Hàm lượng amino acid trong bột cua lột
thủy phân chế biến bằng enzyme có tỷ lệ tăng
lên đáng kể, từ 31,3% khối lượng khô lên
65,58% khối lượng khô (Bảng 5). Điều này có
thể được giải thích vì bột cua lột thủy phân thu
được đã loại bỏ thành phần vỏ chitin mềm và
những thành phần không phân giải được sau khi
thủy phân. Nghiên cứu của Harun và cộng sự
năm 2017 cho thấy, hàm lượng protein thô thu
được trong bột thủy phân cua lột lên tới
74,18%. Như vậy, bột cua lột thủy phân có hàm
lượng amino acid tăng lên 2 lần so với trước khi
chế biến. Hàm lượng amino acid thiết yếu đạt
28,53% gồm các amino acid như leucine 4,28%;
valine 6,56%; histidine 3,9%; lysine 3,45%,
trong khi, hàm lượng các amino acid không
thiết yếu đạt 37,05%, trong đó, arginine,
cysteine, proline lần lượt đạt 2,92; 5,52; 8,74%.
KẾT LUẬN
Nghiên cứu đã lựa chọn được các điều kiện
phân tích phù hợp để định lượng các amino acid
trong cua lột bao gồm các bước thủy phân
amino acid bằng acid ở 110oC trong 24 giờ, sắc
ký lỏng hiệu năng cao sử dụng pha động là dung
môi Na2HPO4 40 mM kết hợp với hỗn hợp dung
môi methanol: acetonitril: nước tỷ lệ 45:45:10,
detector huỳnh quang ở bước sóng kích thích
340 và bước sóng phát xạ 450 nm trong 40 phút
đầu, sau đó là bước sóng kích thích 266 và bước
sóng phát xạ 305 nm.
Kết quả về hàm lượng amino acid trong quá
trình chế biến cho thấy nguyên liệu cua lột có
hàm lượng amino acid 4,53% khối lượng tươi,
tương đương 31,3% khối lượng khô. Sau khi chế
biến bằng công nghệ enzyme thu được bột cua
lột thủy phân có hàm lượng amino acid tăng lên
khoảng 2 lần (xấp xỉ 65,58% khối lượng khô).
9 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 6 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Xây dựng quy trình phân tích hàm lượng 17 Amino Acid từ cua lột scylla sp, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tạp chí Công nghệ Sinh học 18(3): 487-495, 2020
487
XÂY DỰNG QUY TRÌNH PHÂN TÍCH HÀM LƯỢNG 17 AMINO ACID TỪ
CUA LỘT Scylla sp.
Nguyễn Thị Phương Lan1,2, Đỗ Thị Thanh Trung3, Văn Thư Vũ3, Lê Tất Thành1,3,
1Học viện Khoa học và Công nghệ, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
2Cục An toàn thực phẩm, Bộ Y tế
3Viện Hóa học các hợp chất thiên nhiên, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Người chịu trách nhiệm liên lạc. E-mail: thanh.biotech@gmail.com
Ngày nhận bài: 11.10.2019
Ngày nhận đăng: 24.12.2019
TÓM TẮT
Cua bùn Scylla sp. là loài cua biển phổ biến ở Việt Nam cũng như ở Châu Á Thái Bình Dương.
Ngày nay, cua bùn được nuôi với quy mô lớn và thu hoạch ở giai đoạn lột xác vỏ mềm có giá trị
kinh tế cao hơn cua mai cứng. Hiện nay, việc chế biến cua lột chỉ dừng lại ở việc đóng gói và xuất
khẩu nguyên con. Tuy nhiên, 30% cua lột trong chế biến thường bị rụng chân và càng, làm giảm giá
thành sản phẩm. Vì vậy, nghiên cứu công nghệ chế biến cua lột để nâng cao giá trị sản phẩm cua lột
là rất cần thiết. Gần đây, việc ứng dụng enzyme trong chế biến mang lại nhiều lợi ích như thân thiện
với môi trường và tạo ra nhiều hoạt chất có hoạt tính sinh học. Trong bài báo này, chúng tôi xây
dựng quy trình xác định hàm lượng 17/20 amino acid trong quá trình chế biến cua lột Scylla sp.
nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm thu được sau khi chế biến. Quy trình này dựa trên phương pháp
HPLC sử dụng detector huỳnh quang. Kết quả cho thấy, hàm lượng 17 amino acid ở cua lột nguyên
liệu là 4,53% và sau khi chế biến qua giai đoạn thủy phân bằng công nghệ enzyme đạt 65,58% khối
lượng khô và có chứa hàm lương cao các amino acid có giá trị như lysine, leucine, valine,
methionine, histidine.
Từ khóa: Công nghệ enzyme, cua bùn, cua lột, HPLC, thủy phân
GIỚI THIỆU
Amino acid là một thành phần quan trọng
của cơ thể, là đơn vị cấu thành nên các loại
protein tham gia vào cấu trúc và đảm bảo tất cả
mọi hoạt động sống trong cơ thể được diễn ra
một cách hoàn chỉnh. Nhìn chung, protein đều
được cấu tạo chủ yếu bởi 20 loại amino acid,
trong đó có 8 amino acid thiết yếu mà cơ thể
không thể tự tạo ra được gồm isoleucine,
leucine, lysine, methionine, phenylalanine,
threonine, tryptophan và valine. Sự thiếu hụt
amino acid dẫn đến cơ thể mệt mỏi, hạ đường
huyết, dị ứng. Giá trị của một loại thức ăn
không những phụ thuộc vào số lượng chất đạm
có trong thức ăn, mà còn phụ thuộc vào số
lượng và tỷ lệ cân đối các amino acid, nghĩa là
chất lượng của protein thức ăn (Mullally et al.,
1994).
Ở Việt Nam, nguồn thực phẩm biển ngày
càng được lựa chọn vì hàm lượng dinh dưỡng
cao, hơn nữa thực phẩm biển ít bị ô nhiễm,
được nuôi trồng tự nhiên, hương vị đậm đà.
Trong đó, cua biển là thực phẩm được ưa
chuộng với nhiều chứng minh về hàm lượng
khoáng vi lượng và protein tốt cho sức khỏe
(Nguyen Thi Phuong Lan, 2017). Đặc biệt, ngày
nay, cua biển trong thời kỳ lột xác, mai mềm,
cua lột ngày càng được tiêu thụ nhiều vì có hàm
lượng dinh dưỡng cao hơn cua mai cứng, chế
biến dễ dàng hơn rất nhiều (Sarower et al.,
Nguyễn Thị Phương Lan et al.
488
2013; Vilasoa-Martinez et al., 2007). Tuy
nhiên, để nâng cao giá trị kinh tế của cua lột,
ngoài các món ăn ra, cua lột xác cũng cần được
chế biến thành nhiều sản phẩm khác để tăng sự
lựa chọn cho người tiêu dùng. Với sự phát triển
của khoa học và tri thức, nhu cầu kiểm soát chất
lượng các sản phẩm ngày càng được nâng cao,
do vậy đối với loại sản phẩm từ động vật, việc
kiểm soát hàm lượng amino acid trong quá trình
chế biến nhằm đảm bảo chất lượng của sản
phẩm là vô cùng quan trọng.
Theo nhiều nghiên cứu trước đây, để xác
định hàm lượng amino acid trong thực phẩm,
một số phương pháp thường được sử dụng như
sắc ký giấy, sắc ký lỏng, sắc ký khí, sắc ký lỏng
hiệu năng cao (Ma et al., 2015). Trong đề tài này,
chúng tôi xây dựng quy trình áp dụng kỹ thuật
sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) với điều kiện
kỹ thuật tại viện nghiên cứu nhằm xác định hàm
lượng amino acid trong quá trình chế biến cua lột
bằng kỹ thuật enzyme. Mục tiêu cụ thể là tìm các
điều kiện tối ưu của phương pháp HPLC để phân
tích amino acid trong cua bùn Scylla sp. và sản
phẩm từ quá trình chế biến cua lột.
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
Nguyên liệu
Cua lột (Scylla) được nuôi lượng lớn tại
Nha Trang và thu hoạch trong giai đoạn lột xác,
rồi cấp đông bảo quản ở -20oC để thực hiện
nghiên cứu. Protease có hoạt tính 2,4 AU-A/g từ
Novozyme (Denmark) hoạt động ở điều kiện tối
ưu pH 7-9, nhiệt độ 30-65°C. Hỗn hợp 17
amino acid chuẩn của hãng Sigma (Mỹ) cùng
các dung môi, hóa chất khác đạt tiêu chuẩn
phân tích HPLC.
Thủy phân cua lột bằng công nghệ enzyme
Nguyên liệu cua lột được nghiền nhỏ, sau
đó được bổ sung enzyme protease 1% ở nhiệt
độ 45oC rồi tiến hành thủy phân trong 12h. Sau
quá trình thủy phân, dịch thủy phân được thu lại
bằng ly tâm loại bỏ cặn, và sấy khô loại nước để
thu được bột cua thủy phân, sau đó phân tích
các chỉ số cần thiết.
Thủy phân protein thành amino acid bằng
acid HCl 6M
Phương pháp thủy phân bằng acid
hydrocloric có chứa một lượng phenol là kỹ
thuật thông dụng nhất để thủy phân mẫu thử
protein/peptid trước khi tiến hành phân tích
amino acid. Thêm phenol vào môi trường thủy
phân để ngăn ngừa hiện tượng halogen hóa
tyrosin.
Dung dịch thủy phân: Hydrocloric acid 6M
chứa từ 0,1% đến 1% phenol.
Thủy phân pha lỏng: Cho mẫu thử protein
(BSA hoặc cua lột) vào ống thủy phân theo tỷ lệ
cứ 1 g mẫu thử thêm 75 ml dung dịch thủy phân
và tỷ lệ 1 g BSA thêm 1,2 ml dung dịch thủy
phân. Dùng khí agon thổi vào bình nhằm tạo ra
môi trường khí trơ trong bình, sau đó đậy kín
bình bằng nút nhám. Mẫu được thủy phân ở
110°C trong 24 giờ và trong chân không hoặc khí
trơ để tránh oxy hóa amino acid. Thời gian thủy
phân được thử nghiệm từ 12 giờ đến 30 giờ.
Hệ thống sắc ký lỏng
Phân tích amino acid được tiến hành trên
máy Agilent 1200 HPLC với bơm kép G1311A
và detector huỳnh quang G1315B FLD, buồng
chạy 10-mm. Cột ZORBAX Eclipse-AAA 4,6 x
150 mm (5 µm) để đo với độ nhạy vừa phải, độ
phân giải cao tại áp suất thấp. Hỗn hợp để phân
tích sắc ký bao gồm 17 amino acid từ hỗn hợp
amino acid chuẩn 250 pmol/µL standard mix
(PN: 5061-3331) và citrulline và 6 amino acid
bổ sung, được hòa trộn tại nồng độ khoảng 250
pmol/µl. Đường chuẩn amino acid được xây
dựng bằng cách sử dụng 5 nồng độ amino acid
khác nhau từ 10, 25, 100, 250, 1000 pmol/µl.
Tạo dẫn chất trước cột với thuốc thử OPA
Khi có mặt một hợp chất thiol (có thể dùng
2-mercaptoethanol hoặc 3-mercaptopropionic
acid), thuốc thử orthophthalaldehyde (OPA) sẽ
tác dụng với các amin bậc nhất để cho một hợp
chất isoindol phát huỳnh quang mạnh. Bản thân
thuốc thử OPA không phát huỳnh quang, nên
không gây trở ngại. Mặt khác, vì OPA dễ tan và
ổn định trong nước đồng thời cho phản ứng
Tạp chí Công nghệ Sinh học 18(3): 487-495, 2020
489
nhanh nên có thể tạo dẫn chất và phân tích mẫu
thử một cách tự động, dùng thiết bị tự nạp mẫu
thử để trộn lẫn mẫu thử với thuốc thử.
Vì dẫn chất OPA-amino acid không bền
vững nên sau khi tạo dẫn chất trước cột, phải
tiến hành phân tích ngay trên sắc ký lỏng cao áp
pha đảo và phát hiện kết quả bằng detector
huỳnh quang ở bước sóng kích thích 348 nm và
bước sóng phát quang 450 nm.
Tạo dẫn chất trước cột với thuốc thử FMOC-Cl
Thuốc thử 9-fluorenylmethyl cloroformat
(FMOC-Cl) tác dụng với amino acid bậc nhất
và amino acid bậc hai để tạo thành các dẫn chất
FMOC-amino acid phát huỳnh quang mạnh.
Phản ứng xảy ra nhẹ nhàng trong môi trường
nước, trong 30 giây. Các dẫn chất được tạo
thành đều bền vững, chỉ riêng dẫn chất của
histidine là có dấu hiệu bị phân hủy. Mặc dù
bản thân thuốc thử và các sản phẩm phụ của
phản ứng đều phát huỳnh quang nhưng có thể
loại chúng mà không làm mất mát các dẫn chất
FMOC-amino acid.
Sau khi tạo dẫn chất trước cột, tiến hành
tách các FMOC-amino acid bằng sắc ký lỏng
cao áp pha đảo. Kết quả được phát hiện bằng
detector huỳnh quang ở bước sóng kích thích
260 nm và bước sóng phát quang 313 nm. Có
thể phân tích được 20 dẫn chất amino acid trong
vòng 20 phút. Giới hạn phát hiện vào cỡ
femtomol. Đa số các amino acid có khoảng
tuyến tính từ 0,1 - 50 micromol.
Khảo sát các điều kiện phân tích
Để lựa chọn các điều kiện phân tích hàm
lượng 17 acid amin cơ bản, chúng tôi thay đổi
lần lượt từng điều kiện gồm thiết bị dò
(detector) và tỷ lệ dung môi pha động, và giữ
nguyên thành phần tạo dẫn xuất amino acid và
cột phân tích pha đảo ZORBAX Eclipse AAA
(4,6 x 150 mm, 5 µm).
KẾT QUẢ - BÀN LUẬN
Khảo sát các điều kiện phân tích
Khảo sát thiết bị dò (Detector) DAD
Detector DAD được sử dụng để phân tích
hàm lượng amino acid ở các bước sóng 338 nm và
262 nm. Dung môi pha đảo được sử dụng gồm:
Dung môi A là Na2HPO4 10 mM và Dung môi B
là methanol:acetinitrile:H2O (45:45:10). Điều kiện
phân tích khi được thể hiện trong bảng 1.
Kết quả đã định tính và định lượng được đủ
17 amino acid trong hỗn hợp amino acid chuẩn.
Tuy nhiên, các đỉnh chưa tách nhau rõ rệt, vẫn
còn bị dính chân (Hình 1).
Bảng 1. Điều kiện phân tích bằng HPLC detector DAD.
Thời gian (phút) Tốc độ dòng (ml/phút) Dung môi A (%) Dung môi B (%)
0 0,5 100 0
30 0,5 50 50
60 0,5 0 100
65 0,5 0 100
75 0,5 100 0
100 Stop time 100 0
Khảo sát thiết bị dò Detector huỳnh quang
(FLD)
Detector huỳnh quang được sử dụng để
phân tích hàm lượng amino acid với dung môi
pha đảo được sử dụng đã được tối ưu: Dung
môi A là Na2HPO4 40 mM và Dung môi B là
methanol:acetinitrile:H2O (45:45:10). Điều kiện
phân tích khi sử dụng detector huỳnh quang
được thể hiện trong bảng 2 và bước sóng được
tối ưu theo quy trình thay đổi của pha động
được nêu trong bảng 3.
Nguyễn Thị Phương Lan et al.
490
Hình 1. Minh họa kết quả phân tích amino acid bằng detector DAD.
Bảng 2. Điều kiện phân tích HPLC-FLD.
Thời gian (phút) Tốc độ dòng (ml/ phút) Tỷ lệ dung môi A (%) Tỷ lệ dung môi B (%)
0 1 100 0
2 1 100 0
35 1 60 40
43 1 0 100
48 1 0 100
50 1 100 0
55 1 100 0
Bảng 3. Thông số kỹ thuật của bước sóng huỳnh quang.
Thời gian (phút) Bước sóng kích thích (nm) Bước sóng bức xạ (nm) PMT-Gain
0 340 450 10
24 266 305 9
Với điều kiện phân tích đã được tối ưu như
vậy, hỗn hợp amino acid chuẩn chứa 17 amino
acid đã được phân tách và nhận dạng đầy đủ,
với các đỉnh rõ ràng có thể nhận biết được theo
mô phỏng của nhà sản xuất (Sigma). Kết quả
được trình bày trên hình 2 và bảng 4.
Qua so sánh kết quả phân tích bằng hai
detector khác nhau cho thấy, sử dụng detector
huỳnh quang phân tách 17 amino acid tốt hơn,
giới hạn phát hiện tốt hơn so với detector DAD.
Vì vậy, detector huỳnh quang cùng với điều
kiện chạy đã tối ưu được chọn để phân tích hàm
lượng amino acid trong mẫu cua lột trong các
giai đoạn chế biến.
Tạp chí Công nghệ Sinh học 18(3): 487-495, 2020
491
Hình 2. Kết quả phân tích amino acid bằng detector huỳnh quang.
Bảng 4. Kết quả nhận dạng 17 amino acid theo thời gian lưu.
STT Thời gian lưu Tên amino acid STT Thời gian lưu Tên amino acid
1 3,744 Aspartatic acid 10 28,373 Cystine
2 7,648 Glutamic acid 11 30,088 Valine
3 14,146 Serine 12 30,846 Methionine
4 16,961 Histidine 13 34,172 Phenylalanine
5 17,706 Glycine 14 32,521 Isoleucine
6 18,074 Threonine 15 36,353 Leucine
7 21,086 Arginine 16 38,128 Lysine
8 21,654 Alanine 17 41,444 Proline
9 25,386 Tyrosine
Xác định khoảng tuyến tính
Để xác định khoảng tuyến tính của phương
pháp phân tích, chúng tôi pha một dãy nồng độ
từ 10, 25, 100, 250, 1000 pmol/µl cho 17 amino
acid. Kết quả cho thấy khoảng tuyến tính từ 10
đến 250 pmol/µl, tại nồng độ 1000 pmol/µl
nồng độ lớn nên không còn tuyến tính. Phương
trình đường chuẩn được lập cho từng amino
acid với hệ số tương quan R2 từ 0,98 đến 0,99
cho tất cả các amino acid.
Quy trình kỹ thuật xác định hàm lượng
amino acid trong mẫu cua lột
Mẫu cua lột nguyên liệu và mẫu cua lột sau
khi chế biến được xử lý theo quy trình sau nhằm
xác định hàm lượng amino acid (Hình 3). Mỗi
một bước trong quy trình đều được tối ưu các
thông số như mô tả trong các mục trên.
Nguyễn Thị Phương Lan et al.
492
Hình 3. Quy trình phân tích hàm lượng amino acid trong mẫu cua.
Tạp chí Công nghệ Sinh học 18(3): 487-495, 2020
493
Hàm lượng amino acid của cua lột nguyên liệu
Kết quả cho thấy hàm lượng amino acid
tổng số trong mẫu cua nguyên liệu đạt 4,53
(g/100g khối lượng tươi) (Bảng 5). So sánh với
các tài liệu trên thế giới cho thấy hàm lượng
amino acid trong cua lột ở Việt Nam khá cao và
đẩy đủ các amino acid thiết yếu như lysine,
valine, cysteine (Wu, 2010).
Hàm ẩm trong cua lột tươi chiếm tới 85,7%,
như vậy, hàm lượng amino acid đạt 4,53% trong
14,3% khối lượng khô (xấp xỉ 31,3% khối
lượng khô). Kết quả này tương đương với
nghiên cứu về hàm lượng protein trong cua lột
(xấp xỉ 30,0%) đã công bố (Nguyen Thi Lan
Phuong, 2017). Trong khi đó, hàm lượng amino
acid trong cua ở nhiều loài cũng cho thấy sự
khác biệt đáng kể giữa các loài từ 5,46 đến
8,73% (Portunus pelagicus, Portunus gladiator,
Charybdis lucifera) (Ramamoorthy, 2016).
Bảng 5. Hàm lượng 17 amino acid của cua lột nguyên liệu.
STT Tên amino acid Hàm lượng amino acid (g/100g)
Nguyên liệu cua lột ban đầu Trong bột cua lột thủy phân
1 Aspartic acid 0,29 4,31
2 Serine 0,41 3,45
3 Glutamic acid 0,21 1,63
4 Glycine 0,33 2,31
5 Histidine 0,11 3,9
6 Arginine 0,25 2,92
7 Threonine 0,32 2,08
8 Alanine 0,21 3,45
9 Proline 0,50 8,74
10 Cysteine 0,33 5,52
11 Tyrosine 0,23 4,72
12 Valine 0,18 6,56
13 Methionine 0,16 4,35
14 Lysine 0,20 3,45
15 Isoleucine 0,23 2,71
16 Leucine 0,29 4,28
17 Phenylalanine 0,28 1,20
Tổng 4,53 65,58
Bột cua lột thủy phân bằng enzyme
Hàm lượng amino acid trong bột cua lột
thủy phân chế biến bằng enzyme có tỷ lệ tăng
lên đáng kể, từ 31,3% khối lượng khô lên
65,58% khối lượng khô (Bảng 5). Điều này có
thể được giải thích vì bột cua lột thủy phân thu
được đã loại bỏ thành phần vỏ chitin mềm và
những thành phần không phân giải được sau khi
thủy phân. Nghiên cứu của Harun và cộng sự
năm 2017 cho thấy, hàm lượng protein thô thu
được trong bột thủy phân cua lột lên tới
74,18%. Như vậy, bột cua lột thủy phân có hàm
lượng amino acid tăng lên 2 lần so với trước khi
chế biến. Hàm lượng amino acid thiết yếu đạt
28,53% gồm các amino acid như leucine 4,28%;
Nguyễn Thị Phương Lan et al.
494
valine 6,56%; histidine 3,9%; lysine 3,45%,
trong khi, hàm lượng các amino acid không
thiết yếu đạt 37,05%, trong đó, arginine,
cysteine, proline lần lượt đạt 2,92; 5,52; 8,74%.
KẾT LUẬN
Nghiên cứu đã lựa chọn được các điều kiện
phân tích phù hợp để định lượng các amino acid
trong cua lột bao gồm các bước thủy phân
amino acid bằng acid ở 110oC trong 24 giờ, sắc
ký lỏng hiệu năng cao sử dụng pha động là dung
môi Na2HPO4 40 mM kết hợp với hỗn hợp dung
môi methanol: acetonitril: nước tỷ lệ 45:45:10,
detector huỳnh quang ở bước sóng kích thích
340 và bước sóng phát xạ 450 nm trong 40 phút
đầu, sau đó là bước sóng kích thích 266 và bước
sóng phát xạ 305 nm.
Kết quả về hàm lượng amino acid trong quá
trình chế biến cho thấy nguyên liệu cua lột có
hàm lượng amino acid 4,53% khối lượng tươi,
tương đương 31,3% khối lượng khô. Sau khi chế
biến bằng công nghệ enzyme thu được bột cua
lột thủy phân có hàm lượng amino acid tăng lên
khoảng 2 lần (xấp xỉ 65,58% khối lượng khô).
Lời cảm ơn: Công trình này được hỗ trợ tài chính
bởi Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn với
mã số hợp đồng 16/2017/HĐ/KHCN-VP thuộc
chương trình Công nghệ sinh học nông nghiệp và
thủy sản 2020.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Harun Z, Amin AM, Sarbon NM, Zaino MKM,
Sharmin KN (2017) Optimisation of enzymatic
protein hydrolysis of mud crab (Scylla sp.) to obtain
maximum antioxidant activity using response surface
methodology. Malays Appl Biol 46(3): 15–21.
Ma X, Zhao D, Li X, Meng L (2015)
Chromatographic method for determination of the
free amino acid content of chamomile flowers.
Pharmacogn Mag 11 (41): 176-179.
Mullally MM, O’Callaghan DM, FitzGerald RJ,
Donnelly WJ, Dalton JP (1994) Proteolytic and
peptidolytic activities in commercial pancreatic
protease preparations and their relationship to some
whey protein hydrolysate characteristics. J Agricult
Food Chem 42(12): 2973–2981.
Nguyen Thi Phuong Lan, Do Thi Thanh Trung, Van
Thu Vu, Dao Thi Dung, Le Tat Thanh (2018)
Establishing the hydrolysis procedure of soft-shell
crab (Scylla sp.) in Vietnam. Vietnam J Sci Technol
56 (2A): 201-208.
Ramamoorthy N, Karuppasamy KP, Sri Sakthi
Priyadarshini R (2016) Proximate, amino acid and
fatty acid composition the marine crabs from the
southeast coast of India. J Mar Bioscie 2 (1): 91-98.
Sarower MG, Bilkis S, Rauf MA, Khanam M, Islam
MS (2013) Comparative biochemical composition of
natural and fattened mud crab Scylla serrata. J Sci
Res 5(3): 545-553.
Vilasoa-Martinez M, López-Hernández J, Lage-
Yusty M (2007) Protein and amino acid contents in
the crab, Chionoecetes opilio. Food Chem 103:
1330–1336.
Xugan Wu (2010) Comparison of gender differences
in biochemical composition and nutritional value of
various edible parts of the blue swimmer crab. J
Food Comp Anal 23: 154–159.
ESTABLISHMENT OF A PROCEDURE TO DETERMINE THE CONTENT OF
AMINO ACIDS IN SOFT-SHELL CRAB (Scylla sp.)
Nguyen Thi Phuong Lan1,2, Do Thi Thanh Trung3, Van Thu Vu4, Le Tat Thanh1,3
1Graduate University of Sciences and Technology, Vietnam Academy of Science and Technology
2Vietnam Food Administration, Ministry of Health
3Institute of Natural Products Chemistry, Vietnam Academy of Science and Technology
SUMMARY
Mud crab Scylla sp. is a common sea crab species in Vietnam as well as in Asia Pacific. Today,
Tạp chí Công nghệ Sinh học 18(3): 487-495, 2020
495
mud crabs are raised on a large scale to be harvested at the soft molting stage because of the high
economic value of the finished shell crabs. At present, the processing of soft shell crabs is limited to
whole packaging and exporting. However, 30% of soft-shelled crabs in processing often lose their
feet and claws, which reduce production costs. Therefore, it is necessary to study the technology of
processing soft-shell crabs to improve the value of soft-shelled crab products. Recently, the
application of enzymes in processing has brought many benefits such as being environmentally
friendly and creating many bioactive substances. In this journal, we built the procedure to determine
amino acid content in the processing of Scylla sp. to ensure the quality of products obtained after
processing. This procedure based on HPLC using a fluorescence reader. The results showed that the
amino acid content after hydrolysis process by enzyme technology reached 65.58% dry weight and
contains many valuable amino acids such as lysine, leucine, valine, methionine, histidine.
Keywords: Enzyme technology, hydrolysis, mud crab, soft-shell crab.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
xay_dung_quy_trinh_phan_tich_ham_luong_17_amino_acid_tu_cua.pdf