Mô tả: Cây thân cỏ nhiều năm, mọc thành
bụi 2-10 thân giả, cao 50-150 cm. Thân rễ phân
nhánh ngắn, nằm ngang cách mặt đất khoảng 5
cm, mang nhiều đốt, bao quanh bởi các lá vảy
dạng ống rụng sớm, đốt cỡ 1-1,5 × 1,2-1,6 cm,
nâu bên ngoài, vàng nhạt bên trong, có mùi thơm
nhẹ; các rễ bên màu nâu, dài khoảng 25 cm,
mang nhiều rễ tơ, phình ở giữa hay ở đầu thành
các củ hình trứng hay e-líp, cỡ 1,8-2,2 × 1-1,3
cm, nâu bên ngoài, trắng bên trong. Thân giả
mang 3-4 bẹ lá ở gần gốc, 7-15 lá trưởng thành
phía trên; bẹ lá dài 2,5-12 cm, màu đỏ tía đến tía
xanh hay xanh, có sọc mờ, không lông, mép mâu,
khô và rách sớm; lá bẹ phía trên xanh, có lông
măng thưa, mép trắng mờ hay nâu nhạt, nhanh
khô và rách. Lá hầu như không cuống hay cuống
rất ngắn cỡ 2-3 mm; lưỡi dạng màng, dài 2,2-3,4
cm, màu trắng mờ, có lông thưa, xẻ đến ½ lưỡi
lá, mũi tròn hay nhọn thấp, mép nâu nhạt, như
giấy, rách; phiến lá dạng thuôn dài hay hình
trứng ngược-thuôn dài, cỡ 35-62 × 5,5-12 cm,
mặt trên xanh sáng, nhẵn, mặt dưới trắng-xanh
nhạt, có lông trắng mịn; gốc lá hình nêm, đỉnh lá
hình mũi mác. 2-3 cụm hoa mọc từ gốc thân giả;
cuống cụm hoa nằm ngang bên dưới mặt đất, cỡ
3,5-11 × 0,8-1,2 cm, mang 5-7 lá dạng vảy hình
trứng rộng đến thuôn, cỡ 1-3,7 × 1,3-2,5 cm, màu
trắng hay trắng hồng, không lông; cụm hoa
hướng lên, nằm ngang mặt đất hay nhô lên một
phần, hình trứng hoặc hơi thon, dài 5-10 × 2,5-4
cm; lá bắc hình trứng thon, cỡ 35-41 × 5-18 mm,
trắng hay trắng hồng phía dưới, màu đỏ nhạt phía
trên, có lông nâu thưa, nhiều hơn ở phần trên,
mũi nhọn; lá bắc con hình trứng hẹp, cỡ 35-38 ×
5-8 mm, màu trắng hồng hay kem nhạt, có lông
thưa, mũi nhọn. Đài dạng ống, cỡ 21-25 × 5-6
mm, trắng, mỏng, có lông thưa, xẻ xiên một bên
khoảng 8 mm, đầu có 3 thùy thấp, các thùy
không đều nhau. Tràng hình ống, dài 35-38 ×
2,5-3 mm, trắng, có lông mịn ở phần đầu, thưa
dần về phía gốc; cánh tràng hình trứng hẹp, màu
đỏ hay vàng kem, có ít lông ở gốc và mũi, cánh
tràng lưng cỡ 25-27 × 9-10 mm, các cánh tràng
bên cỡ 22-25 × 5-7 mm. Cánh môi hình trứng
ngược thuôn hay rộng, cỡ 22-26 × 15-22 mm,
trắng nữa bên dưới, vàng nữa trên có các đốm
tía, không lông, mép nguyên, uốn xuống, đỉnh
tròn; nhị lép dính với cách môi khoảng 1/3 ở gốc,
hình trứng ngược-thuôn hay hình e-líp, cỡ 15-22
× 5-10 mm, màu trắng nữa dưới, nữa trên vàng
nhạt có các đốm tía, đỉnh tròn, không lông. Chỉ
nhị rất ngắn, cỡ 2,5-3 × 2,2-2,5 mm, trắng, có
lông thưa ở mặt lưng. Bao phấn cỡ 12-15 × 1,5
mm, màu vàng kem, có đốm tía ở mặt lưng,
không lông, mở dọc; hạt phấn màu kem. Trung
đới dài 12-15 mm, đầu cong hướng vào cánh
môi, màu trắng ở gốc, trắng tía nhạt về phía đầu,
không lông. Vòi nhụy dạng sợi, dài 5,8-6,2 cm,
trắng nữa dưới, trắng tía nữa trên, không lông;
nuốm nhụy dạng ống, cỡ 3,5-4 × 1-1,5 mm,
trắng, không lông, cỡ có lông tơ. Bầu hình trụ,
cỡ 5 × 3 mm, có nhiều lông nâu mịn. Núm nhụy
2, dạng mũi kim, dài cỡ 6 mm, màu kem, không
lông; Quả trưởng thành 3 cạnh, hình trứng, cỡ
3,5-5 × 1,3-1,5 cm, đỏ tía, bóng, có ít ông thưa ở
nữa trên, mang 10-15 hạt. Hạt dạng hình cầu, có
cạnh mờ, cỡ 4-5 × 3-4 mm, màu đỏ, bóng, không
lông, được bao hoàn toàn bởi lớp áo hạt; áo hạt
dài 6-7 mm, trắng, phân chia thành 3-4 thùy.
6 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 2 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Zingiber mekongense Gagnep (Zingiberaceae): Ghi nhận vùng phân bố cho hệ thực vật Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
VNU Journal of Science: Natural Sciences and Technology, Vol. 36, No. 2 (2020) 1-6
1
Original Article
Zingiber mekongense Gagnep. (Zingiberaceae): A new
Distribution Record for the Flora of Vietnam
Le Thi Huong1,, Trinh Thi Huong2, Nguyen Thi Thanh Huong3, Ly Ngoc Sam2,4
1School of Natural Science Education, Vinh University, 182 Le Duan, Vinh, Nghe An Province, Vietnam
2Graduate University of Science and Technology, Vietnam Academy of Science and Technology,
18 Hoang Quoc Viet, Hanoi, Vietnam
3Institute of Ecology and Biological Resources, Vietnam Academy of Science and Technology,
18 Hoang Quoc Viet, Hanoi, Vietnam
4Institute of Tropical Biology, Vietnam Vietnam Academy of Science and Technology,
85 Tran Quoc Toan, 3 District, Ho Chi Minh City, Vietnam
Received 19 April 2019
Revised 11 September 2019; Accepted 28 September 2019
Abstract: Zingiber mekongense Gagnep., which found in the Central Vietnam, is here reported as a
new record for the flora of Vietnam. Voucher specimens collected in the Binh Thuan, Nghe An and
Thanh Hoa provinces and deposited in the major herbaria: the herbarium of the Biology (Vinh
University), HN, VNM. A detailed morphological description and a coloured photographs of this
species along with data on distribution, ecology, phenology and notes to its allies are given.
Keywords: Binh Thuan, New record, Nghe An, Thanh Hoa, Zingiber mekongense, Zingiberaceae.
__________
Corresponding author.
Email address: lehuong223@gmail.com
https://doi.org/10.25073/2588-1140/vnunst.4887
L.T. Huong et al. / VNU Journal of Science: Natural Sciences and Technology, Vol. 36, No. 2 (2020) 1-6 2
Zingiber mekongense Gagnep. (Zingiberaceae): ghi nhận vùng
phân bố cho hệ thực vật Việt Nam
Lê Thị Hương1,, Trịnh Thị Hương2, Nguyễn Thị Thanh Hương3, Lý Ngọc Sâm2,4
1Viện Sư phạm Tự nhiên, Trường Đại học Vinh, 182 Lê Duẩn, Vinh, Nghệ An, Việt Nam
2Học viện Khoa học và Công nghệ, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam,
18 Hoàng Quốc Việt, Hà Nội, Việt Nam
3Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam,
18 Hoàng Quốc Việt, Hà Nội, Việt Nam
4Viện Sinh học nhiệt đới, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam,
18 Trần Quốc Toản, Quận 3, Tp Hồ Chí Minh, Việt Nam
Nhận ngày 19 tháng 4 năm 2019
Chỉnh sửa ngày 11 tháng 9 năm 2019; Chấp nhận đăng ngày 28 tháng 9 năm 2019
Tóm tắt: Loài Zingiber mekongense Gagnep. (Zingiberaceae) tìm thấy ở miền Trung Việt Nam,
được ghi nhận là loài bổ sung cho hệ thực vật Việt Nam. Mẫu tiêu bản của loài này thu ở các tỉnh
Bình Thuận, Nghệ An và Thanh Hóa được lưu trữ tại các phòng tiêu bản thực vật (Đại học Vinh),
HN, VNM. Mô tả chi tiết hình thái và hình ảnh minh họa của loài này cùng với dẫn liệu về phân bố,
sinh thái, mùa hoa quả, và ghi chú với loài gần giống đã được trình bày.
Từ khóa: Bình Thuận, Gừng mê kông, họ Gừng, Loài bổ sung, Nghệ An, Thanh Hóa.
1. Mở đầu
Trên thế gới, chi Gừng (Zingiber Mill.) có
khoảng 100-150 loài phân bố chủ yếu ở vùng
nhiệt đới châu Á [1]. Ở Việt Nam, Phạm Hoàng
Hộ đã thống kê được 10 loài thuộc chi Gừng
(Zingiber) [2]. Sau đó, Nguyễn Quốc Bình
(2011) đã ghi nhận 15 loài thuộc chi này ở Việt
Nam [3]. Leong-Skornickova và cộng sự đã công
bố 9 loài mới cho khoa học phân bố ở Việt Nam
[4]. Gần đây, một số loài gừng mới cho khoa học
được công bố từ Việt Nam như loài Z.
skornickovae [5] ở Quảng Ngãi và Z. Zingiber
vuquanense ở Bắc Trung Bộ [6] và 3 loài gừng
được ghi nhận bổ sung cho hệ thực vật Viện Nam
là Zingiber ottensii Valeton và Z. nudicarpum D.
Fang và Z. nitens M.F. Newman [7-9] nâng tổng
__________
Tác giả liên hệ.
Địa chỉ email: lehuong223@gmail.com
https://doi.org/10.25073/2588-1140/vnunst.4887
số loài của chi Gừng lên 33 loài. Trong quá trình
nghiên cứu, các tác giả đã gặp loài Zingiber
mekongense Gagnep. phân bố ở một số tỉnh miền
Trung Việt Nam như Bình Thuận, Nghệ An và
Thanh Hóa). Loài này trước đây mới chỉ được
ghi nhận có phân bố ở Lào [10], Campuchia
[11,12], và Thái Lan [13]. Do đó, nghiên cứu này
ghi nhận là loài bổ sung cho chi Zingiber
(Zingiberaceae) và cho hệ thực vật Việt Nam
nâng số loài chi Gừng (Zingiber) lên 34 loài [3-
10,13,14].
2. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
2.1. Vật liệu
Vật liệu nghiên cứu là các mẫu vật của các
loài trong chi Zingiber ở Việt Nam, bao gồm các
L.T. Huong et al. / VNU Journal of Science: Natural Sciences and Technology, Vol. 36, No. 2 (2020) 1-6
3
mẫu khô được lưu giữ ở các phòng mẫu thực vật
ở: Trung tâm thực hành thí nghiệm (Trường Đại
học Vinh), Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật
(HN); Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Pari (P), Vườn
Thực vật Hoàng Gia Edinburgh (E), Viện Sinh
học nhiệt đới (VNM). Các mẫu vật thu được
trong quá trình điều tra thực địa. Các mẫu hoa,
quả được giải phẫu chụp hình ngoài thực địa sau
đó ngâm bằng cồn 70oC.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp hình thái so sánh để
nghiên cứu và phân loại (chủ yếu dựa vào cơ
quan sinh sản). Đây là phương pháp truyền thống
được sử dụng trong nghiên cứu phân loại thực
vật từ trước đến nay.
3. Kết quả và thảo luận
Zingiber mekongense Gagnep., in Bull. Soc.
Bot. France 54: 168 (1907); Gagnepain, in
Lecomte, Fl. Indo-Chine 6: 79 (1908); Triboun
et al. in Thai J. Bot. 6: 57 (2014). Aung &
Tanaka in Bull. Natl. Mus. Nat. Sci., Ser. B,
45(1): 4 (2019).
Mô tả: Cây thân cỏ nhiều năm, mọc thành
bụi 2-10 thân giả, cao 50-150 cm. Thân rễ phân
nhánh ngắn, nằm ngang cách mặt đất khoảng 5
cm, mang nhiều đốt, bao quanh bởi các lá vảy
dạng ống rụng sớm, đốt cỡ 1-1,5 × 1,2-1,6 cm,
nâu bên ngoài, vàng nhạt bên trong, có mùi thơm
nhẹ; các rễ bên màu nâu, dài khoảng 25 cm,
mang nhiều rễ tơ, phình ở giữa hay ở đầu thành
các củ hình trứng hay e-líp, cỡ 1,8-2,2 × 1-1,3
cm, nâu bên ngoài, trắng bên trong. Thân giả
mang 3-4 bẹ lá ở gần gốc, 7-15 lá trưởng thành
phía trên; bẹ lá dài 2,5-12 cm, màu đỏ tía đến tía
xanh hay xanh, có sọc mờ, không lông, mép mâu,
khô và rách sớm; lá bẹ phía trên xanh, có lông
măng thưa, mép trắng mờ hay nâu nhạt, nhanh
khô và rách. Lá hầu như không cuống hay cuống
rất ngắn cỡ 2-3 mm; lưỡi dạng màng, dài 2,2-3,4
cm, màu trắng mờ, có lông thưa, xẻ đến ½ lưỡi
lá, mũi tròn hay nhọn thấp, mép nâu nhạt, như
giấy, rách; phiến lá dạng thuôn dài hay hình
trứng ngược-thuôn dài, cỡ 35-62 × 5,5-12 cm,
mặt trên xanh sáng, nhẵn, mặt dưới trắng-xanh
nhạt, có lông trắng mịn; gốc lá hình nêm, đỉnh lá
hình mũi mác. 2-3 cụm hoa mọc từ gốc thân giả;
cuống cụm hoa nằm ngang bên dưới mặt đất, cỡ
3,5-11 × 0,8-1,2 cm, mang 5-7 lá dạng vảy hình
trứng rộng đến thuôn, cỡ 1-3,7 × 1,3-2,5 cm, màu
trắng hay trắng hồng, không lông; cụm hoa
hướng lên, nằm ngang mặt đất hay nhô lên một
phần, hình trứng hoặc hơi thon, dài 5-10 × 2,5-4
cm; lá bắc hình trứng thon, cỡ 35-41 × 5-18 mm,
trắng hay trắng hồng phía dưới, màu đỏ nhạt phía
trên, có lông nâu thưa, nhiều hơn ở phần trên,
mũi nhọn; lá bắc con hình trứng hẹp, cỡ 35-38 ×
5-8 mm, màu trắng hồng hay kem nhạt, có lông
thưa, mũi nhọn. Đài dạng ống, cỡ 21-25 × 5-6
mm, trắng, mỏng, có lông thưa, xẻ xiên một bên
khoảng 8 mm, đầu có 3 thùy thấp, các thùy
không đều nhau. Tràng hình ống, dài 35-38 ×
2,5-3 mm, trắng, có lông mịn ở phần đầu, thưa
dần về phía gốc; cánh tràng hình trứng hẹp, màu
đỏ hay vàng kem, có ít lông ở gốc và mũi, cánh
tràng lưng cỡ 25-27 × 9-10 mm, các cánh tràng
bên cỡ 22-25 × 5-7 mm. Cánh môi hình trứng
ngược thuôn hay rộng, cỡ 22-26 × 15-22 mm,
trắng nữa bên dưới, vàng nữa trên có các đốm
tía, không lông, mép nguyên, uốn xuống, đỉnh
tròn; nhị lép dính với cách môi khoảng 1/3 ở gốc,
hình trứng ngược-thuôn hay hình e-líp, cỡ 15-22
× 5-10 mm, màu trắng nữa dưới, nữa trên vàng
nhạt có các đốm tía, đỉnh tròn, không lông. Chỉ
nhị rất ngắn, cỡ 2,5-3 × 2,2-2,5 mm, trắng, có
lông thưa ở mặt lưng. Bao phấn cỡ 12-15 × 1,5
mm, màu vàng kem, có đốm tía ở mặt lưng,
không lông, mở dọc; hạt phấn màu kem. Trung
đới dài 12-15 mm, đầu cong hướng vào cánh
môi, màu trắng ở gốc, trắng tía nhạt về phía đầu,
không lông. Vòi nhụy dạng sợi, dài 5,8-6,2 cm,
trắng nữa dưới, trắng tía nữa trên, không lông;
nuốm nhụy dạng ống, cỡ 3,5-4 × 1-1,5 mm,
trắng, không lông, cỡ có lông tơ. Bầu hình trụ,
cỡ 5 × 3 mm, có nhiều lông nâu mịn. Núm nhụy
2, dạng mũi kim, dài cỡ 6 mm, màu kem, không
lông; Quả trưởng thành 3 cạnh, hình trứng, cỡ
3,5-5 × 1,3-1,5 cm, đỏ tía, bóng, có ít ông thưa ở
nữa trên, mang 10-15 hạt. Hạt dạng hình cầu, có
cạnh mờ, cỡ 4-5 × 3-4 mm, màu đỏ, bóng, không
lông, được bao hoàn toàn bởi lớp áo hạt; áo hạt
dài 6-7 mm, trắng, phân chia thành 3-4 thùy.
L.T. Huong et al. / VNU Journal of Science: Natural Sciences and Technology, Vol. 36, No. 2 (2020) 1-6 4
Sinh học và Sinh thái: Sống ở rừng thứ sinh
thường xanh hay bán rụng lá trên núi thấp, nơi
ẩm ở các hốc núi đá vôi và núi đất, ở độ cao 10-
600 m. Mùa hoa tháng 4-12; mùa quả tháng 6
đến tháng 2 năm sau.
Phân bố: Việt Nam: Bình Thuận, Thanh
Hóa, Nghệ An. Còn có Campuchia, Lào,
Myanmar và Thái Lan [12,13,15].
Loc. Class.: Laos (De Stung Streng à Kong,
Luang-prabang). Tupys: Thorel 2198 (holo - P!).
Mẫu nghiên cứu: VIỆT NAM, BÌNH
THUẬN: Khu BTTN Tà Cú, 10083’19’’ N,
107090’21’’E, độ cao 326 m, ngày 20/08/2009,
Lý Ngọc Sâm Lý-382; 10083’31’’ N,
107090’22’’E, độ cao 249 m, 28/08/2009 Lý-
387; THANH HÓA: Khu Di tích lịch sử Lam
Kinh 19o92’44”N, 105o40’85”E, độ cao 20 m,
ngày 15 tháng 9 năm 2018, Lê Thị Hương,
LTH158; Suối cá thần Cẩm Lương 20o25’23”N,
105o39’06”E, độ cao 52 m, ngày 30 tháng 4 năm
2016, Lê Thị Hương, LTH 767; Thị trấn Ngọc
Lặc 20o10’26”N, 105o37’11”E, độ cao 32 m, ngày
20 tháng 8 năm 2015, Lê Thị Hương, Trịnh Thị
Hương 782; NGHỆ AN: Trung tâm VQG Pù
Mát, 19o05’73”N, 104o85’99”E, độ cao 35 m,
ngày 30 tháng 12 năm 2017, Lê Thị Hương, LTH
891.
Ghi chú: Zingber mekongense được mô tả
đầu tiên dựa trên mẫu tiêu bản thu ở Lào [16] và
gần đây ghi nhận ở Thái Lan và Miến Điện
[12,13,15]. Zingber mekongense có đặc điểm
hình thái rất giống với loài Z. flavomaculosum
S.Q. Tong nhưng khác với loài sau bởi nhiều lá
bắc của cụm chồng nhau, mũi lá bắc nhọn, cong
vào trong và có lông nâu [15,17].
Đặc điểm hình thái từ các mẫu thu của loài ở
Việt Nam này trùng khớp với bảng mô tả gốc của
Gagnepain (1907). Tuy nhiên, màu sắc lá bắc
cụm hoa của loài này ở Việt Nam biến đổi từ màu
đỏ, trắng hồng đến xanh nhạt
4. Kết luận
Đã ghi nhận loài Gừng mê kông (Zingiber
mekongense Gagnep.) cho hệ thực vật Việt Nam.
Mẫu tiêu bản của loài này thu ở các tỉnh Bình
Thuận, Nghệ An và Thanh Hóa được lưu trữ tại
các phòng tiêu bản Sinh học (Đại học Vinh), HN,
VNM. Mô tả chi tiết hình thái và hình ảnh minh
họa của loài này cùng với dẫn liệu về phân bố,
sinh thái, mùa hoa quả và ghi chú với loài gần
giống đã được trình bày.
Lời cảm ơn
Nghiên cứu này được tài trợ bởi Quỹ Phát
triển khoa học và công nghệ Quốc gia
(NAFOSTED) trong đề tài mã số: 106.03.2017.
328.
Tài liệu tham khảo
[1] R. Govaerts, M. Newman, J.M. Lock, World
Checklist of Zingiberaceae, Facilitated by the
Royal Botanic Gardens, Kew, Published on the
Internet. do;
jsessionid=4C1F6FD7CD3E7B3BDF4A0ED242
BDF090 (accessed: 30 July 2017).
[2] P.H. Ho, An illustrated Flora of Vietnam, Vol. 3,
Youth Publication, Ho Chi Minh City, 2000, pp
432-461 (in Vietnamese).
[3] N.Q. Binh, Classification Research in the
Zingiberaceae in Vietnam, Biology PhD., Ha Noi,
2011 (in Vietnamese).
[4] J. Leong-Škorničková, N.Q. Binh, T.H. Dang,
O. Šída, R. Rybková, T.B. Vuong, Nine new
Zingiber species (Zingiberaceae) from Vietnam,
Phytotaxa 219 (2015) 201-220. https://dx.doi.org/
10.11646/ phytotaxa.219.3.1
[5] L.N. Sam, Zingiber skornickovae, a new species of
Zingiberaceae from Central Vietnam, Phytotaxa
265 (2016) 139-144.
phytotaxa.219.3.1
[6] L.T. Huong, T.T. Huong, D.N. Dai, N.V. Hung, L. N.
Sam, Zingiber vuquangense (Sect. Cryptanthium:
Zingiberaceae), a new species from North Central
coast region in Vietnam, Phytotaxa 338 (2019)
295-300. https://dx.doi.org/10.11646/phytotaxa.
388.4.5
[7] L.N. Sam, T.B. Vuong, L.T. Huong, Zingiber
ottensii Valeton (Zingiberaceae) a newly recorded
species for Vietnam, Bioscience Discovery 7
(2016) 93-96.
[8] L.N. Sam, D.V. Son, D.D. Giap, T.T. Tuan, D.N.
Dai, N.D. Hung, Zingiber nudicarpum D. Fang
(Zingiberaceae) a new record for Vietnam,
Bioscience Discovery 8 (2017) 01–05.
L.T. Huong et al. / VNU Journal of Science: Natural Sciences and Technology, Vol. 36, No. 2 (2020) 1-6
5
[9] N.V. Hung, L.T. Huong, D.N. Dai, L.N. Sam, N.
T. Thanh, A New record Zingiber nitens M.F.
Newman (Zingiberaceae) for flora in Vietnam,
Journal of Science, Natural Sciences and Technology
33 (2017) 46-50 (in Vietnamese).
[10] K. Souvannakhoummane,J. Leong-Škorničková, Eight
new records of Zingiber Mill. (Zingiberaceae) for
flora of Lao P.D.R, Edinburgh Journal of Botany
75 (2017) 3-18. https://doi.org/ 10.1017/S0960428
617000312.
[11] F. Gagnepain, Zingibéracées. In: H. Lecomte
(Ed.) Flore générale de l’Indo-Chine, vol. 6.
Masson & Co., Paris, pp. 25-121, 1908.
[12] Zingiberaceae resource centre, https://padme.rbge.
org.uk/ZRC/data/specimens, 2019 (accessed 16
April 2019).
[13] P. Triboun, K. Larsen, P. Chantaranothai, A key to
the genus Zingiber (Zingiberaceae) in Thailand
with description of 10 new taxa, Thai Journal of
Botany 6 (2014) 53-77.
[14] N. Q. Binh, Flora of Vietnam, Zingiberaceae
Lindl., Vol 21, Publishing House for Science and
technology, Ha Noi, 2017 (in Vietnamese).
[15] S.Q. Tong, New plants of Zingiber from Yunnan,
Acta Phytotaxonomica Sinica 25 (1987) 140-149.
[16] F. Gagnepain, Zingiberacées nouvelles de l’herbier
du museum, Bulletin de la Société Botanique de
France 54 (1907) 161–170.
[17] M.M. Aung, N. Tanaka, Seven Taxa of Zingiber
(Zingiberaceae) Newly Recorded for the Flora of
Myanmar, Bulletin of the National Museum of
Nature and Science, Series B (Botany), Tokyo, 51
(2019) 1-8.
L.T. Huong et al. / VNU Journal of Science: Natural Sciences and Technology, Vol. 36, No. 2 (2020) 1-6
6
Ảnh 1. 1. Dạng cây; 2-3. Cụm hoa ngoài tự nhiên; 4. Lá; 5. Lưỡi lá; 6-7. Cụm hoa; 8. Hoa; 9. Hoa và các bô
phận của hoa giải phẫu; 10. Bầu noãn, ống tràng, bộ nhị, vòi và nuốm nhụy; 11. Phần gốc mang các cụm quả; 12.
Quả và quả bổ dọc; 13. Quả bộ dọc; 14. Hạt và áo hạt. (Ảnh: 1-2, 7, 8-10, 12-14, Lê Thị Hương chụp ở Khu di
tích Lam Kinh; Thanh Hóa; 3, 11, Lý Ngọc Sâm chụp ở Khu BTTN Tà Cú, Bình Thuận; 4-6, Trịnh Thị Hương,
chụp ở Suối cá thần Cẩm Thủy, Thanh Hóa).
1
8
2
2
3
4
5
10
6
11 12
7
13 14
8
9
Các file đính kèm theo tài liệu này:
zingiber_mekongense_gagnep_zingiberaceae_ghi_nhan_vung_phan.pdf