Đối với chỉ thị ITS, cặp mồi 17SE/28SE
được sử dụng lần đầu tiên bởi Sun và cộng sự
(1994) trong phân tích phát sinh gen cây cao
lương (Sorghum bicolor), nhân lên đoạn gen ITS
dài khoảng 588 bp [15]. Ngoài ra, cặp mồi này
cũng đã được sử dụng ở nghiên cứu đánh giá đa
dạng di truyền ở chi Lan hoàng thảo
(Dendrobium) và đoạn gen ITS được nhân lên có
độ dài 857 bp [20], kết quả này tương đồng với
độ dài vùng gen ITS của Dây thường xuân được
nhân lên trong nghiên cứu này. Đặc biệt, R.
Vargas và cộng sự (1999) đã có nghiên cứu về
27 trình tự của 12 loài thuộc chi Hedera cũng sử
dụng đoạn mồi 17SE/28SE. Phân thích kiểu
nhân cho thấy loài H. nepalensis và H. helix có
bộ nhiễm sắc thể lưỡng bội 2n là 48. Cũng tương
đồng với nghiên cứu của chúng tôi, phân tích của
R. Vargas cho thấy trong đoạn ITS hoàn chỉnh
dài 610 bp thì vùng ITS1 dài 221-223 bp, 5,8S
dài 163 bp và vùng ITS2 dài 224 bp. Có rất ít các
đột biến điểm được tìm thấy ở vùng trình tự ITS
nhưng chỉ thị này vẫn phân loại thành công được
H. nepalensis với H. helix và 10 loài khác thuộc
chi Hedera [21]. Nghiên cứu này chính là cơ sở
để chúng tôi lựa chọn chỉ thị ITS phân tích đa
dạng di truyền trên Dây thường xuân ở Việt
Nam.
Đối với chỉ thị matK, cặp mồi 390F/1326R
sử dụng trong nghiên cứu này đã được ứng dụng
trong nhiều nghiên cứu trước đó và được khuyến
cáo làm mã vạch trong phân loại thực vật. Trong
nghiên cứu của Lei và cộng sự (2014) trên 27
loài thực vật có độc thuộc 22 chi và 17 họ ở
Trung Quốc, cặp mồi này được đánh giá là hiệu
quả cao trong định danh loài [22]. Ngoài ra, Sun
và cộng sự (2001) cũng nhân lên được đoạn gen
matK dài 907 bp giúp phân biệt Helleborus với
các chi khác [23]. Năm 2002, Cuénoudsử dụng
cặp mồi 390F/1326R khuếch đại khoảng 930 bp
trình tự matK giúp phân loại trong bộ
Caryophyllales [16]. Độ dài đoạn gen matK được
nhân lên bởi cặp mồi 390F/1326R của các
nghiên cứu trên khá tương đồng với nghiên cứu
của chúng tôi. Đối với chi Hedera, Grivet và
cộng sự (2002) đã sử dụng 5 cặp mồi gối nhau
để nhân dòng được đoạn gen trnK dài 2474 bp
và chứa toàn bộ gen matK. Nghiên cứu này đã
chỉ ra với5 đột biến điểm thuộc vùng exon của
matK đã cho phép xác định được 6 halotype
thuộc 4 loài là H. helix và H. hibernica, H.
maderensis và H. Maroccana [13]. Như vậy, tuy
vùng trình tự matK có tính bảo thủ cao nhưng
vẫn là một chỉ thị tiềm năng trong việc phân loại
và định danh các loài thuộc chi Hedera.
8 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 2 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Xây dựng quy trình phân tích gen its và matk của dây thường xuân (hedera nepalensis k koch) ở Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
VNU Journal of Science: Medical and Pharmaceutical Sciences, Vol. 36, No. 3 (2020) 83-90
83
Original Article
Genotyping ITS and matK regions
of Hedera nepalensis K. Koch in Vietnam
Pham Thi Hong Nhung, Do Hanh Nguyen, Bui Thi Yen,
Do Thi Le Hang, Vu Thi Thom, Dinh Doan Long*
VNU School of Medicine and Pharmacy, 144 Xuan Thuy, Cau Giay, Hanoi, Vietnam
Received 12 May 2020
Revised 21 May 2020; Accepted 23 May 2020
Abstract: This study develops procedures for cloning ITS and matK genes on six specimens in order
to exploit and conserve the genetic resources of H. nepalensis and evaluate its genetic diversity
based on molecular markers. The study methods include DNA extraction from dried leaf samples,
amplification of ITS and matK regions using PCR, sequencing and comparing with the sequences
on Genbank. The study results include a successfully-established process of cloning ITS and matK
genes; successful amplification and sequencing of the ITS and matK regions. The results also show
that four samples (N1-N4) were 100% homologous to H. nepalensis and H1and H2 samples were
100% homologous to H. helix. The results provide data and tools for further studies of exploitation
and development of the H. nepalensis K. Koch genetic resources in Vietnam.
Keywords: ITS, matK, Hedera nepalensis K. Koch, PCR.*
________
*Corresponding author.
E-mail address: dinhdoanlong.smp@gmail.com
https://doi.org/10.25073/2588-1132/vnumps.4241
P.T.H. Nhung et al. / VNU Journal of Science: Medical and Pharmaceutical Sciences, Vol. 36, No. 3 (2020) 83-90 84
Xây dựng quy trình phân tích gen ITS và matK của
Dây thường xuân (Hedera nepalensis K. Koch) ở Việt Nam
Phạm Thị Hồng Nhung, Đỗ Hạnh Nguyên, Bùi Thị Yến,
Đỗ Thị Lệ Hằng, Vũ Thị Thơm, Đinh Đoàn Long*
Khoa Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội, 144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam
Nhận ngày 12 tháng 5 năm 2020
Chỉnh sửa ngày 21 tháng 5 năm 2020; Chấp nhận đăng ngày 23 tháng 5 năm 2020
Tóm tắt: Dây thường xuân (Hedera nepalensis K. Koch) là cây thuốc thuộc chi Hedera, họ Nhân
sâm (Araliaceae) phân bố hẹp trên thế giới, trong đó có một số tỉnh vùng núi phía Bắc Việt Nam.
Loài này được chứng minh có nhiều tác dụng dược lý như chống oxy hóa, bảo vệ thần kinh, chống
viêm, giảm đau và đặc biệt có tiềm năng trong điều trị ung thư và đái tháo đường. Để định hướng
khai thác và bảo tồn bền vững nguồn gen Dây thường xuân một cách hiệu quả, đánh giá đa dạng di
truyền dựa trên chỉ thị phân tử làthực sự cần thiết. Vì vậy, chúng tôi tiến hành xây dựng quy trình
nhân dòng đoạn gen ITS và matK trên 06 mẫu Hedera. Phương pháp nghiên cứu bao gồm: tách chiết
ADN tổng số tách từ mẫu lá khô, nhân dòng đoạn gen ITS và matK bằng phản ứng PCR dùng mồi
đặc hiệu, giải trình tự và so sánh độ tương đồng với các mẫu trên Genbank. Kết quả cho thấy chúng
tôi đã xây dựng thành công quy trình nhân dòng gen ITS và matK. Các mẫu nghiên cứu đều được
khuếch đại và giải trình tự thành công 100% trong đó có 04 mẫu (N1-N4) có trình tự tương đồng
cao với H. nepalensis và 02 mẫu (H1 và H2) có trình tự tương đồng cao với H. helix. Các kết quả
này sẽ cung cấp công cụ và số liệu cho các nghiên cứu tiếp theo nhằm đánh giá đa dạng di truyền
nguồn gen Dây thường xuân ở Việt Nam.
Từ khóa: ITS, matK, Dây thường xuân (Hedera nepalensis K. Koch), PCR.
1. Mở đầu*
Dây thường xuân (tên khoa học Hedera
nepalensis K. Kock) là một loài thuộc chi
Hedera, họ Nhân sâm (Araliaceae) [1]. Trên thế
giới, loài này phân bố hẹp ở các nước châu Âu,
dãy Himalaya và một số nước châu Á trong đó
có một số tỉnh miền núi phía Bắc tại Việt Nam
[2]. Các nghiên cứu gần đây phát hiện trong Dây
thường xuân chứa nhiều nhóm chất như:
saponin, alkaloid, tanin, terpenoid, các hợp chất
phenolic [3]. Trong đó, hai hợp chất hederagenin
3-O-α-L-arabinopyranoside và pulsatilla
________
*Tác giả liên hệ.
Địa chỉ email: dinhdoanlong.smp@gmail.com
https://doi.org/10.25073/2588-1132/vnumps.4241
saponin A ức chế tế bào ung thư [4], lupeol ức
chế dipeptidyl peptidase-4 cho tiềm năng chữa
bệnh đái tháo đường [5-7], các hợp chất phenolic
có khả năng chống oxy hóa, bảo vệ tế bào thần
kinh [5]. Ngoài ra, Dây thường xuân cũng được
chứng minh có nhiều tác dụng khác như giảm
đau, kháng viêm, chống trầm cảm và chống đông
máu [8]. Mặc dù có nhiều tiềm năng như vậy,
song hiện nay các nghiên cứu về Dây thường
xuân ở Việt Nam còn rất hạn chế, đặc biệt là
nghiên cứu về đa dạng di truyền.
P.T.H. Nhung et al. / VNU Journal of Science: Medical and Pharmaceutical Sciences, Vol. 36, No. 3 (2020) 83-90 85
Gen ITS (Internal Transcribed Spacer) và
matK (maturase K) là hai đoạn gen đại diện cho
chỉ thị gen nhân và chỉ thị gen lục lạp, có hiệu
quả rất cao trong phân tích đa dạng di truyền.
Chúng là những chỉ thị gen hữu ích giúp phân
loài [9, 10]. Hai chỉ thị này đã được ứng dụng
thành công trong nhiều nghiên cứu đa dạng di
truyền và định danh nhiều loài thực vật, có thể
kể đến như chi Alium [11] hay chi Dalbergia
[12], đặc biệt là chi Hedera [13] hay họ
Araliaceae [14] Chính vì vậy, chúng tôi thực
hiện nghiên cứu này nhằm xây dựng được quy
trình phân tích gen ITS và matK, hướng đến phân
tích đa dạng di truyền Dây thường xuân ở Việt
Nam.
2. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
Vật liệu: mẫu được thu thập và định danh
bởiKhoa Tài nguyên Dược liệu, Viện Dược liệu,
Bộ Y tế. Dựa vào hình thái, có 04 mẫu thuộc loài
H. nepalensis (N1-N4) và 02 mẫu thuộc loài H.
helix (H1-H2). Các mẫu lá khô được nghiền mịn
trong nitơ lỏng, sau đó bảo quản ở -30 oC đến khi
tách ADN tổng số. Tọa độ thu mẫu được trình
bày chi tiết trong Bảng 1.
Bảng 1. Danh sách mẫu thực vật sử dụng trong
nghiên cứu
Kí hiệu
Địa điểm lấy
mẫu
Toạ độ địa lý
H1
Vườn thực vật
Hoa Nam, Trung
Quốc
23°11'12"N
113°21'51"E
H2 Sa Pa, Lào Cai
22°21'10.29"N
103°51'36.04"E
N1 Hoàng Su Phì,
Hà Giang
22°39'28.47"N
104°35'57.14"E
N2, N3
22°39'18.38"N
104°35'45.13"E
N4
22°40'11.06"N
104°36'11.85"E
Tách chiết ADN tổng số: ADN được phân
lập bằng phương pháp sử dụng GeneJET Plant
Genomic ADN Purification Mini Kit (Thermo
Scientific, Mỹ) theo hướng dẫn của hãng sản
xuất. Sau đó, ADN tổng số được kiểm tra và
đánh giá thông qua điện di trên gel agarose 1,2
% và đo độ tinh sạch tại bước sóng 260 nm và
280 nm.
Nhân dòng gen ITS và matK bằng PCR: để
có quy trình nhân dòng đặc hiệu và ổn định,
chúng tôi tiến hành các thí nghiệm tối ưu nhiệt
độ gắn mồi, nồng độ mồi và nồng độ ADN. Trình
tự mồi nhân dòng gen ITS là 17SE
(ACGAATTCATGGTCCGGT GAA GTG
TTC) và 28SE (TAG AAT TCC CCG GTT CGC
TCG CCG TTAC) [15]. Trình tự mồi nhân dòng
gen matK là 390F (CGA TCT ATT CAT TCA
ATA TTT C) và 1326R (TCT AGC ACA CGA
AAG TCG AAG T) [16]. Sản phẩm của phản
ứng PCR được kiểm tra bằng cách điện di trên
gel agarose 1,5%, dùng thang chuẩn ADN
GeneRuler 100bp(Thermo Scientific).
Tinh sạch và giải trình tự: 20 µL sản phẩm
PCR được giải trình tự tại hãng First Base
(Malaysia). Kết quả giải trình tự được đọc bằng
phần mềm BioEdit version 7.2.6.1.
Xử lý số liệu và phân tích kết quả: phần mềm
Sequencher 5.4.6 được sử dụng để tinh chỉnh
chuỗi nucleotide. Các trình tự được so sánh mức
độ tương đồng với các trình tự có sẵn trên
Genbank thông qua chương trình BLAST
(https://blast.ncbi.nlm.nih.gov/Blast.cgi).
3. Kết quả nghiên cứu
Hình 1. Ảnh điện di ADN tổng số trên gel agarose
1,2%. Làn M: Lamda ADN/HindIII marker. Làn N1
– H2: Mẫu ADN nghiên cứu có tên tương ứng. Làn
(-): Đối chứng âm.
Tách chiết ADN tổng số:nồng độ ADN của
06 mẫu thực vật dao động từ 6,4 –19,4 ng/µl, có
độ tinh sạch với chỉ số OD260/280 thu được từ 1,5
P.T.H. Nhung et al. / VNU Journal of Science: Medical and Pharmaceutical Sciences, Vol. 36, No. 3 (2020) 83-90 86
đến 2,70. Kết quả điện di trên gel agarose cho
thấy ADN tổng số thu được ít bị đứt gãy, không
có băng phụ. Như vậy, ADN tổng số tách chiết
từ Dây thường xuân bằng GeneJET Plant
Genomic DNA Purification Mini Kit đảm bảo
độ tinh sạch và có thể sử dụng cho bước PCR
tiếp theo.
Nhân dòng đoạn gen ITS và matK:
Tối ưu nhiệt độ gắn mồi: chúng tôi tiến hành
PCR với 9 nhiệt độ xung quanh nhiệt độ gắn mồi
tham khảo cho 2 gen ITS và matK. Kết quả điện
di trên gel agarose 1,5 % thể hiện ở Hình 2A1,
2B1 cho thấy xuất hiện băng đặc hiệu, sáng rõ tại
51,1oC với cả 2 gen ITS và matK. Do đó, chúng
tôi lựa chọn 51,1oC là nhiệt độ gắn mồi chung
cho phản ứng nhân dòng gen ITS và matK.
Tối ưu nồng độ ADN:chúng tôi chọn dải
nồng độ: 0,75; 1,25; 2,5; 5; 10; 20 ng/µL đối với
gen ITS. Với gen matK, t tKgen i c20 ng/µL sản
phẩm PCR được nhân dòng cho băng khá sáng
nên chúng tôi quyết định chọn dải nồng độ ADN
cao hơn là: 1,25; 2,5; 5; 10; 20; 40 ng/µL. Kết
quả điện di ở Hình 2A2, 2B2 cho thấy gen
ITScho băng đặc hiệu, sáng rõ nhất ở nồng độ 5
ng/µL, trong khi gen matK là ở khoảng nồng độ
2,5 – 40 ng/µL. Chúng tôi chọn 5 ng/µL là nồng
độ ADN tối ưu chung cho nhân dòng 2 gen ITS
và matK.
Tối ưu nồng độ mồi: tiến hành tối ưu nồng
độ mồi ở 03 lô mẫu khác nhau với dải nồng độ
0,1; 0,3; 0,9 µM. Tại nồng độ mồi 0,3 µM, quá
trình nhân dòng 2 gen ITS và matK là ổn định
nhất, 100% mẫu nhân dòng thành công. Trong
khi đó, một số mẫu có nồng độ mồi 0,1 và 0,9
µM không nhân dòng được gen matK (Hình
2A3, 2B3).
Như vậy, mỗi phản ứng PCR bao gồm 25μL
gồm các thành phần: 5 µL đệm 5x, 2,5 µL dNTP
mix 0,2 mM mỗi loại, 0,25 µL Phusion ADN
polymerase 0,02 U/µL, 0,75 µL mỗi mồi xuôi
0,3 µM, 14,75 µL nước khử ion, 1µL ADN 5
ng/µL. Chu trình nhiệt cho phản ứng PCR gồm
3 giai đoạn: biến tính ban đầu trong 98oC trong
30 giây; 35 chu kỳ: 98oC trong 10 giây, gắn mồi
ở 55,1 oC trong 30 giây 30 giây, 72oC trong 30
giây; thời gian kéo dài cuối 72oC trong 10 phút.
Hình 2. Ảnh điện di trên gel agarose 1,5% sản phẩm PCR tối ưu nhân dòng gen ITS (cột A) và matK (cột B).
Hình A1, B1 Tối ưu nhiệt độ gắn mồi. Hình A2, B2: Tối ưu nồng độ ADN. Hình A3, B3: Tối ưu nồng độ mồi.
Làn M: Thang chuẩn ADN GeneRuler 100bp. Làn (+): Đối chứng dương. Làn (-): Đối chứng âm.
P.T.H. Nhung et al. / VNU Journal of Science: Medical and Pharmaceutical Sciences, Vol. 36, No. 3 (2020) 83-90 87
Hình 3. Ảnh điện di trên gel agarose 1,5% sản phẩm
PCR nhân dòng gen ITS (A) và matK (B) của 06
mẫu nghiên cứu.Làn M: Thang chuẩn ADN
GeneRuler 100 bp. Làn (-): Đối chứng âm
Chúng tôi tiến hành phản ứng PCR với điều
kiện như đã tối ưu, sử dụng ADN tổng số đã
được tách chiết thành công. Sản phẩm khuếch
đại được điện di trên gel agarose 1,5 %. Ghi nhận
06/06 mẫu nghiên cứu cho sản phẩm PCR đặc
hiệu, sáng rõ với kích thước tương ứng khoảng
900 bp đối với gen ITS và khoảng 950 bp đối với
gen matK (Hình 3).
Giải trình tự xác định kiểu gen các mẫu:dựa
vào kết quả giải trình tự mẫu PCR, hiển thị bằng
phần mềm Sequencher 5.4.6 hoặc BioEdit ver
7.2.6.1. Độ dài đoạn gen của 06 mẫu nghiên cứu
đối với gen ITS từ 851 (N4) đến 858 bp (N1); đối
với gen matK từ 882 (H2) đến 910 bp (N1).
Đánh giá độ tương đồng:kết quả so sánh mức
độ tương đồng của các trình tự bằng chương trình
BLAST và BioEdit ver 7.2.6.1 cho thấy vùng
gen nhân lên thuộc đúng đoạn gen ITS và matK.
Theo đó, vùng gen ITS nhân dòng với cặp mồi
17SE/28SE bao gồm đầu 3’ tiểu phẩn nhỏ
ribosome 18S (100bp), đoạn ITS hoàn chỉnh dài
610 bp (ITS1, 5,8S và ITS2), và đầu 5’ tiểu phần
lớn ribosome 28S (135 bp). Trong vùng gen ITS,
đoạn ITS1 dài 122 bp, tiếp theo là đoạn 5,8S dài
162 bp và đoạn ITS2dài 227 bp. Ba mẫu H.
nepalenis N1, N2 và N3 giống nhau 100% và
tương đồng hoàn toàn với H. nepalensis đối
chứng (AJ131238.1); mẫu N4 sai khác với H.
nepalensis đối chứng ở 1 vị trí nằm ở nucleotide
385. Trong nhóm mẫu H. helix, mẫu H1 giống
100% với H. helix đối chứng (AM503887.2 ),
mẫu H2 sai khác với H. helix đối chứng ở hai vị
trí 38 là và 129.
Đối với vùng gen matK,phản ứng nhân dòng
sử dụng cặp mồi 390F/1326R thu được đoạn gen
dài khoảng 920 bp. Vùng trình tự này nằm hoàn
toàn trong gen matK có độ dài khoảng1500 bp.
Bốn mẫu H. nepalenis N1, N2, N3, và N4 có
trình tự giống nhau và tương đồng 100% với H.
nepalenis đối chứng (GQ434260.1). Hai mẫu H1,
H2 tương đồng 100% với H. helix đối chứng
(AJ319073.1). Thông tin chi tiết về các nucleotide
sai khác giữa các mẫu nghiên cứu và các mẫu đối
chứng được trình bày chi tiết trong Bảng 2.
Bảng 2. Các nucleotide sai khác trên vùng trình tự ITS và matK giữa các mẫu nghiên cứu và các mẫu đối chứng.
Hedera nepalensis đối chứng cho ITS: Trình tự AJ131238.1; Hedera nepalensis đối chứng cho matK: Trình tự
GQ434260.1; Hedera helix đối chứng cho ITS: Trình tự AM503887.2; Hedera helix đối chứng cho matK: Trình
tự AJ319073.1.
Trình tự ITS matK
Vị trí 23 38 103 129 193 385 462 527 556 557 588 613 789
H.nepalensis
đối chứng
T A C C C C C A G A C T G
N1 . . . . . . . . . . . . .
N2 . . . . . . . . . . . . .
N3 . . . . . . . . . . . . .
N4 . . . . . T . . . . . . .
H. helix
đối chứng
C . T A T . T C A G G G A
H1 C . T A T . T C A G G G A
H2 C T T . T . T C A G G G A
P.T.H. Nhung et al. / VNU Journal of Science: Medical and Pharmaceutical Sciences, Vol. 36, No. 3 (2020) 83-90 88
4. Bàn luận
Tế bào thực vật khó thu hồi ADN do nó có
lớp thành cellulose dày và cứng. Nghiên cứu của
Danka Boselová và cộng sự khuyến cáo sử dụng
mẫu lá non, tươi để tách chiết ADN bởi khi đó
hàm lượng ADN còn cao và thành cellulose vẫn
còn mềm dẻo [17]. Trong phạm vi nghiên cứu
này, do không đủ điều kiện sử dụng mẫu lá tươi,
chúng tôi sử dụng mẫu lá khô được bảo quản
trong silicagel. Vì vậy để lựa chọn được một quy
trình tách chiết ADN tối ưu cho mẫu lá khô Dây
thường xuân càng trở nên khó khăn hơn. Theo
nghiên cứu của tác giả D.D. Long và cộng sự
(2019) về phân tích đa hình di truyền với chỉ thị
GBSSI, tách chiết mẫu Dây thường xuân được
khuyến cáo sử dụng GeneJET Plant Genomic
DNA Purification Mini Kit [18]. Chính vì vậy,
chúng tôi đã tiến hành tách chiết ADN với kit
thương mại này. Kết quả phân tích cho thấy,
nồng độ ADN thu được từ 20 mg mẫu lá khô là
tương đối cao so với nghiên cứu của Danka
Boselová và cộng sự [17]. Một số mẫu có giá trị
OD 260/280 nằm ngoài khoảng 1,8 - 2,0 có thể
do tồn dư một số tạp chất như polysacaride,
polyphenol, các hợp chất thứ cấp khác nhau
trong tế bào thực vật sau khi tách chiết [19]. Tuy
nhiên, các mẫu này vẫn nhân dòng các gen ITS
và matK 100%, cho băng điện di sáng rõ và đặc
hiệu, đủ điều kiện sử dụng cho các phân tích gen
tiếp theo. Như vậy, GeneJET Plant Genomic
DNA Purification Mini Kit của Thermo
Scientific là kit tách chiết ADN hiệu quả từ mẫu
lá khô Dây thường xuân phục vụ phân tích với
chỉ thị ITS và matK.
Theo nghiên cứu của Sun và cộng sự với chỉ
thị ITS, nhiệt độ gắn mồi tối ưu của cặp mồi
17SE/26SE dùng với ADN khuôn thu được từ
mẫu Sorghum bicolor và Taq ADN polymerase
là 58 ºC [15]. Với gen matK, Cuénoud và cộng
sự (2002) đã chọn 48 ºC làm nhiệt độ gắn mồi
cho cặp mồi 390F/1326R khi phân tích các mẫu
thuộc bộ Caryophyllales [16]. Nhiệt độ gắn mồi
khác nhau ở các nghiên cứu này so với nghiên
cứu của chúng tôi là do sự khác nhau ADN
polymerase được sử dụng, thậm chí có thể do ảnh
hưởng bởi hệ thiết bị khác nhau. Chính vì vậy,
tối ưu nhiệt độ gắn mồi là rất quan trọng và cần
được thực hiện đầu tiên để có quy trình PCR ổn
định. Thông qua kết quả tối ưu, chúng tôi đã đưa
ra được chu trình nhiệt dùng chung cho cả hai
gen ITS và matK, giúp phân tích cùng lúc hai gen
này trong một lần chạy máy PCR. Đối với mẫu
thực vật, nồng độ ADN khuôn cao thường ức chế
phản ứng nhân dòng do sự tồn tại của các tạp chất
còn tồn lưu cùng ADN khuôn. Điều này thể hiện
rõ trong Hình 2A2, khi nồng độ ADN khuôn cao
hơn 5 ng/µL, lượng sản phảm PCR thu được
giảm thể hiện qua băng điện di giảm dần về độ
sáng. Chính vì vậy, tất cả các mẫu nghiên cứu
đều được pha loãng về nồng độ 5 ng/µL để tiến
hành phản ứng khuếch đại gen. Nồng độ mồi
trong phản ứng PCR cũng là một thông số quan
trong. Nồng độ mồi 0,3 µM cho phản ứng PCR
lên ổn định nhất.
Dựa trên kết quả so sánh các mẫu nghiên cứu
trên phần mềm BLAST, chúng tôi đã nhân dòng
thành công và chính xác 02 vùng trình tự quan
tâm là ITS và matK ở Dây thường xuân với hiệu
suất cao, có thể áp dụng mở rộng trên cỡ mẫu lớn
hơn phục vụ cho các nghiên cứu phân tích đa
dạng di truyền. Kết quả phân tích cho thấy bốn
mẫu N1, N2, N3, N4 tương đồng 99,8% - 100%
với trình tự H. nepalenis tham chiếu, hai mẫu H1
và H2 tương đồng 99,8% - 100% với trình tự H.
helix tham chiếu. Như vậy, kết quả phân tích gen
bước đầu cho thấy có sự tương đồng với kết quả
phân loại dựa trên hình thái. Như vậy chúng tôi
khuyến cáo tiếp tục thu thập và phân tích các
mẫu Dây thường xuân khác với chỉ thị ITS và
matK để có được bức tranh toàn cảnh hơn về đa
dạng di truyền của loài này.
Đối với chỉ thị ITS, cặp mồi 17SE/28SE
được sử dụng lần đầu tiên bởi Sun và cộng sự
(1994) trong phân tích phát sinh gen cây cao
lương (Sorghum bicolor), nhân lên đoạn gen ITS
dài khoảng 588 bp [15]. Ngoài ra, cặp mồi này
cũng đã được sử dụng ở nghiên cứu đánh giá đa
dạng di truyền ở chi Lan hoàng thảo
(Dendrobium) và đoạn gen ITS được nhân lên có
độ dài 857 bp [20], kết quả này tương đồng với
độ dài vùng gen ITS của Dây thường xuân được
nhân lên trong nghiên cứu này. Đặc biệt, R.
Vargas và cộng sự (1999) đã có nghiên cứu về
27 trình tự của 12 loài thuộc chi Hedera cũng sử
P.T.H. Nhung et al. / VNU Journal of Science: Medical and Pharmaceutical Sciences, Vol. 36, No. 3 (2020) 83-90 89
dụng đoạn mồi 17SE/28SE. Phân thích kiểu
nhân cho thấy loài H. nepalensis và H. helix có
bộ nhiễm sắc thể lưỡng bội 2n là 48. Cũng tương
đồng với nghiên cứu của chúng tôi, phân tích của
R. Vargas cho thấy trong đoạn ITS hoàn chỉnh
dài 610 bp thì vùng ITS1 dài 221-223 bp, 5,8S
dài 163 bp và vùng ITS2 dài 224 bp. Có rất ít các
đột biến điểm được tìm thấy ở vùng trình tự ITS
nhưng chỉ thị này vẫn phân loại thành công được
H. nepalensis với H. helix và 10 loài khác thuộc
chi Hedera [21]. Nghiên cứu này chính là cơ sở
để chúng tôi lựa chọn chỉ thị ITS phân tích đa
dạng di truyền trên Dây thường xuân ở Việt
Nam.
Đối với chỉ thị matK, cặp mồi 390F/1326R
sử dụng trong nghiên cứu này đã được ứng dụng
trong nhiều nghiên cứu trước đó và được khuyến
cáo làm mã vạch trong phân loại thực vật. Trong
nghiên cứu của Lei và cộng sự (2014) trên 27
loài thực vật có độc thuộc 22 chi và 17 họ ở
Trung Quốc, cặp mồi này được đánh giá là hiệu
quả cao trong định danh loài [22]. Ngoài ra, Sun
và cộng sự (2001) cũng nhân lên được đoạn gen
matK dài 907 bp giúp phân biệt Helleborus với
các chi khác [23]. Năm 2002, Cuénoudsử dụng
cặp mồi 390F/1326R khuếch đại khoảng 930 bp
trình tự matK giúp phân loại trong bộ
Caryophyllales [16]. Độ dài đoạn gen matK được
nhân lên bởi cặp mồi 390F/1326R của các
nghiên cứu trên khá tương đồng với nghiên cứu
của chúng tôi. Đối với chi Hedera, Grivet và
cộng sự (2002) đã sử dụng 5 cặp mồi gối nhau
để nhân dòng được đoạn gen trnK dài 2474 bp
và chứa toàn bộ gen matK. Nghiên cứu này đã
chỉ ra với5 đột biến điểm thuộc vùng exon của
matK đã cho phép xác định được 6 halotype
thuộc 4 loài là H. helix và H. hibernica, H.
maderensis và H. Maroccana [13]. Như vậy, tuy
vùng trình tự matK có tính bảo thủ cao nhưng
vẫn là một chỉ thị tiềm năng trong việc phân loại
và định danh các loài thuộc chi Hedera.
5. Kết luận
Chúng tôi đã xây dựng được quy trình phân
tích gen ITS và matK trên Dây thường xuân. Kết
quả này sẽ là tiền đề cho các nghiên cứu phân
tích đa dạng di truyền và đánh giá chất lượng
nguồn gen, phục vụ cho công tác bảo tồn và phát
triển nguồn dược liệu Dây thường xuân tại Việt
Nam.
Các tác giả chân thành cảm ơn nhóm nghiên
cứu của PGS. TS. Phạm Thanh Huyền (Khoa Tài
nguyên Dược liệu, Viện Dược liệu) đã giúp thu
thập mẫu vật phục vụ cho nghiên cứu này.
Lời cảm ơn
Chúng tôi trân trọng cảm ơn Bộ Khoa học và
Công nghệ Việt Nam đã tài trợ cho đề tài mã số
NVQG-2018/02 để thực hiện nghiên cứu này.
Tài liệu tham khảo
[1] V.V. Chi. Dictionary of Vietnamese Medicinal
Plants, Publ. House Medicine, Ho Chi Minh City,
2012 (in Vietnamese).
[2] D.H. Bich, D.Q. Cuong, B.X. Chuong, N. Thuong,
D. T. Dam. The medicinal plants and animals in
Vietnam, Hanoi Sci. Technol. Publ. House Hanoi,
2006 (in Vietnamese).
[3] A. Sadat, M. Alam, A. Rauf, W. Ullah, Biological
screening of ethyl acetate extract of Hedera
nepalensis stem, Afr J Pharm Pharmacol, 6 (2012)
2934-2937. https://doi.org/10.5897/AJPP12.828.
[4] T. Li, H. Pan, Y. Feng, H. Li, Y. Zhao, Bioactivity-
guided isolation of anticancer constituents from
Hedera nepalensis K. Koch, S Afr J Bot, 100
(2015) 87-93.
https://doi.org/10.1016/j.sajb.2015.05.011.
[5] L. Jafri, S. Saleem, N. Ullah, B. Mirza, In vitro
assessment of antioxidant potential and
determination of polyphenolic compounds of
Hedera nepalensis K. Koch, Arab J Chem, 10
(2017) 3699-3706.
https://doi.org/10.1016/j.arabjc.2014.05.002.
[6] S. Saleem, L. Jafri, I. ul Haq, L.C. Chang, D.
Calderwood, B.D. Green, B. Mirza, Plants Fagonia
cretica L. and Hedera nepalensis K. Koch contain
natural compounds with potent dipeptidyl
peptidase-4 (DPP-4) inhibitory activity, J
Ethnopharmacol, 156 (2014) 26-32.
https://doi.org/10.1016/j.jep.2014.08.017.
[7] W.J. Hashmi, H. Ismail, F. Mehmood, B. Mirza,
Neuroprotective, antidiabetic and antioxidant
effect of Hedera nepalensis and lupeol against
P.T.H. Nhung et al. / VNU Journal of Science: Medical and Pharmaceutical Sciences, Vol. 36, No. 3 (2020) 83-90 90
STZ+ AlCl 3 induced rats model, DARU, 26
(2018) 179-190. https://doi.org/10.1007/s40199-
018-0223-3.
[8] H. Ismail, A. Rasheed, I.-u. Haq, L. Jafri, N. Ullah,
E. Dilshad, M. Sajid, B. Mirza, Five indigenous
plants of Pakistan with Antinociceptive, anti-
inflammatory, antidepressant, and anticoagulant
properties in Sprague Dawley rats, Evid Based
Complement Alternat Med, 2017 (2017).
https://doi.org/10.1155/2017/7849501
[9] N.D. Thanh. DNA marker techniques in study and
selection of plant. Journal of Biology. 36 (2014)
265-294 (in Vietnamese).
https://doi.org/10.15625/0866-7160/v36n3.5974.
[10] P.Z. Goldstein, R. DeSalle, Review and
interpretation of trends in DNA barcoding, Front
Ecol Evol, 7 (2019) 302.
https://doi.org/10.3389/fevo.2019.00302.
[11] S. Abugalieva, L. Volkova, Y. Genievskaya, A.
Ivaschenko, Y. Kotukhov, G. Sakauova, Y.
Turuspekov, Taxonomic assessment of Allium
species from Kazakhstan based on ITS and matK
markers, BMC plant biol, 17 (2017) 258.
https://doi.org/10.1186/s12870-017-1194-0.
[12] R.M. Bhagwat, B.B. Dholakia, N.Y. Kadoo, M.
Balasundaran, V.S. Gupta, Two new potential
barcodes to discriminate Dalbergia species, PloS
one, 10 (2015) e0142965.
https://doi.org/10.1371/journal.pone.0142965
[13] D. Grivet, R. Petit, Phylogeography of the
common ivy (Hedera sp.) in Europe: genetic
differentiation through space and time, Mol
Ecol, 11 (2002) 1351-1362.
https://doi.org/10.1046/j.1365294x.2002.01522.x.
[14] R. Li, J. Wen, Phylogeny and biogeography of
Dendropanax (Araliaceae), an amphi-Pacific
disjunct genus between tropical/subtropical Asia
and the Neotropics, Syst Bot, 38 (2013) 536-551.
https://doi.org/10.1600/036364413X666606.
[15] Y. Sun, D. Skinner, G. Liang, S. Hulbert,
Phylogenetic analysis of Sorghum and related taxa
using internal transcribed spacers of nuclear
ribosomal DNA, Theor Appl Genet, 89 (1994) 26-
32. https://doi.org/10.1007/BF00226978
[16] P. Cuénoud, V. Savolainen, L.W. Chatrou, M.
Powell, R.J. Grayer, M.W. Chase, Molecular
phylogenetics of Caryophyllales based on nuclear
18S rDNA and plastid rbcL, atpB, and matK DNA
sequences, Am J Bot, 89 (2002) 132-144.
https://doi.org/10.3732/ajb.89.1.132.
[17] D. Bošeľová, J. Žiarovská, L. Hlavačková, K.
Ražná, M. Bežo, Comparative analysis of different
methods of Hedera helix DNA extraction and
molecular evidence of the functionality in PCR
Acta fytotechn zootechn, 19 (2016) 144-149.
https://doi.org/10.15414/afz.2016.19.04.144-149.
[18] D.D. Long, Comparative analysis of different DNA
extraction methods and preliminary analysis of
genetic diversity of Hedera nepalensis K. Koch. in
Vietnam based on GBSSI marker, VNU Journal of
Science: Medical and Pharmaceutical Sciences, 35
(2019) 88-95 (in Vietnamese).
https://doi.org/10.25073/2588-1132/vnumps.4165
[19] J.H. Cota-Sánchez, K. Remarchuk, K. Ubayasena,
Ready-to-use DNA extracted with a CTAB method
adapted for herbarium specimens and
mucilaginous plant tissue, Plant Mol Biol Rep, 24
(2006)161. https://doi.org/10.1007/BF02914055.
[20] S. Xu, D. Li, J. Li, X. Xiang, W. Jin, W. Huang, X.
Jin, L. Huang, Evaluation of the DNA barcodes in
Dendrobium (Orchidaceae) from mainland Asia,
PloS one, 10 (2015) e0115168.
https://doi.org/10.1371/journal.pone.0115168.
[21] P. Vargas, H.A. McAllister, C. Morton, S.L. Jury,
M.J. Wilkinson, Polyploid speciation in Hedera
(Araliaceae): Phylogenetic and biogeographic
insights based on chromosome counts and ITS
sequences, Pl Syst Evol, 219 (1999) 165-179.
https://doi.org/10.1007/BF00985577
[22] X. Lei, Y.W. Wang, S.Y. Guan, L.J. Xie, L. Xin,
C.Y. Sun, Prospects and problems for
identification of poisonous plants in China using
DNA barcodes, Biomed Environ Sci, 27 (2014)
794-806. https://doi.org/10.3967/bes2014.115.
[23] H. Sun, W. McLewin, M.F. Fay, Molecular
phylogeny of Helleborus (Ranunculaceae), with an
emphasis on the East Asian‐Mediterranean
disjunction, Taxon, 50 (2001) 1001-1018.
https://doi.org/10.2307/1224717.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
xay_dung_quy_trinh_phan_tich_gen_its_va_matk_cua_day_thuong.pdf