Tiểu luận Cải cách thủ tục hành chính - Một biện pháp quan trọng để cải thiện môi trường thu hút FDI tại Việt Nam

Giới thiệu về FDI Trong xu thế toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ, những mối quan hệ kinh tế ngày càng mở rộng, việc hội nhập kinh tế khu vực và thế giới để phát triển là nhu cầu tất yếu khách quan của mỗi quốc gia. Việt nam đó va đang tích cực, chủ động chuẩn bị các điều kiện để tham gia vào các tổ chức kinh tế quốc tế, trong đó có Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Do Việt nam là một quốc gia có tới hơn 80 triệu dân, có tiềm năng của một thị trường lớn nên nhiều nước quan tâm đến gói đàm phán gia nhập của nước này. Đầu năm 1995, Việt nam nộp đơn xin gia nhập WTO và trở thành quan sát viên của tổ chức này. Việc gia nhập WTO là một trong những chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta nhằm phát huy cao độ nội lực, tranh thủ nguồn lực bên ngoài để phát triển, góp phần đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Hiện nay, Việt nam đang tích cực tiến hành đàm phán song phương và đa phương với các nước để sớm gia nhập WTO trong một tương lai cận kề. Vì vậy, việc chuẩn bị các điều kiện tiếp theo để xúc tiến quá trình đàm phán và thực hiện các điều ước quốc tế về thương mại khi gia nhập WTO, là những vấn đề cấp bách và hết sức cần thiết. Tư cách thành viên WTO là bằng chứng của một môi trường kinh doanh thuận lợi, và nhờ dó sẽ thu hút đầu tư nước ngoài mà chủ yếu là đầu tư trực tiếp (FDI) vào khu vực xuất khẩu và khu vực sản xuất cho thị trường nội địa. Nếu được điều tiết đúng đắn, FDI có thể góp phần to lớn vào việc phát triển bền vững của một quốc gia. Để phát triển kinh tế đòi hỏi phải có vốn. Thực tế cho thấy hầu như tất cả các nước đều thiếu vốn đầu tư. Khắc phục tình trạng thiếu vốn, các nước sử dụng biện pháp thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài là chủ yếu. 1.1 Lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là những khoản đầu tư do các tổ chức kinh doanh và cá nhân từ nước ngoài đưa vốn vào một nước để sản xuất kinh doanh hoặc góp vốn liên doanh với các tổ chức và cá nhân trong nước theo quy định của Luật Đầu tư nước ngoài tại nước sở tại. FDI thường cung cấp vốn, công nghệ, năng lực quản lý (qua đào tạo, chuyển giao kinh nghiệm) và các nước đầu tư thường hội đủ những điều kiện sau: + Về khuôn khổ thể chế: - Có nền kinh tế mở hướng về xuất khẩu - Đồng tiền có thể chuyển đổi được - Chu trình tư nhân hóa quy mô lớn - Tham gia các khối thương mại trong khu vực họ định đầu tư - Cơ sở hạ tầng vật chất tốt, dồi dào + Nước nhận đầu tư thường được hưởng các lợi ích sau: - Chuyển giao vốn, công nghệ và năng lực quản lý - Các nhà đầu tư nước ngoài gánh chịu rủi ro sản xuất kinh doanh - Tăng năng suất và thu nhập quốc dân - Cạnh tranh hơn, hiệu quả kinh tế hơn - Tiếp cận với thị trường nước ngoài - Khuyến khích năng lực kinh doanh trong nước 1.2 Vai trò của FDI đối với phát triển kinh tế. FDI ngày càng có vai trò to lớn đối với việc thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế ở các nước đầu tư và các nước nhận đầu tư. Cụ thể là: - Đối với các nước đầu tư, đầu tư ra nước ngoài giúp nâng cao hiệu quả sử dụng những lợi thế sản xuất ở nơi tiếp nhận đầu tư, hạ giá thành sản phẩm và nâng cao tỷ suất lợi nhuận của vốn đầu tư và xây dựng được thị trường cung cấp nguyên liệu ổn định với giá phải chăng. Mặt khác, đầu tư ra nước ngoài giúp bành trướng sức mạnh kinh tế và nâng cao uy tín chính trị. Thông qua việc xây dựng nhà máy sản xuất và thị trường tiêu thụ ở nước ngoài mà các nước đầu tư mở rộng được thị trường tiêu thụ, tránh được hàng rào bảo hộ mậu dịch của các nước. - Đối với các nước nhận đầu tư, hiện nay cứ 2 dòng chảy của vốn đầu tư nước ngoài. Đó là dòng chảy vào các nước phát triển và dũng chảy vào các nước đang phát triển. + Đối với các nước kinh tế phát triển, FDI có tác dụng lớn trong việc giải quyết những khó khăn về kinh tế, xã hội như thất nghiệp, lạm phát . FDI cũng tạo điều kiện tăng thu ngân sách dưới hình thức các loại thuế để cải thiện tình hình bội chi ngân sách, tạo ra môi trường cạnh tranh thúc đẩy sự phát triển kinh tế và thương mại, giúp người lao động và cán bộ quản lý học hỏi kinh nghiệm quản lý của các nước khác. + Đối với các nước đang phát triển, FDI thúc đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế thông qua việc tạo ra những doanh nghiệp mới, thu hút thêm lao động, giải quyết một phần nạn thất nghiệp ở những nước này. FDI giúp các nước này khắc phục tình trạng thiếu vốn kéo dài. Theo sau FDI là máy móc, thiết bị và cụng nghệ mới giúp các nước đang phát triển tiếp cận với khoa học - kỹ thuật mới. FDI cũng giúp các nước đang phát triển mở cửa thị trường hàng hóa và đi kèm với nó là những hoạt động marketing được mở rộng không ngừng. FDI giúp tăng thu cho ngân sách Nhà nước thông qua việc đánh thuế các công ty nước ngoài. - Đối với Việt nam, FDI có vai trò rất quan trọng, thể hiện: + Giúp đẩy nhanh tốc độ phát triển của nền kinh tế của đất nước. + Đem lại khả năng mở rộng quy mô sản xuất, xây dựng những doanh nghiệp và cơ sở sản xuất dịch vụ mới làm cho tổng sản phẩm xã hội của Việt nam tăng lên và cho phép giải quyết được tình trạng thất nghiệp của người lao động. + Tiếp nhận thành tựu phát triển khoa học - kỹ thuật tiên tiến của thế giới, nhờ đó rút ngắn khoảng cách của nước ta so với thế giới. + Nhờ có FDI, Việt nam sử dụng có hiệu quả những lợi thế của đất nước mà nhiều năm qua không thể thực hiện do thiếu vốn như khai thác dầu mỏ, khoáng sản, .

doc12 trang | Chia sẻ: maiphuongtl | Ngày: 04/06/2013 | Lượt xem: 494 | Lượt tải: 5download
Tóm tắt tài liệu Tiểu luận Cải cách thủ tục hành chính - Một biện pháp quan trọng để cải thiện môi trường thu hút FDI tại Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Cải cách thủ tục hành chính – một biện pháp quan trọng để cải thiện môi trường thu hút FDI tại Việt Nam. 1. Giới thiệu về FDI Trong xu thế toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ, những mối quan hệ kinh tế ngày càng mở rộng, việc hội nhập kinh tế khu vực và thế giới để phát triển là nhu cầu tất yếu khách quan của mỗi quốc gia. Việt nam đó va đang tích cực, chủ động chuẩn bị các điều kiện để tham gia vào các tổ chức kinh tế quốc tế, trong đó có Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Do Việt nam là một quốc gia có tới hơn 80 triệu dân, có tiềm năng của một thị trường lớn nên nhiều nước quan tâm đến gói đàm phán gia nhập của nước này. Đầu năm 1995, Việt nam nộp đơn xin gia nhập WTO và trở thành quan sát viên của tổ chức này. Việc gia nhập WTO là một trong những chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta nhằm phát huy cao độ nội lực, tranh thủ nguồn lực bên ngoài để phát triển, góp phần đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Hiện nay, Việt nam đang tích cực tiến hành đàm phán song phương và đa phương với các nước để sớm gia nhập WTO trong một tương lai cận kề. Vì vậy, việc chuẩn bị các điều kiện tiếp theo để xúc tiến quá trình đàm phán và thực hiện các điều ước quốc tế về thương mại khi gia nhập WTO, là những vấn đề cấp bách và hết sức cần thiết. Tư cách thành viên WTO là bằng chứng của một môi trường kinh doanh thuận lợi, và nhờ dó sẽ thu hút đầu tư nước ngoài mà chủ yếu là đầu tư trực tiếp (FDI) vào khu vực xuất khẩu và khu vực sản xuất cho thị trường nội địa. Nếu được điều tiết đúng đắn, FDI có thể góp phần to lớn vào việc phát triển bền vững của một quốc gia. Để phát triển kinh tế đòi hỏi phải có vốn. Thực tế cho thấy hầu như tất cả các nước đều thiếu vốn đầu tư. Khắc phục tình trạng thiếu vốn, các nước sử dụng biện pháp thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài là chủ yếu. 1.1 Lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là những khoản đầu tư do các tổ chức kinh doanh và cá nhân từ nước ngoài đưa vốn vào một nước để sản xuất kinh doanh hoặc góp vốn liên doanh với các tổ chức và cá nhân trong nước theo quy định của Luật Đầu tư nước ngoài tại nước sở tại. FDI thường cung cấp vốn, công nghệ, năng lực quản lý (qua đào tạo, chuyển giao kinh nghiệm) và các nước đầu tư thường hội đủ những điều kiện sau: + Về khuôn khổ thể chế: - Có nền kinh tế mở hướng về xuất khẩu - Đồng tiền có thể chuyển đổi được - Chu trình tư nhân hóa quy mô lớn - Tham gia các khối thương mại trong khu vực họ định đầu tư - Cơ sở hạ tầng vật chất tốt, dồi dào + Nước nhận đầu tư thường được hưởng các lợi ích sau: - Chuyển giao vốn, công nghệ và năng lực quản lý - Các nhà đầu tư nước ngoài gánh chịu rủi ro sản xuất kinh doanh - Tăng năng suất và thu nhập quốc dân - Cạnh tranh hơn, hiệu quả kinh tế hơn - Tiếp cận với thị trường nước ngoài - Khuyến khích năng lực kinh doanh trong nước 1.2 Vai trò của FDI đối với phát triển kinh tế. FDI ngày càng có vai trò to lớn đối với việc thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế ở các nước đầu tư và các nước nhận đầu tư. Cụ thể là: - Đối với các nước đầu tư, đầu tư ra nước ngoài giúp nâng cao hiệu quả sử dụng những lợi thế sản xuất ở nơi tiếp nhận đầu tư, hạ giá thành sản phẩm và nâng cao tỷ suất lợi nhuận của vốn đầu tư và xây dựng được thị trường cung cấp nguyên liệu ổn định với giá phải chăng. Mặt khác, đầu tư ra nước ngoài giúp bành trướng sức mạnh kinh tế và nâng cao uy tín chính trị. Thông qua việc xây dựng nhà máy sản xuất và thị trường tiêu thụ ở nước ngoài mà các nước đầu tư mở rộng được thị trường tiêu thụ, tránh được hàng rào bảo hộ mậu dịch của các nước. - Đối với các nước nhận đầu tư, hiện nay cứ 2 dòng chảy của vốn đầu tư nước ngoài. Đó là dòng chảy vào các nước phát triển và dũng chảy vào các nước đang phát triển. + Đối với các nước kinh tế phát triển, FDI có tác dụng lớn trong việc giải quyết những khó khăn về kinh tế, xã hội như thất nghiệp, lạm phát... FDI cũng tạo điều kiện tăng thu ngân sách dưới hình thức các loại thuế để cải thiện tình hình bội chi ngân sách, tạo ra môi trường cạnh tranh thúc đẩy sự phát triển kinh tế và thương mại, giúp người lao động và cán bộ quản lý học hỏi kinh nghiệm quản lý của các nước khác. + Đối với các nước đang phát triển, FDI thúc đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế thông qua việc tạo ra những doanh nghiệp mới, thu hút thêm lao động, giải quyết một phần nạn thất nghiệp ở những nước này. FDI giúp các nước này khắc phục tình trạng thiếu vốn kéo dài. Theo sau FDI là máy móc, thiết bị và cụng nghệ mới giúp các nước đang phát triển tiếp cận với khoa học - kỹ thuật mới. FDI cũng giúp các nước đang phát triển mở cửa thị trường hàng hóa và đi kèm với nó là những hoạt động marketing được mở rộng không ngừng. FDI giúp tăng thu cho ngân sách Nhà nước thông qua việc đánh thuế các công ty nước ngoài. - Đối với Việt nam, FDI có vai trò rất quan trọng, thể hiện: + Giúp đẩy nhanh tốc độ phát triển của nền kinh tế của đất nước. + Đem lại khả năng mở rộng quy mô sản xuất, xây dựng những doanh nghiệp và cơ sở sản xuất dịch vụ mới làm cho tổng sản phẩm xã hội của Việt nam tăng lên và cho phép giải quyết được tình trạng thất nghiệp của người lao động. + Tiếp nhận thành tựu phát triển khoa học - kỹ thuật tiên tiến của thế giới, nhờ đó rút ngắn khoảng cách của nước ta so với thế giới. + Nhờ có FDI, Việt nam sử dụng có hiệu quả những lợi thế của đất nước mà nhiều năm qua không thể thực hiện do thiếu vốn như khai thác dầu mỏ, khoáng sản,... 2. Vấn đề thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt nam 2.1. Yêu cầu khách quan về nguồn vốn đầu tư. Yêu cầu phát triển nội tại và thực tiến khách quan trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đó và đang đòi hỏi Việt nam cần tới một nguồn vốn đầu tư to lớn để hội nhập cùng với dòng chảy kinh tế - xã hội trên thế giới. Cụ thể là: - Hợp tác quốc tế là xu thế tất yếu, là con đường hiệu quả nhất mà bất kỳ quốc gia nào cũng phải làm khi có đủ điều kiện, và buộc phải thực hiện bởi sức ép bên trong, bên ngoài nước và nước ta cũng không phải ngoại lệ. - Tình hình cụ thể của Việt nam đòi hỏi phải nhanh chúng nâng cao thu nhập quốc dân. Đòi hỏi đó buộc chúng ta phải có một nguồn vốn đầu tư rất lớn, nguồn vốn này không thể hoàn toàn trông chờ vào nguồn tích lũy nội bộ trong một thời gian ngắn của một đất nước nghèo như Việt Nam. - Chúng ta có thể tranh thủ nguồn vốn từ các nước tư bản phát triển, mà chủ yếu là vốn của các nhà tư bản của các tập đoàn một quốc gia hay đa quốc gia, xuyên quốc gia. - Vốn tư nhân vào Việt nam không thể bằng con đường viện trợ có hoàn lại hay bằng con đường cho vay. Hơn nữa, Chính phủ Việt nam hay bất kỳ một nước mới phát triển nào cũng không có đủ khả năng để đi vay hay sử dụng các nguồn vốn vay được trên mọi lĩnh vực. Do đó con đường chủ yếu để các nguồn tư bản nước ngoài chảy vào Việt nam là nhập khẩu vốn thông qua phương thức thu hút và nhận đầu tư trực tiếp từ nước ngoài. 2.2. Một số vấn đề liên quan đến việc tổ chức thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài. Đứng trên giác độ một quốc gia, việc tổ chức thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài liên quan đến các vấn đề sau: - Xây dựng hệ quan điểm về vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài đối với phát triển kinh tế. - Tạo lập môi trường đầu tư hấp dẫn: Đây là vấn đề có tính then chốt. Môi trường đàu tư là tổng thể các bộ phận mà ở đó chúng tác động qua lại lẫn nhau và chi phối mạnh mẽ đến các hoạt động đầu tư; buộc các nhà đầu tư phải tự điều chỉnh các mục đích, hình thức và phạm vi hoạt động cho thích hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh và đưa đến hiệu quả cao trong kinh doanh. 3. Thực hiện cải cách 3.1 Vì sao cần phải thực hiện cải cách? Khi đầu tư vào Việt Nam, các nhà đầu tư quan tâm nhất là 5 vấn đề: ổn định kinh tế vĩ mô, Luật Lao động, thủ tục hành chính, hải quan, an toàn và an ninh cá nhân. Trong điều kiện lạm phát kinh tế toàn cầu, các nhà đầu tư đánh giá Chính phủ đã có giải pháp đúng đắn cho nền kinh tế vĩ mô khi không chỉ tập trung vào tăng trưởng. Điều này đã giúp họ yên tâm khi đầu tư vào Việt Nam. Tuy nhiên những vấn đề còn lại thì chưa được thực sự thuận lợi. Nguồn nhân lực tay nghề cao vẫn thiếu và yếu, Luật Lao động với những điều khoản chưa rõ ràng, thủ tục hành chính còn nhiêu khê với doanh nghiệp.Thủ tục cấp phép bị nhiều doanh nghiệp FDI "kêu" nhất. - Ông Han Jae Jin, Trưởng ban Quan hệ đối ngoại của Phòng Thương mại và Công nghiệp Hàn Quốc (Kocham) than phiền về tình trạng cấp giấy phép đầu tư mà có khi đến 6 tháng mới có kết quả. Theo ông Han Jae Jin khi nộp hồ sơ cấp giấy phép thì được hẹn 30-45 ngày. Khi đến ngày hẹn thì lại tiếp tục đề nghị các thủ tục bổ sung và thời gian lại đến 30-45 ngày nữa. Cứ như thế doanh nghiệp phải đi lại rất nhiều lần, tốn nhiều thời gian, công sức và có khi mất luôn cơ hội làm ăn. - Ông Christopher C.Twomey, Phó Chủ tịch Phòng Thương mại Hoa Kỳ tại Việt Nam (Amcham) phản ánh về những phiền hà của hải quan gây ra sự chậm trễ bằng những con số rất cụ thể. Theo đó, thủ tục thông quan xuất khẩu mất 3 ngày và nhập khẩu đến 4 ngày. Cũng theo ông Christopher C.Twomey thì có đến gần 70% nhà đầu tư xuất hàng phải có chi phí "bôi trơn" cho nhân viên hải quan. Vị đại diện này cho rằng đây là một thử thách mà cả hai bên (hải quan và nhà đầu tư) cùng có lỗi. Một số nhà đầu tư cao ốc văn phòng cho biết, cùng một dự án như nhau: Trung Quốc hay Thái Lan chỉ cần 1-2 năm để hoàn tất dự án Việt Nam thường phải tốn gấp đôi thời gian này vì thủ tục hành chính phiền hà và vô số phức tạp nảy sinh trong việc giải phóng mặt bằng. Theo kinh nghiệm của các nước, thay vì để nhà đầu tư tự đứng ra đền bù, giải tỏa mặt bằng thì nhà nước (mà cụ thể là chính quyền địa phương) cần thực hiện những hoạt động này, sau đó mới tiến hành đấu thầu hay đấu giá một cách công khai và cạnh tranh. 3.2. Cơ sở lí luận của cải cách Thủ tục Hành chính 3.2.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mac-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản Việt Nam về cải cách nền hành chính nhà nước. Các nhà kinh điển theo học thuyết Mác-Lênin đã có những tư tưởng bước đầu về cải cách nền hành chính nhà nước, đặc biệt những tư tưởng của Lênin. Trong quá trình lãnh đạo nhà nước Xô Viết, Lênin rất chú trọng đối với công tác cải cách nền hành chính. Người coi đây là cơ sở thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế-xã hội. Trong cải cách nền hành chính, Lênin nhấn mạnh đến việc sắp xếp, tinh giảm bộ máy hành chính và thực hành tiếp kiệm. Người nhấn mạnh: “Nhiệm vụ cấp thiết, chủ yếu nhất lúc này và trong những năm sắp tới là không ngừng tinh giảm bộ máy Xô Viết và giảm bớt chi phí của nó…xóa bỏ tác phong lề mề hành chính, bệnh quan liêu và giảm bớt các khoản chi tiêu phi sản xuất”. Cùng với việc thiết lập một hệ thống quản lí mới, Lênin xúc tiến việc cải cách chính để đảm bảo cho bộ máy nhà nước vận hành thông suốt. Lê nin coi trọng việc cải cách, đơn giản hóa các thủ tục hành chính, giảm bớt những khâu xét duyệt giấy tờ không cần thiết.Người đặc biệt lưu ý tới việc soạn lại các quy định thật cơ bản, thiết thực đã tính toán chính xác để thi hành có hiệu quả. Để cải cách nền hành chính nhà nước, Lênin còn nhấn mạnh đến những vấn đề then chốt như công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; nâng cao tinh thần trách nhiệm và đạo đức công vụ; đấu tranh chống lại các hành động quan liêu, tham nhũng, sách nhiễu. Trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người vận dụng đầu tiên và sáng tạo những quan điểm trên của Lênin trong việc xây dựng một nền hành chính quốc gia thực sự hiện đại và hoạt động có hiệu quả. Ngay từ buổi đầu xây dựng một nước Việt Nam độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiến hành xây dựng một nền hành chính phù hợp với yêu cầu mới, mà việc đầu tiên là ban hành các văn bản quy định quy chế hoạt động của các cấp các ngành. Người yêu cầu “phải xây dựng một nền hành chính của dân, do dân và vì dân”. Giảm thiểu những sách nhiễu, phiền hà trong giải quyết công việc hành chính. Thủ tục hành chính phải phù hợp với yêu cầu giải quyết công việc theo đúng quy định, song cũng cần phù hợp với trình độ của nhân dân. Người lên án mọi hành vi cửa quyền, lộng quyền của cán bộ khi giải quyết công việc của nhân dân. Người yêu cầu “cán bộ, đảng viên phải là những công bộc trung thành và tận tình của nhân dân”. Những quan điểm của Lê nin và chủ tịch Hồ Chí Minh đã được Đảng ta kế thừa và phát triển trong điều kiện hiện nay. Đại hội lần thứ VII của Đảng(tháng 6-1991) đã đánh dấu bước đổi mới, phát triển tư duy về cải cách nền hành chính nhà nước trong sự nghiệp đổi mới đất nước. Đảng đã đặt trọng tâm vào cải cách hệ thống hành chính nhà nước trong tổng thể cải cách bộ máy nhà nước và đổi mới hệ thống chính trị. Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 khóa VII(tháng 1-1995) đã ra nghị quyết chuyên đề về cải cách một bước nền hành chính nhà nước với một hệ thống chủ trương, nội dung, phương hướng cải cách tương đối đồng bộ, cơ bản, chuyên sâu. Các đại hội Đảng lần thứ VIII(tháng 6-1996), IX(tháng 4-2000), X(tháng 4-2006) và các hội nghị Trung ương của Đảng đã tiếp tục bổ sung, phát triển đường lối, chủ trương cải cách, xây dựng nền hành chính nhà nước trong đó trọng tâm là thực hiện cải cách TTHC. Đây là thành tựu nổi bật trong đổi mới, phát triển tư duy lí luận của Đảng về xây dựng nền hành chính nhà nước nói riêng, về xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN nói chung; là kết quả của việc vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào hoạch định đường lối, chủ trương cải cách hành chính trong giai đoạn hiện nay. 3.2.2: Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của TTHC. 3.2.2.1: Khái niệm TTHC. Hiện nay, khái niệm TTHC vẫn còn nhiều ý kiến tranh cãi. Dưới đây là khái niệm được nhiều nhà khoa học ở Việt Nam chấp nhận nhất: TTHC là trình tự, trật tự thực hiện thẩm quyền của các cơ quan hành chính nhà nước hoặc của cá nhân, tổ chức được ủy quyền hành pháp trong việc giải quyết các công việc của Nhà nước, các kiến nghị yêu cầu chính đáng của công dân hoặc tổ chức nhằm thi hành nghĩa vụ hành chính, đảm bảo công vụ nhà nước và phục vụ nhân dân. 3.2.2.2: Các đặc điểm của TTHC. TTHC có những đặc điểm chủ yếu sau: - TTHC được luật hành chính quy định rất chặt chẽ, các hoạt động không được quy phạm TTHC quy định thì không phải là TTHC. - Trong TTHC thì nguyên tắc chủ thể có quyền xem xét và ra quyết định theo trình tự mà luật TTHC quy định là cơ quan quản lí hành chính nhà nước(cơ quan quản lí hành chính nhà nước hiểu theo nghĩa rộng). - Các quy phạm TTHC không chỉ quy định trình tự thực hiện theo quy phạm vật chất của Luật hành chính mà còn quy định trình tự nhằm thực hiện quy phạm vật chất của các ngành luật khác. - TTHC rất đa dạng, phức tạp.Tính đa dạng, phức tạp của nó được quy định bởi hoạt động quản lí hành chính nhà nước là hoạt động diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và bộ máy hành chính. Hơn nữa nền hành chính nhà nước ta hiện đang chuyển từ nền hành chính kế hoạch hóa tập trung sang nền hành chính phục vụ; đồng thời với xu hướng hợp tác quốc tế đối tượng quản lí không chỉ là công dân, tổ chức trong nước mà còn có các yếu tố nước ngoài. 3.21.2.3: Ý nghĩa của TTHC. TTHC có ý nghĩa quan trọng trong quản lí nhà nước và xã hội. Trước hết, nếu không thực hiện các TTHC cần thiết thì một quyết định hành chính sẽ không được đưa vào thực hiện hoặc bị hạn chế tác dụng. TTHC đảm bảo cho việc thi hành quyết định được thống nhất và có thể kiểm tra được tính hợp pháp, hợp lí cũng như các hệ quả do thực hiện các quyết định hành chính tạo ra. TTHC khi được xây dựng và vận dụng một cách hợp lí sẽ tạo ra khả năng sáng tạo trong việc thực hiện các quyết định quản lí, đem lại hiệu quả thiết thực cho quản lí Nhà nước. TTHC là một bộ phận của pháp luật hành chính, vì vậy việc nắm vững và thực hiện các quy định về TTHC sẽ có ý nghĩa rất lớn đối với quá trình cải cách nền hành chính nhà nước và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. 3.2.3. Về nội dung cải cách TTHC. 3.2.3.1: Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010. Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010 của chính phủ ban hành kèm theo quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17-9-2001 của Thủ tướng chính phủ đã xác định: Mục tiêu của chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010 là: “Xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hóa, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả theo nguyên tắc của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước. Công cuộc cải cách phải phấn đấu đến năm 2010 nền hành chính nhà nước đảm bảo và phù hợp với yêu cầu quản lí xã hội và quản lí nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Nội dung cơ bản của chương trình là: Cải cách thể chế. Cải cách tổ chức bộ máy. Đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức. Cải cách tài chính công. Về cải cách thể chế, một trong những nội dung được nhấn mạnh là tiếp tục cải cách TTHC theo hướng: Loại bỏ những thủ tục rườm rà, chồng chéo. Mở rộng cải cách TTHC trên tất cả các lĩnh vực. Ban hành cơ chế kiểm tra, giám sát đối với cán bộ, công chức tiếp nhận và giải quyết TTHC. Mở rộng thực hành cơ chế “một cửa” và “một cửa liên thông” trong giải quyết TTHC. Quy định rõ trách nhiệm của cá nhân khi thi hành công vụ. 3.2.3.2: Về nội dung thực hiện cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông”. a. Khái niệm “một cửa”, “một cửa liên thông”. Cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” được ban hành kèm theo quyết định 181/2003/QĐ-TTg ngày 04-09-2003 và quyết định số 93/2007/QĐ-TTg ngày 22-06-2007 của Thủ tướng chính phủ. Đây được coi là mũi đột phá quan trọng trong công tác cải cách TTHC. “Một cửa” là cơ chế giải quyết công việc của tổ chức, công dân thuộc thẩm quyền của cơ quan hành chính nhà nước từ tiếp nhận yêu cầu, hồ sơ đến trả lại kết quả thông qua một đầu mối duy nhất là bộ phận tiếp nhận và trả kết quả tại cơ quan hành chính nhà nước. Còn cơ chế “một cửa liên thông” là cơ chế giải quyết công việc của tổ chức, cá nhân thuộc trách nhiệm, thẩm quyền của nhiều cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp hoặc giữa các cấp hành chính từ hướng dẫn, tiếp nhận giấy tờ, hồ sơ, giải quyết đến trả kết quả được thực hiện tại một đầu mối là bộ phận tiếp nhận và trả kết quả tại cơ quan hành chính nhà nước. Cơ chế này đặt ra yêu cầu các cơ quan nhà nước có trách nhiệm phối hợp trong quy trình xử lí hồ sơ, không để cho tổ chức, công dân phải cầm hồ sơ đi từ cơ quan này tới cơ quan khác. b.Về lợi ích của cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông”. - Giảm phiền hà cho tổ chức, công dân. - Chống tệ quan liêu, tham nhũng, cửa quyền, sách nhiễu, nâng cao hiệu quả quản lí nhà nước. - Tinh giảm, sắp xếp lại bộ máy cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương theo hướng gọn nhẹ, hiệu quả và khoa học. - TTHC đơn giản, rõ ràng, đúng pháp luật. - Công khai các TTHC, các loại phí, lệ phí và thời gian giải quyết đối với từng loại TTHC. - Bảo đảm giải quyết công việc nhanh, chính xác. 3.3. Thực hiện cải cách thủ tục hành chính Trong thời gian tới, cải cách TTHC tiếp tục được coi là nhiệm vụ quan trọng trong công tác cải cách hành chính của Chính Phủ và các Bộ ban ngành. Nhiệm vụ cụ thể được đặt ra đó là: - Tăng cường công tác chỉ đạo trong cải cách TTHC. Đây được coi là nhiệm vụ thường xuyên và quan trọng, một mặt góp phần đẩy mạnh cải cách TTHC trên phạm vi toàn quốc; mặt khác kịp thời xử lí những khó khăn, vướng mắc có thể xảy ra trong quá trình cải cách TTHC. Đồng thời công tác kiểm tra, giám sát thường xuyên sẽ đảm bảo cho đội ngũ cán bộ, công chức làm việc khách quan, khoa học, hiệu quả, hạn chế những tệ hách dịch, quan liêu có thể xảy ra, đảm bảo cải cách TTHC mang lại hiệu quả thiết thực cho nhân dân. - Tiếp tục triển khai thực hiện đơn giản hóa TTHC trong tất cả các lĩnh vực quản lý nhà nước theo đề án 30 của chính phủ. Mục tiêu đến hết năm 2010 phải đơn giản tối thiểu 30% TTHC . - Đẩy mạnh việc áp dụng cơ chế “một cửa” ở các đơn vị còn lại, hướng dẫn một số đơn vị đã thực hiện đề án “Một cửa” sửa đổi, bổ sung đề án theo bộ thủ tục hành chính mới. Nhân rộng mô hình “một cửa liên thông” ở các lĩnh vực đăng ký kinh doanh, cấp giấy chúng nhận quyền sử dụng đất, cấp giấy phép xây dựng… - Thực hiện nghiêm túc chế độ công vụ, công chức, nâng cao chất lượng tuyển dụng, sử dụng cán bộ công chức. Đặc biệt tăng cường đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, năng lực thực hiện giải quyết công việc cho cán bộ công chức cấp xã, bồi dưỡng quy tắc hành chính, kĩ năng ứng xử văn minh nơi công sở… - Thực hiện nghiêm túc, chất lượng, hiệu quả các quy định về chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với cơ quan hành chính nhà nước và quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm việc thực hiện nhiệm vụ tổ chức bộ máy biên chế và tài chính đối với các đơn vị. - Thường xuyên kiểm tra việc thực thi trách nhiệm công vụ đối với công chức; xử lý nghiêm, kịp thời với những các bộ công chức lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao gây nhũng nhiễu, phiền hà cho tổ chức và công dân. - Tiến hành tổng kêt, đánh giá kết quả thực hiện chương trình đơn giản hóa TTHC và việc áp dụng cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” giai đoạn 2001-2010 và đề ra mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ cho giai đoạn tiếp theo. Kết luận Đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan đến cải thiện môi trường đầu tư là một việc làm thiết thực, giúp cho các hoạt động kinh doanh diễn ra nhanh hơn đáp ứng kịp thời sự phát triển của nền kinh tế, tạo tiền đề thuận lợi cho các doanh nghiệp và người dân. Tuy nước ta đã có những chính sách cải cách thủ tục hành chính, nhưng các chính sách này vẫn chưa thực sự hiệu quả. Chính phủ cần phải quan tâm nhiều hơn nữa, đồng thời phải tăng cường kiểm tra việc quản lý các địa phương, cần xử lý nghiêm các địa phương vi phạm đảm bảo vận hành năng động và minh bạch.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doccai_cach_thu_tuc_hanh_chinh_de_thu_hut_von_fdi_0011.doc
Tài liệu liên quan