi đã tiến
hành thực hiện các thao tác theo hướng dẫn trong
SGK, từ đó đưa ra những nhận định và đánh giá sơ
bộ về mức độ đạt được kết quả đúng với mục tiêu
thí nghiệm. Đối với những thí nghiệm chưa đạt
được kết quả như mong muốn, chúng tôi tiến hành
phân tích ưu nhược điểm để đưa ra các giải pháp
bằng cách cải tiến về dụng cụ, nguyên liệu, thao tác,
từ đó xây dựng qui trình thí nghiệm chuẩn.
Ví dụ: Khi phân tích bài thực hành 31–
Quan sát các kì nguyên phân trên tiêu bản rễ hành
- Sinh học 10, chúng tôi nhận thấy nguyên nhân
dẫn đến việc bài thực hành không thành công,
không đạt kết quả như mong muốn là do phương
pháp tiến hành thí nghiệm chưa chính xác và
tường minh. Để kiểm chứng, chúng tôi đã tiến
hành thí nghiệm đúng theo hướng dẫn trong SGK
nhưng không đạt kết quả. Vì vậy, chúng tôi đã đề
xuất một số cải tiến như sau: (i) Bổ sung hướng
dẫn cách giâm hành vào cát ẩm hoặc đặt trên
miếng xốp để lên mặt nước, khi chiều dài rễ đạt 1–
1,5cm có thể lấy mẫu, thời gian lấy mẫu khoảng từ
7–9 sáng (là giai đoạn Nguyên phân trong Chu kỳ
tế bào) (ii) Sử dụng dung dịch Carnua (tỷ lệ 3 cồn
tuyệt đối : 1 axit axetic) để cố định mẫu trong thời
gian 24 tiếng; (iii) Nhuộm mẫu bằng dung dịch
Carmin có đun sôi trên đèn cồn trong vòng 5 phút.
Dựa trên các nội dung cải tiến, kết quả thí nghiệm
được cải thiện và đạt được mục tiêu bài TNTH đề
ra là quan sát được hình thái nhiễm sắc thể qua tất
cả các kì của quá trình nguyên phân.
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI, NHÂN VĂN VÀ GIÁO DỤC TẬP 4, SỐ 3 (2014)
129
2) Giai đoạn sưu tầm, biên tập tư liệu:
- Đối với các bài thực hành quan sát:
+ Sưu tầm các tư liệu (hình ảnh, phim) có
liên quan đến nội dung bài dạy từ các nguồn như
Internet, sách báo, đĩa CD
+ Tập hợp xử lý sư phạm nguồn tư liệu thu
thập được cho phù hợp với nội dung của bài thực
hành thông qua việc Việt hóa các chú thích, phụ
đề. Cụ thể, đối với tư liệu hình ảnh chúng tôi sử
dụng phần mềm Adobe Photoshop Elements 10 để
tăng chất lượng ảnh và tạo chú thích tiếng Việt;
đối với các đoạn phim, chúng tôi sử dụng Corel
Studio Pro X4 để cắt ghép, tạo phụ đề tiếng Việt
và lồng tiếng Việt. Ngoài ra, phần mềm Sothink
quicker SWF được sử dụng để chỉnh sửa chú thích
từ tiếng Anh sang tiếng Việt cho các phim có định
dạng *swf.
Hình 1. Giao diện chỉnh sửa file *swf bằng phần mềm Sothink quicker SWF
- Đối với các bài thực hành thí nghiệm,
chúng tôi tiến hành như sau:
+ Xây dựng kịch bản và tiến hành quay
phim: Các bước tiến hành thao tác thí nghiệm
được phân cảnh để tiện cho việc quay phim.
Chúng tôi sử dụng máy quay kĩ thuật số để ghi lại
các thao tác thí nghiệm do giáo viên hướng dẫn
theo kịch bản, sau đó tiến hành chỉnh sửa, cắt
ghép, lồng tiếng và tạo phụ đề để tạo thành đoạn
phim hướng dẫn hoàn chỉnh bằng phần mềm Corel
Studio Pro X4.
UED JOURNAL OF SOCIAL SCIENCES, HUMANITIES AND EDUCATION VOL.4, NO.3 (2014)
130
Hình 2. Màn hình giao diện chỉnh sửa phim trên Corel Studio Pro X4
3) Giai đoạn thiết kế hình thức bộ tư liệu:
Do BTL gồm nhiều phim có dung lượng lớn nên
chúng tôi đã lựa chọn cách tạo các cây thư mục
theo từng bài thực hành để giáo viên và học sinh
tiện sử dụng, tăng tính linh hoạt trong việc thiết
kế giáo án và kế hoạch dạy học. Cây thư mục
được thiết kế theo cấu trúc: thư mục lớn (tên các
bài TNTH) chứa đựng các thư mục con có nội
dung cụ thể như : phim, hình ảnh, giáo án, câu
hỏi đánh giá. Cuối cùng toàn bộ các thư mục
chứa nội dung tư liệu được in ra đĩa CD là sản
phẩm hoàn thiện.
3. Kết quả xây dựng BTL
Qua quá trình phân tích nội dung, kiến thức
và dựa trên cơ sở thực tiễn của đề tài chúng tôi đã
tiến hành xây dựng tổng số 28 phim hướng dẫn thực
hành. Các đoạn phim này được cắt thành 28 đoạn
phim thao tác thí nghiệm và 28 đoạn phim kết quả.
Để thuận lợi cho giáo viên trong quá trình sử dụng
tư liệu với các mục đích khác nhau. Ngoài ra, BTL
còn có các nội dung bổ trợ như: phim, hình ảnh sưu
tầm được sử dụng cho các bài thực hành quan sát,
các giáo án thực hành, bộ câu hỏi để đánh giá sau
mỗi bài thực hành. Kết quả xây dựng BTL được thể
hiện ở Bảng 1.
Bên cạnh đó, BTL còn có các tài liệu hỗ trợ
khác, bao gồm: 02 phim hướng dẫn thực hiện an
toàn phòng thí nghiệm và thao tác pha một số hóa
chất cơ bản; 02 tài liệu hướng dẫn dạy học thực
hành môn Sinh học ở trường trung học cơ sở và
trường THPT; đây là những tài liệu cần thiết cho
giáo viên trong quá trình thực hiện các bài thực
hành Sinh học.
Bảng 1. Kết quả xây dựng bộ tư liệu
Nội dung Lớp 10 Lớp 11 Lớp 12 Tổng
Phim hướng dẫn thực hành thí nghiệm 16 7 5 28
Hình ảnh sưu tầm 13 23 12+63 48+63
Giáo án 8 4 4 16
Câu hỏi bổ trợ 120 40 60 220
3.1. Đề xuất sử dụng BTL
- Đối với GV: BTL có thể được sử dụng với
nhiều mục đích khác nhau.
+ GV sử dụng các bài hướng dẫn thực hành
như là nguồn tài liệu tham khảo để rèn luyện thao
tác thực hành trước khi đứng lớp;
+ Sử dụng để dạy các bài thực hành trên lớp:
Trước khi tiến hành thí nghiệm trên lớp, GV chiếu
phim thao tác thực hành (hoặc yêu cầu HS xem
trước ở nhà), việc này có thể giúp GV tiết kiệm phí
thời gian và tránh những sai sót không đáng có xảy
ra trong quá trình làm mẫu thao tác. Sau khi HS đã
tiến hành thí nghiệm xong, GV sử dụng phim kết
quả để đối chiếu với kết quả của HS làm ra.
+ Đối với những bài không có điều kiện
thực hành, GV có thể chiếu phim hướng dẫn thao
tác để HS dự đoán kết quả thí nghiệm dựa trên
những kiến thức đã học, sau đó chiếu phim kết quả
để HS so sánh với đáp án. Như vậy có thể giúp HS
củng cố kiến thức sâu sắc hơn, đồng thời hình
dung được các công đoạn trong khi thực hiện một
bài thực hành thí nghiệm.
+ GV có thể sử dụng phim hướng dẫn thí
nghiệm, video và tranh ảnh sưu tầm để sử dụng tổ
chức các hoạt động cho học sinh khi hình thành
các khái niệm trong các bài lý thuyết.
+ Tham khảo các bộ câu hỏi trắc nghiệm để sử
dụng kiểm tra, đánh giá kết quả thực hành của HS.
- Đối với HS:
+ Sử dụng các đoạn phim thao tác (không
kèm phim kết quả) để nghiên cứu trước hoặc làm
trước ở nhà nhằm tránh tình trạng lúng túng trong
tiết thực hành ở trường; khắc phục nhược điểm về
thời lượng tiết học.
+ Sử dụng các bài hướng dẫn TNTH, các
video, tranh ảnh, các câu hỏi trắc nghiệm để ôn
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI, NHÂN VĂN VÀ GIÁO DỤC TẬP 4, SỐ 3 (2014)
131
tập, củng cố nội dung bài thực hành.
4. Kết luận
Xây dựng BTL đảm bảo các yêu cầu về tính
khoa học, thẩm mỹ, dễ sử dụng sẽ hỗ trợ có hiệu
quả cho giáo viên và học sinh trong dạy và học các
bài thực hành Sinh học. Tư liệu sử dụng là các phim
hướng dẫn thao tác tiến hành thí nghiệm sẽ phát
huy được những ưu điểm về thời gian, tăng độ
chính xác của khâu hướng dẫn và thao tác thực
hành của giáo viên, giảm gánh nặng về tài chính,
nâng cao chất lượng dạy học thực hành môn Sinh
học ở trường THPT. BTL nếu được thiết kế thành
website học tập sẽ giúp giáo viên và học sinh có thể
tổ chức giờ dạy – học thực hành mọi lúc, mọi nơi
thông qua mạng internet, góp phần nâng cao chất
lượng các giờ thực hành Sinh học tại trường THPT
hiện nay.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Trịnh Khắc Đức (2020), “Xây dựng chương trình hướng dẫn bài thí nghiệm bằng công nghệ video và
flash cho phòng thí nghiệm khoa Sinh – Môi trường”, Báo cáo đề tài nghiên cứu khoa học cơ sở,
Trường ĐHSP, ĐHĐN.
[2] Ngô Văn Hưng (chủ biên) (2011), Tài liệu thí nghiệm thực hành môn Sinh học ở trường Phổ thông,
Bộ giáo dục và Đào tạo, Hà Nội.
[3] Phan Trọng Ngọ (2005), Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường, NXB ĐH Sư phạm, Hà Nội.
[4] Nguyễn Thị Hải Yến (2011), “Xây dựng bài hướng dẫn thực hành thí nghiệm môn Sinh lý thực vật
bằng phương pháp hiện thực ảo”, Báo cáo đề tài nghiên cứu khoa học cơ sở, Trường ĐHSP, ĐHĐN.
[5] Trương Thị Thanh Mai (2012), “Xây dựng bộ tư liệu hỗ trợ dạy học thực hành thí nghiệm môn Sinh
học ở trường THPT”, Báo cáo đề tài nghiên cứu khoa học cơ sở, ĐHĐN.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
xay_dung_bo_tu_lieu_ho_tro_day_hoc_thuc_hanh_mon_sinh_hoc_tr.pdf