Yêu cầu phát triển bền vững vùng đồng bằng sông Cửu Long trước bối cảnh biến đổi khí hậu

Thứ ba, tăng cường năng lực nhận thức, ý thức và hành vi bảo vệ môi trường- sinh thái, giảm thiểu các tác nhân làm khí hậu xấu hơn. Phát triển các hoạt động kinh tế gắn với yêu cầu bảo đảm yếu tố môi trường sinh thái. Cần lập quy hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng vùng đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu; xây dựng chuỗi cung ứng cho các sản phẩm chủ lực toàn vùng. Các địa phương trên cơ sở quy hoạch chung của vùng sẽ lập quy hoạch cho từng sản phẩm chủ lực; lập quy hoạch khu, vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; xây dựng chuỗi giá trị cho từng sản phẩm chủ lực của địa phương. Xây dựng cơ cấu kinh tế nông nghiệp hợp lý, bảo đảm gắn kết chuỗi sản phẩm hàng hóa, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Chú trọng công nghiệp chế biến và công nghiệp hỗ trợ cho nền kinh tế nông nghiệp. Phát triển công nghiệp xanh, ít phát thải, không gây tổn hại đến hệ sinh thái tự nhiên. Phát triển năng lượng tái tạo gắn với bảo vệ rừng và bờ biển; phát triển dịch vụ - du lịch dựa trên tiềm năng, lợi thế về đặc điểm tự nhiên, sinh thái, văn hoá, con người với hiệu quả kinh tế cao. Phát triển các loại hình du lịch miệt vườn, du lịch sông nước, du lịch sinh thái gắn với các khu bảo tồn thiên nhiên. Đồng bằng sông Cửu Long đứng đầu cả nước về sản lượng lương thực, cây trái và thủy sản, góp phần quan trọng vào chương trình an ninh lương thực quốc gia. Tuy nhiên đồng bằng sông Cửu Long đang đứng trước những nguy cơ thách thức lớn do biến đổi khí hậu – nước biển dâng cùng các tác động do phát triển ở vùng thượng lưu, làm ảnh hưởng đến sản xuất và dân sinh vùng đồng bằng. Chính vì vậy, thích nghi với những biến đổi khí hậu là điều kiện tiên quyết phục vụ cho sự phát triển bền vững của vùng./

pdf5 trang | Chia sẻ: hachi492 | Ngày: 12/01/2022 | Lượt xem: 50 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Yêu cầu phát triển bền vững vùng đồng bằng sông Cửu Long trước bối cảnh biến đổi khí hậu, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
247 KỶ YẾU HỘI THẢO PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG TỪ THỰC TIỄN ĐẾN CHÍNH SÁCH YÊU CẦU PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG TRƯỚC BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ThS. Nguyễn Thị Diễm My ồng bằng sông Cửu Long là vùng đất rộng lớn chiếm 12% diện tích, 19% dân số cả nước, mạng lưới sông, kênh, rạch dày đặc; có lợi thế về phát triển nông nghiệp, công nghiệp thực phẩm, du lịch, năng lượng tái tạo; là trung tâm sản xuất nông nghiệp lớn nhất của Việt Nam. Trong bối cảnh toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế, đồng bằng sông Cửu Long có nhiều cơ hội phát triển nhưng cũng đang đối mặt với nhiều thách thức do đây là vùng đất mẫn cảm với thay đổi của tự nhiên. Biến đổi khí hậu và nước biển dâng diễn ra nhanh hơn dự báo, gây ra nhiều hiện tượng thời tiết cực đoan, ảnh hưởng đến sinh kế và đời sống của người dân. Do vậy, cần có một hệ thống giải pháp tổng thể cho vùng nhằm ứng phó với những tác động ngày càng lớn của biến đổi khí hậu. 1. Vùng đồng bằng sông Cửu Long trong sự phát triển chung của cả nước Phạm vi vùng đồng bằng sông Cửu Long bao gồm toàn bộ ranh giới hành chính của TP Cần Thơ và 12 tỉnh: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu Giang, An Giang, Sóc Trăng, Kiên Giang, Bạc Liêu và Cà Mau. Tổng diện tích toàn vùng khoảng 40.604,7 km2. Đồng bằng sông Cửu Long có vai trò quan trọng trong nền kinh tế đất nước. Với diện tích khoảng 4 triệu héc-ta, hai "trụ cột" kinh tế chính của vùng là nông nghiệp và thủy sản. Trong nông nghiệp, cây lúa chiếm diện tích lớn, đang gánh vác vai trò an ninh lương thực và xuất khẩu gạo cao nhất, nhì thế giới sản xuất 50% sản lượng lương thực, 65% sản lượng trái cây, 75% sản lượng thủy sản và đóng góp 20% GDP cả nước. Vành đai ven biển tiếp giáp với đồng bằng sông Cửu Long rất giàu nguồn lợi thủy sản và có tính đa dạng sinh học cao. Đặc biệt, có 2 khu dự trữ sinh quyển được UNESCO công nhận là Khu  Học viện Chính trị khu vực IV. Đ 248 dự trữ sinh quyển ven biển và biển đảo Kiên Giang - với diện tích hơn 1,1 triệu ha được xem là khu dự trữ lớn nhất Đông Nam Á và Khu dự trữ sinh quyển Mũi Cà Mau - có diện tích 371.506 ha. Vùng biển và ven biển này có đến 260 loài cá được ghi nhận và rất nhiều loại nhuyễn thể, giáp xác sinh sống. Ngoài nguồn lợi sinh học, vùng biển đồng bằng sông Cửu Long còn có tiềm năng lớn trong vận tải biển, còn nhiều hứa hẹn với các tài nguyên khoáng sản chưa khai thác, đặc biệt là dầu khí. Như vậy,với những tiềm năng sẵn có của mình, vùng đồng bằng sông Cửu Long được xác định sẽ trở thành vùng trọng điểm quốc gia về sản xuất nông nghiệp và đánh bắt, nuôi trồng thủy sản; phát triển mạnh kinh tế biển, du lịch sinh thái cảnh quan sông nước; phát triển không gian vùng với hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội đồng bộ mang đặc thù của vùng đồng bằng sông Cửu Long nhằm phát triển kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo vệ môi trường cảnh quan sinh thái đặc trưng của vùng hạ lưu sông Mekong, đảm bảo an ninh, quốc phòng. 2. Biến đổi khí hậu và tác động của biến đổi khí hậu đến sự phát triển của vùng Biến đổi khí hậu được hiểu là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn. Biến đổi khí hậu là do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển hay trong khai thác sử dụng đất. Biến đổi khí hậu vùng đồng bằng sông Cửu Long tác động đến sự phát triển về nhiều mặt của đời sống nhân dân, cả về đời sống kinh tế lẫn văn hóa xã hội. Đối với ngành nông nghiệp và thủy sản: tình trạng ngập lụt do nước biển dâng sẽ làm mất đất canh tác trong nông nghiệp. Nếu mực nước biển dâng thêm 75m, ước tính khoảng 39% diện tích đồng bằng sông Cửu Long sẽ bị ngập. Tình trạng xâm nhập mặn ở ven biển cũng sẽ thu hẹp diện tích đất nông nghiệp. Một phần đáng kể đất trồng trọt sẽ bị nhiễm mặn vì đất thấp so với mực nước biển. Vùng đồng bằng sông Cửu Long hiện có thế mạnh về thủy sản, đặc biệt là đánh bắt nuôi trồng và chế biến thủy sản, khoảng 480.000 người trực tiếp 249 KỶ YẾU HỘI THẢO PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG TỪ THỰC TIỄN ĐẾN CHÍNH SÁCH tham gia vào đánh bắt, 100.000 người làm việc ở ngành chế biến thủy sản và khoảng 2.140.000 người tham gia vào các dịch vụ nghề cá. Các sinh kế thủy sản, bao gồm đánh bắt và nuôi trồng là những sinh kế phụ thuộc vào nguồn nước và sự phong phú của nguồn lợi ven biển nên dễ chịu tác động của quá trình biến đổi khí hậu. Tác động đến ngành công nghiệp: mặc dù không chịu ảnh hưởng trực tiếp từ việc biến đổi khí hậu như trong hoạt động nông nghiệp. Tuy nhiên, nếu vùng đồng bằng sông Cửu Long bị ngập thì nguồn nguyên liệu cho công nghiệp, đặc biệt là nguyên liệu cho công nghiệp chế biến lương thực thực phẩm, dệt, may mặc của vùng sẽ bị suy giảm. Điều này sẽ gây sức ép đến việc chuyển dịch cơ cấu các ngành công nghiệp về loại hình công nghiệp, tỷ lệ công nghiệp chế biến, công nghệ cao. Đối với một số lĩnh vực lao động, xã hội: biến đổi khí hậu tác động đến lao động việc làm theo 2 hướng rõ rệt: biến đổi khí hậu làm cho việc làm trong nông nghiệp trở nên bấp bênh hơn, rủi ro hơn; biến đổi khí hậu làm cho việc làm cho một bộ phận lao động phải chuyển đổi việc làm, làm giảm thời gian làm việc, giảm thu nhập và làm tăng lượng lao động di cư của địa phương. Đối với hạ tầng kĩ thuật: biến đổi khí hậu làm hệ thống đê biển, đê sông chịu nhiều ảnh hưởng. Mực nước biển dâng cao làm cho hệ thống đê điều không thể chống chọi được khi có bão, dẫn đến vỡ đê khi có các đợt bão lớn, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất cũng như đời sống của người dân. Mặt khác, nước biển dâng sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến các đô thị ven biển, gây ảnh hưởng đến giao thông, sinh hoạt và các hoạt động sản xuất. 3. Một số giải pháp nhằm phát triển bền vững vùng đồng bằng sông Cửu Long trước những tác động biến đổi khí hậu Biến đổi khí hậu là một vấn đề mang tính toàn cầu, tác động lớn đến lợi ích của cả cộng đồng. Do vậy, đồng bằng sông Cửu Long cũng chịu chung những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, việc cần làm là phải có những hướng giải pháp để giảm thiểu những bất lợi, tìm cách thích nghi với những biến đổi của khí hậu. Cụ thể: Thứ nhất, các địa phương trong vùng cần thống nhất một thể chế chung, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo 250 vệ môi trường; xác định rõ những nhiệm vụ trọng tâm, cấp thiết và bố trí đủ nguồn lực để tổ chức thực hiện, nhất là quy hoạch tổng thể vùng đồng bằng sông Cửu Long. Tổ chức thực hiện có hiệu quả những lĩnh vực liên kết vùng đồng bằng sông Cửu Long. Trong đó, liên kết ứng phó với biến đổi khí hậu, hạn hán, lũ lụt, xâm nhập mặn phải được quan tâm hàng đầu. Thứ hai, cần xác định rõ biến đổi khí hậu có tác động đến hầu hết các quốc gia trên thế giới hiện nay, do đó các địa phương trong vùng cần có biện pháp thích nghi với những biến đổi của khí hậu. Việc xây dựng kế hoạch hành động thích nghi với biến đổi khí hậu vừa mang tính cấp bách trước mắt vừa mang tính chiến lược lâu dài nhằm giữ được sự phát triển bền vững kinh tế- xã hội- môi trường. Điển hình như quy hoạch mới cần chuyển từ “sống chung với lũ” sang “chủ động sống chung với lũ, ngập, nước lợ, nước mặn” trên cơ sở quy hoạch tổng hợp tài nguyên nước theo lưu vực sông; sử dụng tiết kiệm, hiệu quả và bền vững tài nguyên nước, chủ động bảo đảm nguồn nước ngọt cho sinh hoạt của người dân và vùng kinh tế nước lợ, nước mặn; khai thác hợp lý tiềm năng tài nguyên nước lợ, nước mặn ở vùng ven biển phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Thứ ba, tăng cường năng lực nhận thức, ý thức và hành vi bảo vệ môi trường- sinh thái, giảm thiểu các tác nhân làm khí hậu xấu hơn. Phát triển các hoạt động kinh tế gắn với yêu cầu bảo đảm yếu tố môi trường sinh thái. Cần lập quy hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng vùng đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu; xây dựng chuỗi cung ứng cho các sản phẩm chủ lực toàn vùng. Các địa phương trên cơ sở quy hoạch chung của vùng sẽ lập quy hoạch cho từng sản phẩm chủ lực; lập quy hoạch khu, vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; xây dựng chuỗi giá trị cho từng sản phẩm chủ lực của địa phương. Xây dựng cơ cấu kinh tế nông nghiệp hợp lý, bảo đảm gắn kết chuỗi sản phẩm hàng hóa, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Chú trọng công nghiệp chế biến và công nghiệp hỗ trợ cho nền kinh tế nông nghiệp. Phát triển công nghiệp xanh, ít phát thải, không gây tổn hại đến hệ sinh thái tự nhiên. Phát triển năng lượng tái tạo gắn với bảo vệ rừng và bờ biển; phát triển dịch vụ - du lịch dựa trên tiềm năng, lợi thế về đặc điểm tự nhiên, sinh thái, văn hoá, con người với hiệu quả kinh tế cao. Phát triển các loại hình du lịch miệt vườn, du lịch sông nước, du lịch sinh thái gắn với các khu bảo tồn thiên nhiên. Đồng bằng sông Cửu Long đứng đầu cả nước về sản lượng lương thực, cây trái và thủy sản, góp phần quan trọng vào chương trình an ninh lương thực 251 KỶ YẾU HỘI THẢO PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG TỪ THỰC TIỄN ĐẾN CHÍNH SÁCH quốc gia. Tuy nhiên đồng bằng sông Cửu Long đang đứng trước những nguy cơ thách thức lớn do biến đổi khí hậu – nước biển dâng cùng các tác động do phát triển ở vùng thượng lưu, làm ảnh hưởng đến sản xuất và dân sinh vùng đồng bằng. Chính vì vậy, thích nghi với những biến đổi khí hậu là điều kiện tiên quyết phục vụ cho sự phát triển bền vững của vùng./. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Tạ Đình Thi, Tạ Văn Trung (2016), Bàn về phát triển bền vững vùng đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh biến đổi khí hậu, Tài nguyên và môi trường, kỳ 2, tr. 10. 2. Lê Anh Tuấn (2011), Biến đổi khí hậu và các giải pháp ứng phó của vùng đồng bằng sông Cửu Long, Hoạt động khoa học, tr. 92. 3. Nguyễn Thị Kim Hồng, Nguyễn Thị Bé Ba (2011), An ninh lương thực vùng đồng bằng sông Cửu Long, Tạp chí khoa học đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, số 32, tr. 3. 4. Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Kim Lai (2005), Những vấn đề toàn cầu trong thời đại ngày nay, Nxb Giáo dục.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfyeu_cau_phat_trien_ben_vung_vung_dong_bang_song_cuu_long_tru.pdf
Tài liệu liên quan