Virus PRRS có thể được phát tán từ lợn bị
bệnh sang lợn khỏe thông qua ô nhiễm phân.
Nghiên cứu của Linhares và cs (2012) cho thấy
thời gian bán phân hủy virus PRRS dựa trên
nhiệt độ ủ của phân. Ở nhiệt độ 400C, thời gian
bán hủy là 1,6-1,7h và ở 600C là 2,9-8,5 phút.
Nguồn chất thải đã gây ô nhiễm đất đai và nguồn
nước đe dọa trực tiếp tới sức khỏe của động vật
nuôi và con người. Do đó, ở các hộ xả thẳng chất
thải chăn nuôi ra môi trường xung quanh, lợn có
nguy cơ huyết thanh dương tính virus PRRS cao
gấp 4,8 lần so với lợn được nuôi ở các hộ có áp
dụng các biện pháp xử lý chất thải (bảng 4). Kết
quả nghiên cứu của Lại Thị Lan Hương và cs
(2017) cũng cho thấy việc xả thẳng chất thải ra
môi trường làm nguy cơ tăng 4 lần.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu chỉ
ra rằng sử dụng các hóa chất khử trùng
phù hợp có thể loại bỏ virus PRRS từ các
phương tiện vận chuyển, từ dụng cụ chăn
nuôi và chuồng nuôi. Do đó với những hộ
không sử dụng hóa chất khử trùng chuồng
trại, lợn sẽ có nguy cơ huyết thanh dương
tính virus PRRS cao hơn ở lợn nuôi tại các
hộ có sử dụng là 3 lần (bảng 4). Các kết quả
nghiên cứu của Nguyễn Đức Hiền (2012),
Lại Thị Lan Hương và cs (2017) cũng cho
thấy yếu tố này làm tăng nguy cơ lây nhiễm
tăng gấp 3,11 và 5,62 lần.
9 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 1 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Yếu tố nguy cơ liên quan đến huyết thanh dương tính virus PRRS mức hộ chăn nuôi ở tỉnh Phú Thọ và Quảng Ninh, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
12
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 3 - 2019
YEÁU TOÁ NGUY CÔ LIEÂN QUAN ÑEÁN HUYEÁT THANH DÖÔNG TÍNH
VIRUS PRRS MÖÙC HOÄ CHAÊN NUOÂI ÔÛ TÆNH PHUÙ THOÏ VAØ QUAÛNG NINH
Phạm Minh Hằng, Phạm Thị Thu Thúy, Nguyễn Viết Không
Viện Thú y
TÓM TẮT
Một nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 200 hộ chăn nuôi lợn ở tỉnh Phú Thọ và tỉnh Quảng
Ninh từ tháng 7 đến tháng 10 năm 2017 nhằm bước đầu khảo sát sự lưu hành kháng thể kháng virus
PRRS và xác định các yếu tố nguy cơ có liên quan đến tình trạng huyết thanh dương tính đối với virus
này. Thông tin về đặc điểm trang trại và các biện pháp thực hành trong chăn nuôi và 400 mẫu huyết thanh
đã được thu thập. Kết quả nghiên cứu cho thấy một số biện pháp thực hành và quản lý trang trại liên quan
đến an toàn sinh học, phòng ngừa và kiểm soát dịch bệnh trong chăn nuôi lợn chưa được các hộ chăn nuôi
chú trọng, đó là: Thực hiện biện pháp cùng nhập-cùng xuất; cách ly lợn mới mua; còn trên 13% số hộ
chăn nuôi không xử lý chất thải. Tỷ lệ số hộ tiêm phòng vacxin lợn tai xanh rất thấp, ở tỉnh Phú Thọ tỷ
lệ tiêm phòng chỉ đạt 9% và ở tỉnh Quảng Ninh tỷ lệ này là 20%. Tỷ lệ lưu hành huyết thanh dương tính
virus PRRS ở lợn chưa tiêm phòng là 20% và 15% ở tỉnh Phú Thọ và tỉnh Quảng Ninh. Các yếu tố nguy
cơ liên quan đến huyết thanh dương tính virus PRRS bao gồm chăn nuôi lợn gần ao hồ công cộng, không
xử lý chất thải chăn nuôi, không định kỳ sử dụng hóa chất khử trùng chuồng trại.
Từ khóa: Nghiên cứu cắt ngang, yếu tố nguy cơ, huyết thanh dương tính, kháng kháng thể, vius PRRS,
tỉnh Phú Thọ, tỉnh Quảng Ninh.
Risk factors associated with seropositivity to PRRS virus at household
farm levels in Phu Tho and Quang Ninh provinces
Pham Minh Hang, Pham Thi Thu Thuy, Nguyen Viet Khong
SUMMARY
A cross-sectional study was conducted in 200 household pig farms in Phu Tho and Quang Ninh
provinces from July-October 2017 to determine the prevalence of antibody to PRRSV and to identify
possible risk factors associated with sero-positivity of this virus. The selected farms were visited,
and interviewed to collect the information on farm characteristics and husbandry practices and
400 serum samples. The studied results showed that a series of farm sanitary and management
practices relating to biosafety and epidemic prevention, such as: Input/output together measure;
Isolation of new animal before introduction into the pig herd were not paid attention; More than
13% of households discharged pig manure directly into rivers and lakes and the rate of PRRS
vaccination was very low, reaching only 9% in Phu Tho province and 20% in Quang Ninh province.
The everage PRRSV sero-prevalence in unvaccinated animals varied between 15% and 20% in Phu
Tho province and Quang Ninh province. The main risk factors associated with PRRSV sero-positivity
including pig farms located near the public ponds, animal wastes were untreated; and pens were
not cleaned and disinfected periodically.
Keywords: Cross-sectional study, risk factors, sero-positivity, PRRSV, Phu Tho province, Quang
Ninh province.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh lợn tai xanh (Porcine reproductive and
respiratory syndrome-PRRS) lần đầu tiên được
phát hiện ở Mỹ năm 1987 và đến năm 1990, dịch
đã lan rộng khắp Bắc Mỹ (Christianson và cs,
1994). Cũng năm 1990, tại châu Âu, Đức là nước
đầu tiên thông báo có dịch PRRS và tiếp theo là
Hà Lan, Bỉ và Tây Ban Nha (OIE, 1992). Virus
13
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 3 - 2019
PRRS lần đầu tiên được phân lập ở Hà Lan năm
1991 (chủng Lelystad) và thời gian ngắn sau đó
ở Mỹ (chủng VR-2332). Cả hai chủng được xác
định hai kiểu gen chính của virus PRRS, kiểu gen
1 (châu Âu) và kiểu gen 2 (Bắc Mỹ). Hai kiểu
gen này gây ra những dấu hiệu lâm sàng tương
tự nhưng khác biệt đáng kể về di truyền và tính
kháng nguyên (Labarque và cs, 2004). Là một
RNA virus, virus PRRS có khuynh hướng đột
biến và theo thời gian, tính đa dạng của cả hai
kiểu gen đã gia tăng, dẫn đến sự xuất hiện của
một loạt các chủng mới nổi hoặc tái nổi với nhiều
kiểu hình và gen khác nhau (Kappes và cs, 2015).
Bên cạnh đó, có nhiều cơ chế lây nhiễm virus đã
được mô tả như lây nhiễm trực tiếp thông qua
sự di chuyển của lợn và gián tiếp qua đồ dùng,
côn trùng, tinh dịch hoặc không khí (Pitkin và cs,
2009). Sự đa dạng di truyền ngày càng tăng và
sự phức tạp trong cơ chế lây nhiễm virus dẫn đến
làm suy yếu hiệu quả của vacxin và biện pháp
kiểm soát dịch nếu chỉ dựa trên việc tiêm phòng.
Kháng thể kháng virus PRRS (phát hiện bởi
phương pháp ELISA) tăng lên khoảng 9 - 13
ngày sau khi nhiễm virus và giảm đi theo thời
gian, tồn tại đến 28 tháng (Desrosiers và Boutin,
2002). Lợn bài thải virus trong vòng 3 - 4 tháng
sau khi phơi nhiễm. Chính vì thế, hầu hết lợn có
huyết thanh dương tính nhưng đều âm tính với
virus PRRS và huyết thanh dương tính là một chỉ
số của việc nhiễm virus hoặc tiêm phòng trước
đó. Huyết thanh dương tính ở lợn chưa tiêm
phòng trong một trang trại cho thấy sự hiện diện
của virus tại trang trại đó (Wills và cs, 2003).
Dịch lợn tai xanh xuất hiện ở Quảng Ninh
năm 2010 làm cho 10.729 lợn mắc tại 9 huyện;
năm 2012 có 12,658 lợn mắc tại 8 xã; năm 2013:
dịch xảy ra tại hai huyện với 237 con; năm 2014:
xuất hiện 1 ổ dịch với 29 con mắc; năm 2017: tại
huyện Đông Triều có 252 con mắc; năm 2018 :
có 58 con mắc ghép tai xanh và dịch tả lợn. Tại
Phú Thọ năm 2012 có 3080 lợn mắc tại 11 xã/
phường. Bên cạnh đó Quảng Ninh là một tỉnh
ven biển, có biên giới với Trung Quốc, các hoạt
động vận chuyển, buôn bán lợn kể cả lợn nhập
lậu, các hoạt động thương mại, du lịch rất phát
triển. Tỉnh Phú Thọ với vị trí tiếp giáp với 6
tỉnh/thành trong đó có thành phố Hà Nội, có
nhiều tuyến giao thông, nhiều nút giao cao tốc
(như Nội Bài - Lào Cai), nhiều cầu, bến đò, bến
phà, do đó việc kiểm soát vận chuyển lợn vào
địa bàn hết sức phức tạp. Cộng với chăn nuôi
lợn ở cả hai tỉnh chủ yếu là chăn nuôi nhỏ lẻ,
manh mún, thiếu áp dụng các biện pháp an toàn
sinh học nên nguy cơ lợn phơi nhiễm với virus
(hay huyết thanh dương tính với virus PRRS) ở
đàn lợn nuôi của hai tỉnh này là cao.
Để có cơ sở khoa học cho việc lựa chọn
những biện pháp phòng dịch hiệu quả, chúng
tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Yếu tố nguy
cơ liên quan đến huyết thanh dương tính virus
PRRS mức hộ chăn nuôi ở tỉnh Phú Thọ và
Quảng Ninh” để tìm ra yếu tố nguy cơ nào là
chính dẫn đến đàn lợn nuôi tiếp xúc với virus
PRRS.
II. NỘI DUNG, NGUYÊN LIỆU VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng áp dụng các biện pháp
thực hành và quản lý liên quan đến an toàn sinh
học, phòng ngừa và kiểm soát dịch bệnh trong
chăn nuôi lợn
- Khảo sát sự lưu hành huyết thanh dương
tính virus PRRS ở đàn lợn nuôi tại hai tỉnh Phú
Thọ và Quảng Ninh
- Xác định các yếu tố nguy cơ liên quan đến
huyết thanh dương tính virus PRRS.
2.2. Nguyên liệu
- 400 mẫu huyết thanh lợn được thu thập tại
các hộ chăn nuôi trên địa bàn hai Tỉnh Phú Thọ
và Quảng Ninh. Huyết thanh lấy ở lợn trên 3
tuần tuổi chưa tiêm phòng vacxin PRRS. Đối
với lợn dưới 3 tuần tuổi không lấy huyết thanh
do thời điểm này lợn con vẫn còn kháng thể thụ
động từ mẹ truyền sang nếu lợn mẹ được tiêm
phòng vacxin PRRS trước đó.
- Kit IDEXX PRRS X3 Ab Test (IDEXX,
Westbrook, USA).
14
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 3 - 2019
2.3. Phương pháp nghiên cứu
Số lượng mẫu được tính theo công thức
(Thông tư số 14/2016/TT-BNNPTNT ngày 2
tháng 6 năm 2016)
n: Số mẫu cần lấy
p: Xác suất để phát hiện được bệnh (0,95)
d: Số con mắc bệnh (d=NxP)
P: Tỷ lệ hiện mắc dự đoán (2%)
N: Tổng đàn vật nuôi
+ Số hộ được chọn để điều tra và lấy mẫu là
200 hộ
Mục đích của nghiên cứu này là tìm hộ bệnh
(hộ có lợn chưa tiêm phòng có huyết thanh dương
tính với virus PRRS) và hộ chứng (hộ có lợn
chưa tiêm phòng có huyết thanh âm tính với virus
PRRS) để xác định các yếu tố nguy cơ. Do đó,
số mẫu lấy ở đây là số lượng hộ chăn nuôi được
chọn để phỏng vấn và lấy mẫu huyết thanh lợn. Do
không có số liệu về tổng số hộ chăn nuôi lợn ở hai
tỉnh Phú Thọ và Quảng Ninh, chúng tôi giả định
tổng số hộ chăn nuôi mỗi tỉnh là ∞ với tỷ lệ số hộ
hiện mắc dự đoán 3% thì số hộ được chọn để lấy
mẫu theo công thức trên là 98 hộ/tỉnh. Tuy nhiên
để thuận tiện cho việc điều tra và lấy mẫu, chúng
tôi đã tăng số hộ cần điều tra là 100 hộ/tỉnh và tổng
số hộ cần điều tra cho cả hai tỉnh là 200 hộ.
+ Số mẫu huyết thanh cần lấy là: 400 mẫu
Với tỷ lệ hiện mắc dự đoán tại mỗi hộ chăn
nuôi là 60%, số mẫu huyết thanh cần được lấy
tại một hộ là 2 mẫu.
Tổng số mẫu huyết thanh cần được lấy tại
hai tỉnh: 2 mẫu/hộ x 100 hộ/tỉnh x 2 tỉnh= 400
mẫu.
Phân bố số lượng hộ điều tra và lấy mẫu của
hai tỉnh được trình bày ở bảng 1.
]
2
1
[])1(1[
1 −
−×−−=
dNpn d
Bảng 1. Phân bố số lượng hộ điều tra và lấy mẫu tại tỉnh Quảng Ninh và Phú Thọ
Phú Thọ Quảng Ninh
Huyện Xã Số phiếu điều tra
Số mẫu
huyết
thanh
Huyện Xã Số phiếu điều tra
Số mẫu
huyết
thanh
Phù Ninh Trị Quân 30 60 Hoành Bồ Sơn Dương 13 26
TP. Việt
Trì
Chu Hóa 6 12 Trôi 12 24
Kim Đức 6 12 Quảng Yên Minh Thành 12 24
Vân Phú 6 12 Hiệp Hòa 13 26
Minh Nông 6 12 Uông Bí Nam Khê 13 26
Thanh Đình 6 12 Phương Đông 12 24
Thụy Vân 5 10 Đông Triều An Sinh 13 26
Vĩnh Lại 5 10 Bình Khê 12 24
Lâm Thao Tiến Kiên 5 10
TT Lâm Thao 5 10
Sơn Dương 3 6
Sơn Vi 3 6
Cao Xá 5 10
Kinh Kệ 4 8
Tứ Xã 5 10
Tổng 100 200 Tổng 100 200
15
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 3 - 2019
Những huyện, xã được chọn để điều tra và
lấy mẫu tại hai tỉnh là những huyện, xã trước
nghiên cứu đã xảy ra dịch tai xanh hoặc những
huyện, xã có nguy cơ cao (như có tuyến giao
thông liên tỉnh hoặc nút giao cao tốc đi qua). Do
đó số huyện, số xã tại mỗi tỉnh sẽ khác nhau như
đã trình bày ở bảng 1.
- Phương pháp lấy mẫu huyết thanh, bảo
quản, và vận chuyển mẫu: TCVN8400-21:2014
- Phản ứng ELISA: theo quy trình của nhà
sản xuất.
- Xử lý số liệu bằng phần mềm thống kê
Minitab phiên bản 17 (Minitab Inc), ứng dụng
trong phân tích hồi quy để tính tỷ số chênh
(odds ratio, OR) và 95% khoảng tin cậy (CI) .
Giá trị p<0,05 được xem là có ý nghĩa thống kê.
- Xác định các yếu tố nguy cơ liên quan đến
huyết thanh dương tính virus PRRS ở lợn chưa
tiêm phòng: Theo phương pháp nghiên cứu
bệnh - chứng (Nguyễn Như Thanh, 2011).
Trong đó chọn hộ quy định như sau:
Hộ chăn nuôi có ít nhất một lợn chưa tiêm
phòng có huyết thanh dương tính với virus
PRRS là hộ bệnh
Hộ chăn nuôi có lợn chưa tiêm phòng có
huyết thanh âm tính với virus PRRS là hộ chứng.
+ OR = 1: Không có ảnh hưởng của yếu tố
nguy cơ lên xác suất lợn có huyết thanh dương
tính với virus PRRS
+ OR > 1: Lợn khi phơi nhiễm yếu tố nguy
cơ có khả năng huyết thanh dương tính với virus
PRRS tăng lên
+ OR <1 : Nguy cơ lợn có huyết thanh
dương tính với virus PRRS giảm đi.
III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Thực trạng áp dụng các biện pháp thực
hành và quản lý liên quan đến an toàn sinh
học, phòng ngừa và kiểm soát dịch bệnh
trong chăn nuôi lợn
Đây là nghiên cứu đầu tiên được tiến hành để
đánh giá thực trạng áp dụng các biện pháp thực
hành và quản lý liên quan đến an toàn sinh học,
phòng ngừa và kiểm soát dịch bệnh trong chăn
nuôi lợn của các hộ chăn nuôi trên địa bàn hai
tỉnh Phú Thọ và Quảng Ninh. Kết quả nghiên
cứu được tóm tắt và trình bày ở bảng 2.
Thức ăn là chất dinh dưỡng thiết yếu đáp
ứng nhu cầu cho lợn để duy trì, tăng trưởng,
sinh sản, tiết sữa và các chức năng khác. Việc
cung cấp đầy đủ và chất lượng của thức ăn là
vấn đề cốt lõi để duy trì sức khỏe cho lợn. Lợn
được cho ăn đúng cách có khả năng chống lại
nhiều bệnh do virus, vi khuẩn và ký sinh trùng
gây ra chính là do tăng sản xuất kháng thể, cải
thiện khả năng miễn dịch với các bệnh hoặc các
yếu tố khác. Ngoài ra, dinh dưỡng hợp lý là điều
cần thiết để lợn phục hồi nhanh chóng từ dịch
bệnh. Kết quả điều tra ở bảng 2 cho thấy tại Phú
Thọ, thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh được 46,1%
số hộ sử dụng, thức ăn chăn nuôi thương mại
và thức ăn chăn nuôi truyền thống được 39,2%
và 14,7% hộ sử dụng, không có hộ nào sử dụng
thức ăn thu gom. Ngược lại tại Quảng Ninh, tỷ
lệ hộ sử dụng thức ăn chăn nuôi truyền thống
là cao nhất (55,6%), tiếp đến là thức ăn hỗn
hợp hoàn chỉnh là 39,2% và thức ăn chăn nuôi
thương mại chỉ có 5,2% số hộ sử dụng. Cũng
như tỉnh Phú Thọ, trong 100 hộ điều tra tại tỉnh
Quảng Ninh, không có hộ nào sử dụng thức ăn
thu gom. Điều này cho thấy hình thức chăn nuôi
nhỏ lẻ với số lượng ít và tận dụng nguồn thức
ăn có sẵn (chế phẩm sinh hoạt hàng ngày để cho
chăn nuôi) đã giảm xuống rất nhiều, thay vào đó
các trang trại, các hộ chăn nuôi có quy mô lớn
ngày càng nhiều hơn và việc sử dụng thức ăn
hỗn hợp hoàn chỉnh cũng tăng hơn.
Nước sạch là nền tảng cho tất cả các sinh
vật sống trong đó có động vật chăn nuôi. Nước
chiếm tới 82% trọng lượng của lợn con và 55%
trọng lượng lợn trưởng thành. Nhìn chung, lợn
có xu hướng uống lượng nước khoảng 10%
trọng lượng của chúng mỗi ngày hoặc gấp 2
lần lượng thức ăn chúng ăn. Tỷ lệ mắc bệnh,
lượng thức ăn tiêu thụ, tốc độ tăng trưởng và
hiệu quả của thức ăn bị ảnh hưởng bởi chất
16
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 3 - 2019
Bảng 2. Kết quả thực trạng áp dụng các biện pháp thực hành và quản lý liên quan
đến an toàn sinh học, phòng ngừa và kiểm soát dịch bệnh trong chăn nuôi lợn
Yếu tố liên quan Phú Thọ - Tỷ lệ (%) Quảng Ninh - Tỷ lệ (%)
Loại thức ăn sử dụng trong chăn nuôi
Thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh 46,1 39,2
Thức ăn chăn nuôi thương mại 39,2 5,2
Thức ăn chăn nuôi truyền thống 14,7 55,6
Thức ăn thu gom 0 0
Nguồn nước sử dụng trong chăn nuôi
Nước máy 21 96,5
Nước giếng 79 3,5
Nước ao, hồ 0 0
Nước mưa 0 0
Phương pháp thụ tinh
Thu tinh nhân tạo 73,1 82,7
Lợn đực giống 26,9 17,3
Cùng xuất - cùng nhập trong chăn nuôi
Có 35 46
Không 65 54
Nuôi cách ly lợn giống mới mua về
Có 67,3 46,2
Không 32,7 53,8
Vệ sinh chuồng trại
Hàng ngày 92 57
2 – 3 lần/tuần 0 16
Hàng tuần 6 15
Hàng tháng 2 12
Tình trạng xử lý chất thải trong chăn nuôi
Ủ bio-gas 55 27,3
Làm phân bón trực tiếp cho rau 9 5,5
Không xử lý chất thải (thải thẳng ra ao, hồ..) 13 14,5
Xử lý bằng chế phẩm sinh học 13 24,5
Nuôi cá 10 28,2
Tiêm phòng vacxin lợn tai xanh
Tiêm phòng 9 20
Không tiêm phòng 91 80
lượng nước được cung cấp. Chất lượng nước
cung cấp trong chăn nuôi lợn được đánh giá
theo 5 tiêu chí: Vi sinh vật tổng số, pH, độ
cứng, chất rắn hòa tan, nitrat và nitrit (Torrey
và cs, 2008). Theo kết quả ở bảng 2 tại Phú
Thọ, khoảng 79% số hộ điều tra sử dụng nước
giếng trong chăn nuôi và 21% số hộ dùng nước
máy, không có hộ nào sử dụng nước ao hồ và
nước mưa. Tại Quảng Ninh, 96,5% hộ sử dụng
nước máy, chỉ có 3,5% sử dụng nước giếng
17
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 3 - 2019
khoan và không có hộ nào sử dụng nước ao, hồ
và nước mưa. Tuy nhiên, hầu hết các hộ chăn
nuôi không kiểm tra chất lượng nguồn nước
giếng khoan.
Thụ tinh nhân tạo (AI) ở lợn được thực
hiện rộng rãi tại các nước chăn nuôi với số
lượng lớn. Đây là một công cụ rất hữu ích
để đưa các gen ưu việt vào đàn lợn nái với
nguy cơ lây truyền bệnh thấp nhất. Tuy nhiên,
tác động của tinh dịch bị nhiễm với các mầm
bệnh có thể rất lớn. Hầu hết các vi sinh vật
được phát hiện trong tinh dịch lợn được coi
là không gây bệnh, nhưng một số mầm bệnh
(ví dụ như virus PRRS hay PCV2) có thể gây
ra thiệt hại lớn về kinh tế. Sự nhiễm vi sinh vật
của tinh dịch có thể là do nhiễm trùng đường
tiết niệu, nhiễm trùng đường sinh dục của lợn
đực hoặc có thể xảy ra trong khi thu thập, xử
lý và lưu trữ tinh dịch. Nó có thể dẫn đến giảm
chất lượng tinh dịch, gây chết phôi thai, viêm
nội mạc tử cung, nhiễm trùng toàn thân hoặc
dịch bệnh ở lợn cái (Maes và cs, 2008). Kết
quả điều tra cho thấy phương pháp thụ tinh cho
lợn được đa số hộ chăn nuôi sử dụng với tỷ
lệ 73,1% ở Phú Thọ và 82,7% ở Quảng Ninh.
Nhưng việc xét nghiệm các mầm bệnh trong
tinh dịch lợn cũng chưa có hộ nào thực hiện.
Thực hiện biện pháp cùng nhập - cùng
xuất ngăn ngừa sự nhiễm bệnh và sự tích tụ
dịch bệnh. Vi sinh vật truyền nhiễm có hai
nguồn chính: lợn và môi trường. Sự lây nhiễm
từ những lợn khác đàn giảm xuống hoặc bị
loại bỏ trong hệ thống cùng nhập - cùng xuất
vì chỉ một nhóm lợn có cùng độ tuổi, miễn
dịch và lịch sử bệnh được giữ lại, không có
lợn khác đàn đưa vào đó. Lây nhiễm từ môi
trường bị giảm hoặc loại bỏ trong hệ thống
này vì chuồng trại đã được làm sạch và được
khử trùng giữa các đợt nuôi. Kết quả điều tra
chỉ ra rằng tỷ lệ số hộ không thực hiện cùng
xuất - cùng nhập trong chăn nuôi là cao, Phú
Thọ 65% và Quảng Ninh 54%. Tuy nhiên tại
Phú Thọ có 67,3% số hộ nuôi cách ly lợn mới
mua về, tại Quảng Ninh thì tỷ lệ này chỉ là
46,2%. Vệ sinh hàng ngày được các hộ chăn
nuôi ở Phú Thọ chú trọng, chiếm 92% số hộ
được phỏng vấn. Tại Quảng Ninh, số hộ vệ
sinh hàng ngày chỉ chiếm 57%.
Xử lý chất thải trong chăn nuôi đang là vấn
đề quan tâm hàng đầu. Phú Thọ có 55% số hộ
sử dụng biện pháp biogas, chiếm tỷ lệ cao nhất
và thấp nhất là làm phân bón trực tiếp cho rau
(9%). Tại Quảng Ninh, tỷ lệ số hộ xử lý chất
thải bằng nuôi cá chiếm tỷ lệ cao nhất và cũng
như Phú Thọ, rất ít hộ sử dụng làm phân bón
cho rau (5%). Xử lý chất thải bằng chế phẩm
sinh học cũng đã được một số hộ chăn nuôi sử
dụng, Phú Thọ 13% và Quảng Ninh 24,5%.
Tuy vậy, vẫn còn 13% số hộ chăn nuôi tại Phú
Thọ và 14,5% tại Quảng Ninh xả thẳng chất
thải ra môi trường (bảng 2).
Các biện pháp được sử dụng hiện tại để kiểm
soát dịch lợn tai xanh bao gồm biện pháp quản
lý, an toàn sinh học, giám sát và tiêm phòng
(Corzo và cs, 2010). Tiêm phòng được sử dụng
cho mục đích giảm tổn thất lâm sàng, nhưng
không phòng được sự nhiễm virus. Tiêm phòng
vacxin có chi phí thấp nhất đối với chăn nuôi
công nghiệp và khả thi đối với tất cả các loại
hình chăn nuôi (trang trại, nông hộ, nhỏ lẻ) so
với các chiến lược kiểm soát dịch lợn tai xanh
khác. Kết quả điều tra cho thấy tỷ lệ tiêm phòng
vacxin PRRS ở Phú Thọ rất thấp (9%) và ở
Quảng Ninh, tỷ lệ này là 20% (bảng 3). Như vậy
việc tiêm phòng ở các hộ chăn nuôi vẫn chưa
được người dân chú trọng. Do đó chính quyền
địa phương cần có biện pháp chỉ đạo quyết liệt
hơn để đẩy mạnh công tác tiêm phòng, đặc biệt
ở những hộ chăn nuôi nhỏ lẻ.
3.2. Kết quả khảo sát sự lưu hành kháng thể
kháng virus PRRS ở lợn chưa tiêm phòng
vacxin tại hai tỉnh Quảng Ninh và Phú Thọ
Để khảo sát sự lưu hành huyết thanh dương
tính virus PRRS, tổng số 400 mẫu huyết thanh
được thu thập ngẫu nhiên ở lợn (lợn trên 3 tuần
tuổi chưa tiêm phòng) thuộc 200 hộ chăn nuôi trên
địa bàn hai tỉnh Quảng Ninh và Phú Thọ đã được
kiểm tra bằng phương pháp ELISA (bảng 3).
18
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 3 - 2019
Qua khảo sát cho thấy, có 20% số mẫu huyết
thanh lợn ở tỉnh Phú Thọ và 15% số mẫu huyết
thanh lợn ở Quảng Ninh dương tính với virus
PRRS (bảng 3). Như vậy ở lợn chưa được tiêm
phòng có tỷ lệ nhỏ tiếp xúc với nguồn bệnh
trong tự nhiên biểu hiện qua huyết thanh dương
tính. Nghĩa là mầm bệnh có lưu hành ngoài môi
trường tự nhiên và các đối tượng lợn chưa được
tiêm phòng tiếp xúc với chúng đều tiềm ẩn nguy
cơ mắc và bùng phát dịch.
3.3. Phân tích các yếu tố nguy cơ lây nhiễm
virus PRRS
Mặc dù thực hiện nhiều biện pháp kiểm soát
bao gồm cả tiêm chủng, cải tiến công tác thực
hành quản lý hoặc di truyền-giống, PRRS vẫn
tiếp tục trở thành một vấn đề lớn đối với các
hộ chăn nuôi lợn. Sự phân bố rộng rãi của virus
PRRS và nguy cơ tái xuất hiện ở đàn lợn nuôi
sau khi diệt trừ đã làm suy yếu nỗ lực kiểm soát
dịch. Do đó, việc nhận biết các yếu tố nguy cơ
là bước quan trọng để xác định và thực hiện các
biện pháp kiểm soát dịch bệnh và thiết kế chiến
lược giám sát hiệu quả (Velasova và cs, 2012).
Các yếu tố nguy cơ được nhận biết trên cơ
sở phân tích mối quan hệ giữa việc thực hiện
các biện pháp an toàn sinh học và thực trạng lưu
hành của thuyết thanh dương tính virus PRRS
tại khu chuồng nuôi được áp dụng trong nghiên
cứu này và kết quả được trình bày ở bảng 4.
Hiện nay, tình trạng ô nhiễm môi trường
nước ao, hồ ở nhiều vùng nông thôn đang ở mức
báo động. Nguyên nhân là do việc xả nước thải
sinh hoạt, chất thải chăn nuôi trực tiếp ra môi
trường làm cho nguồn nước bị ô nhiễm nghiêm
trọng. Bên cạnh đó, nước thải từ các vùng có
dịch bệnh, các khu giết mổ tập trung còn chứa
nhiều loại vi sinh vật gây bệnh có khả năng
ngấm vào nguồn nước ngầm. Một số hộ chăn
nuôi do nhận thức kém về an toàn sinh học đã
vứt xác lợn chết ra các ao hồ công cộng. Hay để
tận dụng chất thải của lợn để nuôi cá, nhiều hộ
chăn nuôi đã xây chuồng trại ngay cạnh các ao,
hồ công cộng và sử dụng nước ao hồ rửa chuồng
trại. Do đó các trại chăn nuôi ở gần những ao hồ
ô nhiễm này sử dụng nước giếng khoan không
qua xử lý cho lợn uống hoặc sử dụng nước ao
hồ để rửa chuồng trại, lợn sẽ có nguy cơ tiếp
xúc với virus (hay có huyết thanh dương tính
virus PRRS) cao hơn ở những trại chăn nuôi
nằm cách xa là 3,3 lần (bảng 3).
Virus PRRS có thể được phát tán từ lợn bị
bệnh sang lợn khỏe thông qua ô nhiễm phân.
Nghiên cứu của Linhares và cs (2012) cho thấy
thời gian bán phân hủy virus PRRS dựa trên
nhiệt độ ủ của phân. Ở nhiệt độ 400C, thời gian
bán hủy là 1,6-1,7h và ở 600C là 2,9-8,5 phút.
Nguồn chất thải đã gây ô nhiễm đất đai và nguồn
nước đe dọa trực tiếp tới sức khỏe của động vật
nuôi và con người. Do đó, ở các hộ xả thẳng chất
thải chăn nuôi ra môi trường xung quanh, lợn có
nguy cơ huyết thanh dương tính virus PRRS cao
gấp 4,8 lần so với lợn được nuôi ở các hộ có áp
dụng các biện pháp xử lý chất thải (bảng 4). Kết
quả nghiên cứu của Lại Thị Lan Hương và cs
(2017) cũng cho thấy việc xả thẳng chất thải ra
môi trường làm nguy cơ tăng 4 lần.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu chỉ
ra rằng sử dụng các hóa chất khử trùng
phù hợp có thể loại bỏ virus PRRS từ các
Bảng 3. Kết quả huyết thanh dương tính virus PRRS ở lợn chưa tiêm phòng
tại Phú Thọ và Quảng Ninh
Địa phương Số mẫu kiểm tra Số mẫu dương tính(Tỷ lệ dương tính %)
Số hộ có huyết thanh
dương tính
Phú Thọ 200 40 (20) 23
Quảng Ninh 200 30 (15) 25
Tổng 400 70 (17,5) 48
19
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 3 - 2019
Bảng 4. Kết quả phân tích một số yếu tố nguy cơ liên quan đến
huyết thanh dương tính virus PRRS
Biến nguy cơ Phân loại Hộ bệnh Hộ chứng Tỷ số chênh (OR) 95% CI P value
1. Chăn nuôi >8 lợn/ô
chuồng
Có 24 107
0,42 0,2-0,8 0,01
Không 24 45
2. Chăn nuôi lợn gần khu
dân cư
Có 21 97
0,4 0,2-0,9 0,02
Không 27 55
3. Chăn nuôi lợn gần ao,
hồ công cộng
Có 25 34
3,3 1,7-6,6 0,00
Không 23 118
4. Sử dụng thức ăn tự chế Có 17 40
1,5 0,8-3,1 0,23
Không 31 112
5. Sử dụng nước giếng
khoan
Có 18 53
1,12 0,6-2,2 0,74
Không 30 99
6. Tự sản xuất con giống Có 26 66
1,54 0,8-3 0,19
Không 22 86
7. Thụ tinh nhân tạo Có 14 83
0,34 0,2-0,7 0,00
Không 34 69
8. Xả thẳng chất thải ra
ngoài môi trường
Có 18 17
4,8 2,2-10,3 0,00
Không 30 135
9. Thực hiện việc cùng
nhập - cùng xuất
Có 20 77
0,7 0,4-1,3 0,27
Không 28 75
10. Sử dụng hóa chất khử
trùng chuồng trại
Có 27 46
3 1,5-5,8 0,00
Không 21 106
11. Cách ly lợn giống mới
mua về
Có 16 82
0,43 0,2-0,8 0,01
Không 32 70
12. Vệ sinh chuồng trại
hàng ngày
Có 11 38
0,89 0,4-1,9 0,77
Không 37 114
13. Vệ sinh máng ăn hàng
ngày
Có 15 37
1,4 0,7-2,9 0,34
Không 33 115
phương tiện vận chuyển, từ dụng cụ chăn
nuôi và chuồng nuôi. Do đó với những hộ
không sử dụng hóa chất khử trùng chuồng
trại, lợn sẽ có nguy cơ huyết thanh dương
tính virus PRRS cao hơn ở lợn nuôi tại các
hộ có sử dụng là 3 lần (bảng 4). Các kết quả
nghiên cứu của Nguyễn Đức Hiền (2012),
Lại Thị Lan Hương và cs (2017) cũng cho
thấy yếu tố này làm tăng nguy cơ lây nhiễm
tăng gấp 3,11 và 5,62 lần.
Các biến: Sử dụng thức ăn tự chế, sử dụng
nước giếng khoan, tự sản xuất con giống,
không vệ sinh máng ăn hàng ngày, mặc dù
có tỷ số chênh (OR>1) nhưng giá trị p>0,05
và ngược lại các biến: Chăn nuôi >8 lợn/ô
chuồng, chăn nuôi lợn gần khu dân cư, thụ
tinh nhân tạo, không cách ly lợn giống mới
mua về có tỷ số chênh (OR<1) nhưng giá
trị p<0,05 không liên quan đến huyết thanh
dương tính virus PRRS.
20
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 3 - 2019
IV. KẾT LUẬN
- Một số biện pháp thực hành và quản lý liên
quan đến an toàn sinh học, phòng ngừa và kiểm
soát dịch bệnh trong chăn nuôi lợn tại 200 hộ
chăn nuôi thuộc 2 tỉnh Phú Thọ và Quảng Ninh
chưa được các hộ chăn nuôi chú trọng: Thực
hiện biện pháp cùng nhập - cùng xuất; cách ly
lợn mới mua hoặc còn trên 13% số hộ chăn nuôi
xả thẳng chất thải ra môi trường. Tỷ lệ số hộ
tiêm phòng vacxin lợn tai xanh rất thấp, Phú
Thọ 9% và Quảng Ninh 20%.
- Tỷ lệ lưu hành huyết thanh dương tính virus
PRRS trước tiêm phòng là 20% tại Phú Thọ và
15% tại Quảng Ninh.
- Các yếu tố: Chăn nuôi lợn gần ao hồ công
cộng, xả thẳng chất thải ra ngoài môi trường,
không sử dụng hóa chất khử trùng chuồng trại
có nguy cơ làm tăng huyết thanh dương tính
virus PRRS trước tiêm phòng từ 3 đến 4,8 lần.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Christianson WT, Joo H (1994). Porcine
reproductive and respiratory syndrome: a review.
Swine Health and Production 2(2):10–28
2. Corzo CA, Mondaca E, Wayne S, Torremorell
M, Dee S, Davies P, Morrison RB (2010).
Control and elimination of porcine reproductive
and respiratory syndrome virus. Virus Res
154:185–192
3. Desrosiers R, Boutin M (2002). An attempt to
eradicate porcine reproductive and respiratory
syndrome virus (PRRSV) after an outbreak
in a breeding herd: Eradication strategy and
persistence of antibody titers in sows. Journal
of Swine Health and Production 10:23-25
4. Kappes MA, Faaberg KS (2015). PRRSV
structure, replication and recombination:
origin of phenotype and genotype
diversity. Virology 479-480:475–86
5. Labarque G, Reeth KV, Nauwynck H, Drexler
C, Gucht SV, Pensaert M (2004). Impact of
genetic diversity of European-type porcine
reproductive and respiratory syndrome virus
strains on vaccine efficacy. Vaccine 22(31–
32):4183–4190.
6. Lại Thị Lan Hương, Phạm Minh Hằng,
Nguyễn Viết Không (2017). Tình hình chăn
nuôi và dịch lợn tai xanh trên đàn lợn nuôi
tại tỉnh Nam Định và Thái Bình (2012-2014),
yếu tố nguy cơ lây nhiễm virus PRRS. Tạp chí
Khoa học kỹ thuật Thú y XXIV: 15-23
7. Linhares DC, Torremorell M, Joo HS,
Morrison RB (2012). Infectivity of PRRS
virus in pig manure at different temperatures.
Vet Microbiol. 160(1-2):23-28.
8. Nguyễn Đức Hiền (2012). Tình hình nhiễm
hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (PRRS)
và một số yếu tố nguy cơ trong lan truyền bệnh
giữa các đàn heo tại thành phố Cần Thơ. Tạp
chí khoa học Đại học Cần Thơ 22c: 96-105
9. Nguyễn Như Thanh (2011). Giáo trình phương
pháp nghiên cứu dịch tễ học thú y. NXB Khoa
học tự nhiên và Công nghệ
10. OIE: Animal Health Status and Disease
Control Methods (Part One: Reports). World
Animal Health 1991 1992, VII(2):126.
11. Pitkin A, Deen J, Dee S (2009). Further
assessment of fomites and personnel as
vehicles for the mechanical transport and
transmission of porcine reproductive and
respiratory syndrome virus. Can J Vet
Res 73:298–302.
12. Velasova M, Alarcon P, Williamson S,
Wieland B (2012). Risk Factors for Porcine
Reproductive and Respiratory Syndrome
Virus Infection and Resulting Challenges
for Effective Disease Surveillance. BMC
Veterinary Research 8: 184.
13. Wills RW, Doster AR, Galeota JA, Sur JH, Osorio
FA (2003). Duration of infection and proportion of
pigs persistently infected with porcine reproductive
and respiratory syndrome virus. Journal of
Clinical Microbiology 41: 58-62
Ngày nhận 14-12-2018
Ngày phản biện 6-4-2019
Ngày đăng 1-5-2019
Các file đính kèm theo tài liệu này:
yeu_to_nguy_co_lien_quan_den_huyet_thanh_duong_tinh_virus_pr.pdf