Khu dự trữ sinh quyển có sự chênh lệch về
độ mặn giữa các hệ sinh thái là khá lớn: Rừng
dừa nước - thảm cỏ biển thuộc khu vực hạ lưu
sông Thu Bồn có độ mặn 1,2‰ (mùa mưa) và
6,8‰ (mùa khô), vùng chuyển tiếp có độ mặn
26,2‰ (mùa mưa) và 31,1‰ (mùa khô), rạn
san hô có độ mặn 31,6‰ (mùa mưa) và 31,7‰
(mùa khô) [26]. Sự chênh lệch về độ mặn ở các
hệ sinh thái là một trong những nguyên nhân
dẫn đến cấu trúc thành phần loài động vật ở các
hệ sinh thái là khác nhau: Hệ sinh thái rừng dừa
nước - thảm cỏ biển với các loài giáp xác râu
ngành, chân mái chèo nước ngọt và nước lợ;
vùng chuyển tiếp và rạn san hô với các loài
chân mái chèo phân bố ven bờ, hàm tơ và động
vật có bao. Bên cạnh đó, sự chênh lệch về độ
mặn giữa mùa mưa và mùa khô cũng có thể là
nguyên nhân dẫn đến sự khác nhau về thành
loài động vật phù du giữa 2 mùa. Kết quả báo
cáo “Điều tra và đề xuất giải pháp quản lý, sử
dụng bền đối với tài nguyên đa dạng sinh học ở
khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm - Hội An”
cho thấy vào kỳ mùa mưa, phạm vi nước ngọt
có thể ra đến trạm 16 (thuộc khu vực rạn san hô
Cù Lao Chàm) [26]. Tuy nhiên, kết quả phân
tích cho thấy không có sự xuất hiện các loài
động vật phù du nước ngọt và nước lợ như
Brachionus angularis, B. quadridentatus,
Diaphanosoma sarsi, ở khu vực chuyển tiếp
và rạn san hô; duy nhất chỉ có 1 loài giáp xác
râu ngành rộng muối (Bosmina longirostris)
được phát hiện tại trạm 13 (khu vực chuyển
tiếp) vào kỳ mùa mưa. Điều này có thể cho
thấy sự ảnh hưởng của lượng nước ngọt đến
vùng chuyển tiếp và khu bảo tồn biển Cù Lao
Chàm vào mùa mưa đối với quần xã động vật
phù du là không lớn.
Mật độ động vật phù du khu dự trữ sinh
quyển Cù Lao Chàm - Hội An vào mùa khô cao
hơn so với mùa mưa, đặc biệt ở hệ sinh thái rừng
dừa nước - thảm cỏ biển và sự khác nhau có ý
nghĩa về mặt thống kê (t-test, P < 0,05). Trong
hệ sinh thái rừng dừa nước - thảm cỏ biển, mật
độ động vật phù du chiếm ưu thế bởi các chân
mái chèo nước ngọt (Microcyclops varicans),
giáp xác râu ngành (Cladocera) như Bosmina
longirostris, Ceriodaphnia rigaudi. Trong khi
đó, hệ sinh thái rạn san hô lại chiếm ưu thế bởi
các loài chân mái chèo kích thước nhỏ thuộc
giống Oncaea, Oithona, Dioithona và các loài
động vật có bao (Tunicata). Cũng trong hệ sinh
thái này, động vật phù du vùng trên rạn có mật
độ cá thể cao hơn so với vùng ngoài rạn, kết quả
này cũng tương tự như kết quả nghiên cứu sinh
vật phù du vùng rạn san hô Việt Nam [11].
Các chỉ số đa dạng sinh học (chỉ số giàu có
loài, chỉ số đa dạng) có xu hướng thấp ở hệ
sinh thái rừng dừa nước - thảm cỏ biển và tăng
dần tới vùng chuyển tiếp và hệ sinh thái rạn san
hô. Hệ sinh thái rạn san hô có chỉ số cân bằng
Pielou (J’) tương đối ổn định ở cả mùa mưa và
mùa khô. Trong khi đó, rừng dừa nước và thảm
cỏ biển lại có sự chênh lệch khá lớn của chỉ số
này giữa mùa mưa và mùa khô. Hệ sinh thái
rừng dừa nước - thảm cỏ biển cũng là nơi có
quần xã động vật phù du có tính ổn định kém
với mật độ của các 5 loài chiếm ưu thế chiếm
đến trên 80% tổng mật độ. Hệ sinh thái rạn san
hô có các chỉ số đa dạng của vùng trên rạn cao
hơn so với vùng ngoài rạn ở cả 2 mùa mưa và
mùa khô.
13 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 1 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Zooplankton biodiversity in the biosphere reserve of Cu Lao Cham - Hoi An, 2015–2016, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
273
Vietnam Journal of Marine Science and Technology; Vol. 19, No. 4A; 2019: 273–285
DOI: https://doi.org/10.15625/1859-3097/19/4A/14609
https://www.vjs.ac.vn/index.php/jmst
Zooplankton biodiversity in the biosphere reserve of
Cu Lao Cham - Hoi An, 2015–2016
Trinh Si-Hai Truong
*
, Vinh Tam Nguyen
Institute of Oceanography, VAST, Vietnam
*
E-mail: haitrinh-ion@planktonviet.org.vn
Received: 30 July 2019; Accepted: 6 October 2019
©2019 Vietnam Academy of Science and Technology (VAST)
Abstract
Zooplankton samples in the biosphere reserve of Cu Lao Cham - Hoi An were collected at 20 stations
belonging to 3 ecosystems: Mangrove palm - seagrass, transition area and coral reef in rainy season
(11/2015) and dry season (6/2016) to determine biodiversity of the biosphere reserve of Cu Lao Cham - Hoi
An. 161 species belonging to 16 zooplankton groups were recognized, copepoda was a dominant group with
92 species, followed by cladocera (15 species) and tunicata (13 species). Mangrove palm - sea grass had a
different zooplankton structure compared with transition area and coral reef with a lower number of species
and similarity index about 40%. The average density of zooplankton in study areas in dry season (24,559 ±
24,700 inds.m
-3
) were 4 times higher than in rainy season (6,124 ± 6.554 inds.m
-3
) and dominated by
copepoda. The euryhaline cladocera (Bosmina longirostris), freshwater cladocera (Ceriodaphnia rigaudi)
and freshwater copepoda (Microcyclops varicans) were dominant in mangrove palm - seagrass ecosystem.
Meanwhile, in coral reef ecosystem, the small copepods (genus Oncaea, Oithona) and Tunicata were
dominant. Biodiversity indices were low in mangrove - palm and increase from transition area to coral reef
ecosystem.
Keywords: Biodiversity, zooplankton, Cu Lao Cham, copepod.
Citation: Trinh Si-Hai Truong, Vinh Tam Nguyen, 2019. Zooplankton biodiversity in the biosphere reserve of Cu Lao
Cham - Hoi An, 2015–2016. Vietnam Journal of Marine Science and Technology, 19(4A), 273–285.
274
Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển, Tập 19, Số 4A; 2019: 273–285
DOI: https://doi.org/10.15625/1859-3097/19/4A/14609
https://www.vjs.ac.vn/index.php/jmst
Đa dạng sinh học động vật phù du ở khu dự trữ sinh quyển
Cù Lao Chàm - Hội An, 2015–2016
Trƣơng Sĩ Hải Trình*, Nguyễn Tâm Vinh
Viện Hải dương học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Việt Nam
*
E-mail: haitrinh-ion@planktonviet.org.vn
Nhận bài: 30-7-2019; Chấp nhận đăng: 6-10-2019
Tóm tắt
Mẫu động vật phù du được thu thập tại 20 trạm thuộc 3 hệ sinh thái rừng dừa nước - thảm cỏ biển, vùng
chuyển tiếp và rạn sạn hô vào mùa mưa (11/2015) và mùa khô (6/2016) nhằm đánh giá đa dạng sinh học cho
khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm - Hội An. Kết quả nghiên cứu đã ghi nhận được 161 loài thuộc 16
nhóm động vật phù du, nhóm chân mái chèo chiếm ưu thế về số lượng loài (92), tiếp đến là nhóm giáp xác
râu ngành (15 loài) và nhóm động vật có bao (13 loài). Hệ sinh thái rừng dừa nước - thảm cỏ biển có thành
phần loài động vật phù du khác biệt và số loài thấp hơn so với vùng chuyển tiếp và rạn san hô với chỉ số
giống nhau khoảng 40%. Mật độ động vật phù du trung bình trong khu dự trữ sinh quyển vào mùa khô
(24.559 ± 24.700 cá thể/m3) cao gấp 4 lần so với mùa mưa (6.124 ± 6.554 cá thể/m3) và chiếm ưu thế bởi
nhóm chân mái chèo. Các loài râu ngành rộng muối Bosmina longirostris, loài nước ngọt Ceriodaphnia
rigaudi, và loài chân mái chèo nước ngọt Microcyclops varicans chiếm ưu thế ở hệ sinh thái rừng dừa nước -
thảm cỏ biển. Trong khi đó ở hệ sinh thái rạn san hô các loài chân mái chèo có kích thước nhỏ thuộc giống
Oncaea, Oithona và các loài thuộc nhóm động vật có bao (Tunicata) lại chiếm ưu thế. Các chỉ số đa dạng
sinh học có xu hướng thấp ở hệ sinh thái rừng dừa nước - thảm cỏ biển và tăng dần tới vùng chuyển tiếp và
hệ sinh thái rạn san hô.
Từ khóa: Đa dạng sinh học, động vật phù du, Cù Lao Chàm, chân mái chèo.
MỞ ĐẦU
Động vật phù du (ĐVPD) là những động
vật sống trôi nổi và có khả năng bơi kém, có
kích thước hiển vi, đơn bào hoặc dạng đa bào
với kích thước từ vài micron đến và centimet.
Chúng chủ yếu là các loài sinh vật dị dưỡng
bao gồm nhóm động vật phù du ăn thực vật
(herbivorous), ăn động vật (carnivorous), ăn
tạp (omnivorous) và ăn mùn bã (ditritivorous)
[1]. Động vật phù du đóng vai trò quan trọng
trong đa dạng sinh học động vật của hệ sinh
thái biển, chúng bao gồm hầu hết các đại diện
của các nhóm động vật ở các bậc phân loại
(taxon) thuộc giới động vật và xuất hiện hầu
như ở tất cả các loại môi trường sống ở nước
[2]. Với sự phong phú và đa dạng của động
vật phù du trong cột nước, chúng đóng vai trò
quan trọng trong sự vận chuyển năng lượng từ
các sinh vật sản xuất đến các bậc dinh dưỡng
cao hơn trong hệ sinh thái biển [3]. Chúng sử
dụng nhóm thực vật phù du là nguồn thức ăn
để hấp thu năng lượng và chuyển lên các bậc
dinh dưỡng cao hơn. Do đó, sự xuất hiện và
mật độ của ĐVPD có ảnh hưởng đến nguồn
lợi nghề cá ở các thủy vực, đặc biệt là nơi mà
các loài cá thường chọn để sinh sản - nơi mà
Đa dạng sinh học động vật phù du
275
con non của chúng có đầy đủ nguồn thức ăn
để tồn tại và phát triển [2, 3]. Ngoài ra, một số
loài ĐVPD còn là một trong số các nhân tố chỉ
thị sinh học nhằm đánh giá sự ô nhiễm của
môi trường nước [4, 5]. Chính vì tầm quan
trọng của nhóm sinh vật này mà nghiên cứu về
động vật phù du trong thủy vực sẽ giúp hiểu
thêm về biến động thành phần và cấu trúc
quần xã trong các hệ sinh thái chứa chúng.
Năm 2009, Cù Lao Chàm - Hội An được
công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới với
diện tích khoảng 33.370 ha gồm 3 phân vùng
lõi (11.560 ha bao gồm toàn bộ khu bảo tồn
biển Cù Lao Chàm). Vùng đệm (20.660 ha) và
vùng chuyển tiếp (1.517 ha). Khu dự trữ sinh
quyển Cù Lao Chàm - Hội An có khoảng 60 ha
rừng ngập mặn chủ yếu là rừng dừa nước [6] và
30 ha thảm cỏ biển ở lưu vực sông Thu Bồn
[7]. Vùng lõi khu dự trữ sinh quyển đã ghi nhận
có hơn 311 ha rạn san hô, với khoảng 300 loài,
san hô mềm chiếm ưu thế, độ phủ trung bình
rạn san hô 41% [8], 76 loài rong biển [9], hơn
270 loài cá [8], 33 loài thân mềm và 38 loài
động vật da gai trong rạn san hô [10]. Quần xã
động vật phù du trong khu bảo tồn biển Cù Lao
Chàm với 71 loài [11] được ghi nhận trong năm
2006 và là một trong số rất ít các ghi nhận về
nhóm sinh vật này. Kết quả của nghiên cứu này
sẽ góp phần cung cấp thêm các số liệu về đa
dạng sinh học nói chung và nhóm động vật phù
du nói riêng cho khu dự trữ sinh quyển Cù Lao
Chàm - Hội An.
TÀI LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
Địa điểm và thời gian thu mẫu
Mẫu động vật phù du được thu tại 20 trạm
thuộc lưu vực sông Thu Bồn đến vùng biển Cù
Lao Chàm, tỉnh Quảng Nam vào tháng 11/2015
(mùa mưa) và tháng 6/2016 (mùa khô) (hình 1).
Hình 1. Sơ đồ vị trí trạm thu mẫu động vật phù du khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm
Trạm thu mẫu được chia theo các hệ sinh
thái riêng biệt cho lưu vực sông Thu Bồn bao
gồm 2 hệ sinh thái trong và ngoài rừng dừa
nước - thảm cỏ biển, vùng chuyển tiếp và hệ
sinh thái rạn san hô thuộc khu bảo tồn biển Cù
Lao Chàm bao gồm hệ sinh thái trong và ngoài
các rạn (bảng 1).
Trương Sĩ Hải Trình, Nguyễn Tâm Vinh
276
Bảng 1. Hệ thống trạm thu mẫu tại khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm - Hội An
theo lưu vực và theo hệ sinh thái
Trạm Hệ sinh thái Khu vực Trạm Hệ sinh thái Khu vực
2 Ngoài NRD - TCB Sông Thu Bồn 14 Chuyển tiếp Chuyển tiếp
3 Ngoài NRD - TCB Sông Thu Bồn 15 Chuyển tiếp Chuyển tiếp
4 Ngoài NRD - TCB Sông Thu Bồn 16 RSH Cù Lao Chàm
9 Ngoài NRD - TCB Sông Thu Bồn 19 RSH Cù Lao Chàm
5 RDN - TCB Sông Thu Bồn 20 RSH Cù Lao Chàm
6 RDN - TCB Sông Thu Bồn 22 RSH Cù Lao Chàm
7 RDN - TCB Sông Thu Bồn 15 Ngoài RSH Cù Lao Chàm
11 RDN - TCB Sông Thu Bồn 25 Ngoài RSH Cù Lao Chàm
12 RDN - TCB Sông Thu Bồn 26 Ngoài RSH Cù Lao Chàm
13 Chuyển tiếp Chuyển tiếp 27 Ngoài RSH Cù Lao Chàm
Ghi chú: Ngoài RDN-TCB: Ngoài rừng dừa nước - Thảm cỏ biển, RDN-TCB: Rừng dừa nước -
Thảm cỏ biển, RSH: Rạn san hô, Ngoài RSH: Ngoài rạn san hô.
Phƣơng pháp thu mẫu
Mẫu định tính và định lượng động vật phù
du được thu bằng lưới Juday, có đường kính
miệng lưới 37 cm, đường kính mắt lưới 200
µm, dài 150 cm, may bằng vải lưới nylon. Tại
mỗi trạm, mẫu được thu bằng cách kéo từ cách
đáy 1 m lên tầng mặt với tốc độ 5 m/s. Mẫu
sau khi thu được chứa trong các lọ đựng mẫu
có dung tích 0,5 l và được cố định bằng dung
dịch formol 5%, để trong mát và đưa về phòng
thí nghiệm.
Phƣơng pháp phân tích
Trước khi tiến hành phân tích, mẫu động
vật phù du được rửa sạch bằng nước ngọt, loại
bỏ rác bẩn và một số nhóm động vật lớn như
sứa, cá con.
Mẫu định lượng được lọc qua các bộ rây có
đường kính lỗ 500 µm, phần mẫu nằm trên rây
được đếm toàn bộ. Phần mẫu lọt qua rây được
pha loãng trong 50 ml nước cất, sau đó lấy 1
mẫu phụ 1 ml để phân tích định lượng. Tiến
hành đếm số lượng cá thể của cả hai loại rây
dưới kính hiển vi soi nổi MBC-1. Sinh vật
lượng động vật phù du được biểu thị bằng số
lượng cá thể trên một đơn vị thể tích (cá
thể/m3) [2].
Mẫu định lượng ĐVPD được tính bằng
tổng số lượng loài đếm được trong toàn bộ quá
trình đếm mẫu:
Tổng mật độ (cá thể/m3) = (A × B) + (C × 50)/V
Trong đó: A là số lượng cá thể trên buồng đếm;
B là số lần chia mẫu phụ của lưới trên rây có
đường kính mắt lưới 500 µm; C là số lượng các
thể trong 1 ml mẫu phụ; V là thể tích nước lọc
qua lưới.
Mẫu định tính được định loại đến loài dựa
trên phương pháp so sánh hình thái. Loài động
vật phù du được xác định trên các tài liệu của
Chen và Zhang [12], Owre và Foyo [13], Chen
và Zhang [14], Chen [15], Nishida [16],
Nguyễn Văn Khôi [17], Boltovskoy [18],
Mulyadi [19].
Toàn bộ quá trình đếm và phân tích mẫu
động vật phù du sử dụng buồng đếm và kính
hiển vi soi nổi MBC-1.
Phƣơng pháp phân tích các chỉ số đa dạng
sinh học
Các chỉ số đa dạng sinh học được phân tích
bằng phần mềm PRIMER với các chỉ số:
Chỉ số giàu có loài (Margalef):
1
ln
s
d
n
[20]
Chỉ số đa dạng Shannon:
' . log
i
H Pi Pi [21]
Chỉ số cân bằng Pielou:
'
'
'max
H
J
H
[22]
Chỉ số giống nhau (similarity index) theo
công thức của Bray và Curtis:
Đa dạng sinh học động vật phù du
277
2
1
ij
ij
i j
C
BC
S S
[23]
Trong đó: S: Tổng số loài trong 1 mẫu; n =∑xi:
tổng số các cá thể trong 1 mẫu; ni: Số cá thể
của loài i trong 1 mẫu; Pi= ni/n: Tần suất của
loài i trong 1 mẫu = xác suất bắt gặp loài i
trong một mẫu. Cij là tổng các loài giống nhau
giữa 2 mẫu i và j; Si và Sj: Số lượng loài của
mỗi mẫu.
Phƣơng pháp xử lý số liệu
Sử dụng phép thử t-test (2 đuôi) để kiểm
định sự khác nhau có ý nghĩa về thành phần loài
và mật độ của động vật phù du trong khu vực
nghiên cứu bằng phần mềm Microsoft Office
Excel. Biểu đồ và các phép tính thống kê mô
được vẽ bằng phần mềm GraphPad Prism.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Thành phần loài và phân bố
Đã ghi nhận được 161 loài thuộc 16 nhóm
động vật phù du trong khu dự trữ sinh quyển
Cù Lao Chàm - Hội An. Trong đó, nhóm chân
mái chèo (copepoda) chiếm ưu thế về số lượng
loài với 92 loài (56,79%), tiếp đến là nhóm
giáp xác râu ngành (cladocera) với 16 loài
(9,88 %), nhóm động vật có bao (Tunicata) với
13 loài (8,02 %). Khu vực nghiên cứu có có số
lượng loài động vật phù trong mùa mưa cao
hơn so với trong mùa khô. Hệ sinh thái ngoài
rừng dừa nước - thảm cỏ biển có số lượng loài
động vật phù du thấp hơn so với trong rừng dừa
nước - thảm cỏ biển. Quần xã động vật phù du
ở trên rạn san hô (100 loài) và ngoài rạn san hô
(103 loài) không có sự khác biệt về số lượng
loài (bảng 2).
Bảng 2. Số lượng loài động vật phù du trong khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm - Hội An
ở các hệ sinh thái khác nhau trong kỳ mùa mưa và mùa khô
Nhóm động vật
Hệ sinh thái Mùa
Tổng
N
R
D
N
-T
C
B
R
D
N
-T
C
B
C
T
N
R
S
H
R
S
H
M
ư
a
K
h
ô
Hàm tơ (Chaetognatha)
1 3 3 3 3 3 3
Sứa (Hydromedusa)
1 4 4 6 6 4 6
Sứa lược (Ctenophora)
1
1 1 1 1
Sứa chính thức (Scyphozoa)
1 1 1 1 1 1
Sứa ống (Siphonophora)
3 4 4 4 3 4
Bơi nghiêng (Amphipoda) 2
4 1 3 2 3 5
Giáp xác râu ngành (Cladocera) 1 6 4 2 3 12 6 15
Chân mái chèo (Copepoda) 27 31 68 66 65 74 68 92
Giáp xác chân chẻ (Mysidacea)
1
1 1
Giáp xác 10 chân (Sergestidae)
1 1
1 1
Tôm sen (Cumacea)
1
1
1 1
Chân cánh và Chân khác (Heteropoda & Pteropoda)
1 7 8 7 10 6 10
Vỏ xíu (Ostracoda) 1 2 1 1 1 2 1 2
Giun nhiều tơ (Polychaeta)
3 4 3 4 2 5
Luân trùng (Rotatoria) 1
1 1
Có bao (Tunicata) 2 3 12 8 1 11 7 13
Tổng số loài 34 46 112 103 100 130 109 161
Ghi chú: NRDN-TCB: Ngoài rừng dừa nước - Thảm cỏ biển, RDN-TCB: Rừng dừa nước - Thảm
cỏ biển, CT: Chuyển tiếp, NRSH: Ngoài rạn san hô, RSH: Rạn san hô.
Trong hệ sinh thái rừng dừa nước và thảm
cỏ biển, sự khác nhau về số lượng loài động vật
phù du trung bình của khu vực trong và ngoài
rừng dừa nước - thảm cỏ biển ở cả 2 mùa mưa
và mùa khô là không lớn (10 ± 5 và 12 ± 3
trong mùa mưa; 9 ± 3 và 9 ± 4 trong mùa khô).
Quần xã động vật phù du ở khu dự trữ sinh
quyển có số lượng loài trung bình xu hướng
tăng dần từ hệ sinh thái chuyển tiếp đến khu
bảo tồn biển Cù Lao Chàm vào kỳ mùa mưa và
Trương Sĩ Hải Trình, Nguyễn Tâm Vinh
278
ngược lại vào kỳ mùa khô. Hệ sinh thái rạn san
hô có số lượng loài động vật phù du trung bình
cao hơn so với khu vực ngoài rạn san hô ở cả
mùa mưa và mùa khô (hình 2). Sự khác nhau
về số lượng loài động vật phù du ở các hệ sinh
thái giữa mùa mưa và mùa khô là sự khác nhau
có ý nghĩa về mặt thống kê (t-test two tail P =
0,0036).
Hình 2. Biến động số lượng loài động vật phù du trong khu vực nghiên cứu
vào mùa mưa và mưa khô
Hình 3. Chỉ số tương đồng về thành phần loài động vật phù du giữa các trạm
trong khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm - Hội An
Ghi chú: M: Mùa mưa, K: Mùa khô
Đa dạng sinh học động vật phù du
279
Thành phần loài động vật phù du có chỉ số
giống nhau (similarity index) khá thấp (40%)
giữa các trạm ở hệ sinh thái rừng dừa nước và
thảm cỏ biển so với khu vực chuyển tiếp và rạn
san hô. Trong hệ sinh thái rừng dừa nước và
thảm cỏ biển, có sự khác nhau về thành phần
loài động vật phù du giữa mùa khô và mùa mưa
với chỉ số giống nhau vào khoảng 40%. Cũng ở
hệ sinh thái này, trong thời kỳ mùa mưa, thành
phần loài động vật phù du các trạm 2, 3, 4, 5
(sâu trong sông Thu Bồn) khá khác biệt so với
nhóm trạm 6, 7, 12 (gần cửa sông Thu Bồn).
Trong thời kỳ mùa khô, trạm 2, 3 ở đỉnh sông
Thu Bồn có thành phần loài động vật phù du
khác hẳn so với các trạm còn lại. Hệ sinh thái
chuyển tiếp và rạn san hô có thành phần loài
động vật phù du giống nhau vào khoảng 60%
giữa các trạm cả trong mùa khô và mùa mưa
(hình 3).
Mật độ động vật phù du
Hình 4. Biến động mật độ cá thể động vật phù
khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm - Hội An
Khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm - Hội
An có mật độ động vật phù du vào mùa khô
(24.559 ± 24.701 cá thể/m3) cao gấp 4 lần so
với mùa mưa (6.124 ± 6.554 cá thể/m3). Sự
khác nhau về số lượng cá thể động vật phù du
giữa mùa mưa và mùa khô là sự khác nhau có ý
nghĩa về mặt thông kê (t-test, P < 0,05). Trong
thời kỳ mùa mưa, mật độ cá thể động vật phù
du có xu hướng tăng dần từ hệ sinh thái rừng
dừa nước - thảm cỏ biển đến vùng chuyển tiếp
và hệ sinh thái rạn san hô. Trong khi đó, trong
thời kỳ mùa khô, mật độ động vật phù du trung
bình cao nhất ở hệ sinh thái trên rừng dừa nước
- thảm cỏ biển (36.764 ± 28.442 cá thể/m3) và
giảm dần ở các vùng chuyển tiếp và hệ sinh
thái rạn san hô (hình 4).
Mật độ cá thể nhóm chân mái chèo thể hiện
xu hướng chung của cả quần xã động vật phù
du trong khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm -
Hội An. Vào mùa mưa, mật độ thấp trong hệ
sinh thái rừng dừa nước và thảm cỏ biển và cao
ở vùng chuyển tiếp và hệ sinh thái rạn san hô.
Trong hệ sinh thái rạn san hô, sự khác nhau của
số lượng cá thể trung bình của chân mái chèo là
không lớn giữa hệ sinh thái trên rạn (6.648 ±
2.970 cá thể/m3) và ngoài rạn (5.775 ± 5.008 cá
thể/m3). Trong thời kỳ mùa khô, mật độ trung
bình chân mái chèo trong hệ sinh thái rừng dừa
nước - thảm cỏ biển cao hơn các khu vực còn
lại. Hệ sinh thái ngoài rừng dừa nước - thảm cỏ
biển có sự biến động về mật độ chân mái chèo
lớn nhất (1.067–86.813 cá thể/m3) (hình 5A).
Động vật hàm tơ (Chaetogntha) có mật độ
trung bình trong mùa mưa thấp hơn mùa khô.
Trong thời kỳ mùa mưa, ngoại trừ trạm 7 trong
hệ sinh thái rừng dừa nước - thảm cỏ biển ghi
nhận có 7 cá thể hàm tơ thì các trạm còn lại
trong khu vực này không thấy sự xuất hiện của
nhóm sinh vật này. Mật độ trung bình nhóm
động vật hàm tơ trong mùa mưa cao nhất ở
ngoài rạn san hô (322 ± 233 cá thể/m3), tiếp
đến là trên rạn (292 ± 162 cá thể/m3 và vùng
chuyển tiếp (151 ± 128 cá thể/m3). Trong thời
kỳ mùa khô, mật độ trung bình động vật hàm tơ
khá cao ở trong rừng dừa nước - thảm cỏ biển
so với vùng phía ngoài của hệ sinh thái này.
Ngược với mùa mưa, mùa khô có mật độ động
vật hàm tơ giảm dần từ vùng chuyển tiếp đến
rạn san và vùng ngoài rạn san hô (hình 5B).
Trong thời kỳ mùa mưa, nhóm ấu trùng
giáp xác được ghi nhận có mật độ rất thấp ở
trong (273 ± 170 cá thể/m3) và ngoài (203 ±
361 cá thể/m3) rừng dừa nước - thảm cỏ. Số
lượng cá thể ấu trùng giáp xác có xu hướng
tăng dần từ vùng hạ lưu sông Thu Bồn ra đến
khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm. Hệ sinh thái
rừng dừa nước - thảm cỏ biển có mật độ ấu
Trương Sĩ Hải Trình, Nguyễn Tâm Vinh
280
trùng trung bình vào mùa khô (6.922 ± 4.465 cá
thể/m3) cao gấp 25 lần so với mùa mưa. Cũng
trong thời kỳ này, ấu trùng giáp xác có số
lượng cá thể trung bình cao nhất ở vùng chuyển
tiếp (7.701 ± 6.188 cá thể/m3), tiếp đến là hệ
sinh thái trên (2.487 ± 1.318 cá thể/m3) và
ngoài rạn san hô (991 ± 787 cá thể/m3)
(hình 6A). Nhóm động vật có bao (Tunicata)
trong hệ sinh thái rừng dừa nước - thảm có biển
vào mùa khô cao hơn vào mùa mưa ở cả hai
khu vực trong và ngoài. Tuy nhiên, ở vùng
chuyển tiếp và hệ sinh thái rạn san hô vào kỳ
mùa mưa thì số lượng cá thể trung bình của
nhóm sinh vật này lại cao xu hướng cao hơn
thời kỳ mùa khô (hình 6B).
Hình 5. Biến động mật độ chân mái chèo (A), hàm tơ (B) giữa các hệ sinh thái trong khu dự trữ
sinh quyển Cù Lao Chàm - Hội An vào mùa mưa và mùa khô
Hình 6. Biến động mật độ ấu trùng giáp xác (A), động vật có bao (Tunicata) (B) giữa các hệ sinh
thái trong khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm - Hội An vào mùa mưa và mùa khô
Các chỉ số đa dạng sinh học
Ở hạ lưu sông Thu Bồn, vùng ngoài hệ
sinh thái rừng dừa nước - thảm cỏ biển có chỉ
số giàu có loài Margalef (d) cao hơn so với
vùng trong rừng dừa nước - thảm cỏ biển ở cả
2 thời kỳ mùa mưa và mùa khô. Vùng chuyển
tiếp và khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm có chỉ
số giàu có loài cao hơn trong thời kỳ mùa
mưa so với mùa khô. Hệ sinh thái rạn san hô
có chỉ số Margalef cao hơn so với vùng ngoài
Đa dạng sinh học động vật phù du
281
rạn san hô (hình 7A). Kết quả phân tích chỉ
số đa dạng sinh học (H’) cho thấy hệ sinh thái
rừng dừa nước - thảm có biển có chỉ số thấp
hơn so với các khu vực còn lại. Rừng dừa
nước - thảm cỏ biển có chỉ số đa dạng sinh
học vào mùa mưa cao hơn so với mùa khô.
Hệ sinh thái rạn san hô có chỉ số H’ vào mùa
mưa cao hơn so với mùa khô ở cả 2 vùng trên
và ngoài rạn (hình 7B).
Hình 7. Biến động chỉ số giàu có loài (A), chỉ số đa dạng sinh học Shannon (B) của quần xã
động vật phù du khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm - Hội An
Hình 8. Biến động chỉ số cân bằng Pileou (J’)
của quần xã động vật phù du trong khu dự trữ
sinh quyển Cù Lao Chàm - Hội An
Quần xã động vật phù du khu dự trữ sinh
quyển Cù Lao Chàm - Hội An có chỉ số cân
bằng J’ khá đồng đều ở các hệ sinh thái khác
nhau trong cả mùa mưa lẫn mùa khô, ngoài trừ
hệ sinh thái rừng dừa nước - thảm cỏ biển vào
kỳ mùa khô (0,6 ± 0,08) khá thấp so với các
khu vực còn lại. Hệ sinh thái này cũng có sự
biến động về chỉ số cân bằng Pielou lớn nhất
trong khu dự trữ sinh quyển. Rạn san hô là hệ
sinh thái có chỉ số J’ trung bình cao và không
khác nhau giữa vùng trên (0,75 ± 0,01: Mùa
mưa; 0,76 ± 0,01: Mùa khô) và vùng ngoài rạn
(0,75 ± 0,02: Mùa mưa; 0,76 ± 0,05: Mùa khô)
(hình 8).
Kết quả phân tích chỉ số ưu thế tích lũy (k)
cho thấy tính ổn định của quần xã động vật phù
du trong hệ sinh thái rừng dừa nước - thảm cỏ
biển kém nhất trong khu vực nghiên cứu. Cả 2
khu vực trong và ngoài rừng dừa nước - thảm
cỏ biển có mật độ của 5 loài chiếm đến hơn
80% tổng mật độ cá thể của quần xã. Các khu
vực còn lại của quần xã động vật phù du tương
đối ổn định về mặt cấu trúc (hình 9). Nhóm ấu
trùng chân mái chèo (giai đoạn naupli) chiếm
ưu thế ở hầu hết các hệ sinh thái ngoại trừ khu
vực trên rạn san hô. Hệ sinh thái ngoài rừng
dừa nước - thảm cỏ biển chiếm ưu thế bởi loài
nước ngọt như Microcyclops varicans
(Copepoda) và phân bố rộng từ nước lợ đến
Trương Sĩ Hải Trình, Nguyễn Tâm Vinh
282
nước ngọt như Bosmina longirostris và
Ceriodaphnia rigaudi (Cladocera). Vùng
chuyển tiếp có mật độ của Oikopleura
fusiformis (21,88%), Oikopleura longicauda
(21,59 %) (Tunicata) chiếm ưu thế về mặt mật
độ. Hệ sinh thái rạn san hô với sự đóng góp về
mặt mật độ của các loài chân mái chèo kích
thước nhỏ như Euterpina acutifrons, Oncaea
conifera với tỷ lệ phần trăm < 10% cho thấy hệ
sinh thái này có tính ổn định về mặt cấu trúc và
không bị phá vỡ bởi mật độ của một hoặc vài
loài chiếm thế nào (bảng 3).
Hình 9. Ưu thế tích lũy (k) về hạng của loài trong quần xã động vật phù du
khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm - Hội An
Bảng 3. Tỷ lệ phần trăm (%) đóng góp của loài/nhóm loài động vật phù du
trong khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm - Hội An
Nhóm/loài động vật phù du
Hệ sinh thái
RDN-TCB NRDN-TCB CT RSH NRSH
Ấu trùng chân mái chèo (giai đoạn naupli) 39,15 21,88 13,96
7,82
Oithona (con non) 13,25
4,15
5,44
Pseudodiaptomus (con non) 8,73
Ấu trùng giun nhiều tơ 6,11
Ceriodaphnia rigaudi 4,34 21,59
Microcyclops varicans
13,96
Bosmina longirostris
9,82
Acartia (con non)
4,15
Oikopleura fusiformis
21,88 6,33 9,23
Oikopleura longicauda
21,59
Paracalanus parvus
9,82
Oncaea (con non)
9,19 7,27
Oncaea conifera
8,68 10,54
Euterpina acutifrons
6,89
Ấu trùng Pilidium
4,82
Tỷ lệ giống nhau trung bình nhóm (%) 13,26 16,19 26,06 37,39 36,06
THẢO LUẬN
Kết quả nghiên cứu đã ghi nhận được 161
loài thuộc 16 nhóm động vật phù du trong khu
dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm - Hội An. So
với các khu vực lân cận, quần xã động vật phù
trong khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm -
Đa dạng sinh học động vật phù du
283
Hội An có số lượng loài cao hơn so với vùng
biển Sơn Trà - Đà Nẵng [24], đầm phá Tam
Giang - Cầu Hai (43 loài) [25]. Quần xã động
vật phù du khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm có
số lượng loài (97 loài) không khác so với kết
quả nghiên cứu trước đây về thành phần loài ở
vùng biển trên và ngoài rạn san hô Cù Lao
Chàm trong năm 2006 và 2007 (95 loài) [11].
Khu dự trữ sinh quyển có sự chênh lệch về
độ mặn giữa các hệ sinh thái là khá lớn: Rừng
dừa nước - thảm cỏ biển thuộc khu vực hạ lưu
sông Thu Bồn có độ mặn 1,2‰ (mùa mưa) và
6,8‰ (mùa khô), vùng chuyển tiếp có độ mặn
26,2‰ (mùa mưa) và 31,1‰ (mùa khô), rạn
san hô có độ mặn 31,6‰ (mùa mưa) và 31,7‰
(mùa khô) [26]. Sự chênh lệch về độ mặn ở các
hệ sinh thái là một trong những nguyên nhân
dẫn đến cấu trúc thành phần loài động vật ở các
hệ sinh thái là khác nhau: Hệ sinh thái rừng dừa
nước - thảm cỏ biển với các loài giáp xác râu
ngành, chân mái chèo nước ngọt và nước lợ;
vùng chuyển tiếp và rạn san hô với các loài
chân mái chèo phân bố ven bờ, hàm tơ và động
vật có bao. Bên cạnh đó, sự chênh lệch về độ
mặn giữa mùa mưa và mùa khô cũng có thể là
nguyên nhân dẫn đến sự khác nhau về thành
loài động vật phù du giữa 2 mùa. Kết quả báo
cáo “Điều tra và đề xuất giải pháp quản lý, sử
dụng bền đối với tài nguyên đa dạng sinh học ở
khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm - Hội An”
cho thấy vào kỳ mùa mưa, phạm vi nước ngọt
có thể ra đến trạm 16 (thuộc khu vực rạn san hô
Cù Lao Chàm) [26]. Tuy nhiên, kết quả phân
tích cho thấy không có sự xuất hiện các loài
động vật phù du nước ngọt và nước lợ như
Brachionus angularis, B. quadridentatus,
Diaphanosoma sarsi, ở khu vực chuyển tiếp
và rạn san hô; duy nhất chỉ có 1 loài giáp xác
râu ngành rộng muối (Bosmina longirostris)
được phát hiện tại trạm 13 (khu vực chuyển
tiếp) vào kỳ mùa mưa. Điều này có thể cho
thấy sự ảnh hưởng của lượng nước ngọt đến
vùng chuyển tiếp và khu bảo tồn biển Cù Lao
Chàm vào mùa mưa đối với quần xã động vật
phù du là không lớn.
Mật độ động vật phù du khu dự trữ sinh
quyển Cù Lao Chàm - Hội An vào mùa khô cao
hơn so với mùa mưa, đặc biệt ở hệ sinh thái rừng
dừa nước - thảm cỏ biển và sự khác nhau có ý
nghĩa về mặt thống kê (t-test, P < 0,05). Trong
hệ sinh thái rừng dừa nước - thảm cỏ biển, mật
độ động vật phù du chiếm ưu thế bởi các chân
mái chèo nước ngọt (Microcyclops varicans),
giáp xác râu ngành (Cladocera) như Bosmina
longirostris, Ceriodaphnia rigaudi. Trong khi
đó, hệ sinh thái rạn san hô lại chiếm ưu thế bởi
các loài chân mái chèo kích thước nhỏ thuộc
giống Oncaea, Oithona, Dioithona và các loài
động vật có bao (Tunicata). Cũng trong hệ sinh
thái này, động vật phù du vùng trên rạn có mật
độ cá thể cao hơn so với vùng ngoài rạn, kết quả
này cũng tương tự như kết quả nghiên cứu sinh
vật phù du vùng rạn san hô Việt Nam [11].
Các chỉ số đa dạng sinh học (chỉ số giàu có
loài, chỉ số đa dạng) có xu hướng thấp ở hệ
sinh thái rừng dừa nước - thảm cỏ biển và tăng
dần tới vùng chuyển tiếp và hệ sinh thái rạn san
hô. Hệ sinh thái rạn san hô có chỉ số cân bằng
Pielou (J’) tương đối ổn định ở cả mùa mưa và
mùa khô. Trong khi đó, rừng dừa nước và thảm
cỏ biển lại có sự chênh lệch khá lớn của chỉ số
này giữa mùa mưa và mùa khô. Hệ sinh thái
rừng dừa nước - thảm cỏ biển cũng là nơi có
quần xã động vật phù du có tính ổn định kém
với mật độ của các 5 loài chiếm ưu thế chiếm
đến trên 80% tổng mật độ. Hệ sinh thái rạn san
hô có các chỉ số đa dạng của vùng trên rạn cao
hơn so với vùng ngoài rạn ở cả 2 mùa mưa và
mùa khô.
Lời cảm ơn: Kết quả nghiên cứu là một phần
thuộc dự án: Điều tra và đề xuất giải pháp quản
lý, sử dụng bền vững đối với tài nguyên đa
dạng sinh học ở Khu Dự trữ sinh quyển thế giới
Cù Lao Chàm - Hội An và đề tài cấp cơ sở năm
2019 của phòng Sinh vật phù du biển, Viện Hải
dương học. Phụ lục danh sách loài được lưu trữ
tại: shorturl.at/ejLZ8.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Lalli, C., and Parsons, T. R., 1997.
Biological oceanography: an introduction.
Elsevier.
[2] Goswami, S. C., 2004. Zooplankton
methodology. Collection & Identification-
a field Manual, National Institute of
Oceanography, Goa, India.
[3] Nybakken, J. W., 1997. Plankton and
Plankton Communities. In Marine
biology: an ecological approach. Addison
Trương Sĩ Hải Trình, Nguyễn Tâm Vinh
284
Wesley Longman, Inc: Menlo Park, Calif.
pp. 481.
[4] Bianchi, F., Acri, F., Aubry, F. B., Berton,
A., Boldrin, A., Camatti, E., Cassin, D.,
and Comaschi, A., 2003. Can plankton
communities be considered as bio-
indicators of water quality in the Lagoon
of Venice?. Marine Pollution Bulletin,
46(8), 964–971.
[5] Webber, M., Edwards-Myers, E.,
Campbell, C., and Webber, D., 2005.
Phytoplankton and zooplankton as
indicators of water quality in Discovery
Bay, Jamaica. Hydrobiologia, 545(1),
177–193.
[6] Nguyễn Hữu Đại và Donald Macintosh,
2008. Hiện trạng tài nguyên đất ngập nước
(chủ yếu là dừa nước) ở hạ lưu sông Thu
Bồn (Quảng Nam) và vấn đề quản lý, bảo
vệ, phục hồi. Tạp chí Khoa học và Công
nghệ biển, 8(4), 51–66.
[7] Phạm Viết Tích, 2009. Khảo sát, đánh
giá và đề xuất các giải pháp bảo vệ, phục
hồi các hệ sinh thái đất ngập nước ven
biển Quảng Nam. Báo cáo tổng kết đề tài
cấp tỉnh. Sở Khoa học và Công nghệ
Quảng Nam.
[8] Nguyễn Văn Long, 2008. Đánh giá đa dạng
sinh học và chất lượng môi trường khu bảo
tồn biển Cù Lao Chàm 2004–2008. Báo
cáo tổng kết. Viện Hải dương học.
[9] Võ Sĩ Tuấn, 2004. Điều tra nghiên cứu
các hệ sinh thái và tài nguyên của khu bảo
tồn biển Cù Lao Chàm, tỉnh Quảng Nam,
Việt Nam. Báo cáo tổng kết. Viện Hải
dương học.
[10] Thái Minh Quang, Hứa Thái Tuyến và
Nguyễn An Khang, 2018. Thành phần
loài và phân bố của thân mềm và da gai
rạn san hô trong chuyến khảo sát trên tàu
viện sĩ Oparin năm 2016–2017. Tạp chí
Khoa học và Công nghệ biển, 18(4A),
81–92.
[11] Nguyễn Cho và Trương Sĩ Hải Trình,
2009. Động vật phù du vùng ven bờ Cù
Lao Chàm, Cù Lao Cau và Côn Đảo,
trong Sinh vật phù du vùng rạn san hô
Việt Nam: Cù Lao Chàm, Cù Lao Cau và
Côn Đảo. Đoàn Như Hải và Nguyễn Ngọc
Lâm (Chủ biên). Nxb. Khoa học tự nhiên
và Công nghệ. Tr. 176–233.
[12] Chen, Q. C., 1965. The planktonic
copepods of the Yellow Sea and the East
China Sea. I. Calanoida. Studia Marina
Sinica, 7, 20–31.
[13] Owre, H. B., and Foyo, M., 1967.
Copepods of the Florida current. Fauna
Caribaea No. 1. Crustacea, Part1:
Copepoda. Publications of the Institute of
Marine Science, University of Miami,
Florida.
[14] Chen, Q. C., 1974. On planktonic
copepods of the yellow sea and the East
China Sea, II. Cyclopoida and
Harpacticoida. Studia Marina Sinica, 9,
pls-1.
[15] Chen, Q. C., 1982. The marine
zooplankton of Hong Kong. The marine
flora and fauna of Hong Kong and
southern China, 789–799.
[16] Nishida, S., 1985. Taxonomy and
distribution of the family Oithonidae
(Copepoda, Cyclopoida) in the Pacific and
Indian Oceans. Bulletin of the Ocean
Research Institute, University of Tokyo,
20, 1–167.
[17] Nguyễn Văn Khôi, 1994. Lớp phụ Chân
mái chèo (Copepoda) vịnh Bắc Bộ. Nxb.
Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội.
[18] Boltovskoy, D., 1999. South atlantic
zooplankton (No. C/592 S6).
[19] Mulyadi, M., 2002. The calanoid
copepods family Pontellidae from
Indonesian waters, with notes on its
species-groups. Treubia, 32(2), 1–167.
[20] Margalef, D. R., 1958. Information theory
in ecology: General Systematics. Vol. 3.
pp. 36–71.
[21] Shannon, C. E., 1948. A mathematical
theory of communication. Bell System
Technical Journal, 27(3), 379–423.
[22] Pielou, E. C., 1966. The measurement of
diversity in different types of biological
collections. Journal of Theoretical
Biology, 13, 131–144.
[23] Bray, J. R., and Curtis, J. T., 1957. An
ordination of the upland forest
Đa dạng sinh học động vật phù du
285
communities of southern Wisconsin.
Ecological Monographs, 27(4), 325–349.
[24] Trương Sĩ Hải Trình và Nguyễn Tâm
Vinh, 2018. Đa dạng sinh học động vật
phù du vùng biển ven bờ bán đảo Sơn Trà,
Đà Nẵng. Tạp chí Khoa học và Công nghệ
biển, 18(4A), 59–71.
[25] Võ Văn Phú và Hoàng Đình Trung, 2012.
Khảo sát sự biến động về thành phần loài
động vật nổi (Zooplankton) ở đầm phá
Tam Giang - Cầu Hai, tỉnh Thừa Thiên-
Huế. Tạp chí Khoa học (Đại học Huế),
75A, 123–133.
[26] Nguyễn Văn Long. 2016. Điều tra và đề
xuất giải pháp quản lý, sử dụng bền đối
với tài nguyên đa dạng sinh học ở khu dự
trữ sinh quyển Cù Lao Chàm - Hội An. Ủy
ban Nhân dân thành phố Hội An. Viện
Hải dương học.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
zooplankton_biodiversity_in_the_biosphere_reserve_of_cu_lao.pdf