Các công trình nghiên cứu khác cho thấy cung
cấp BL phù hợp cho cây có thể giảm nhẹ độc hại
của mặn. Theo Das và cộng tác viên (2011) đã báo
cáo rằng dung dịch muối được bổ sung BL kết quả
cho thấy ở các nghiệm thức có bổ sung BL. Chất này
có tác động làm gia tăng lượng đường hòa tan, axit
amin tự do và hàm lượng proline, hàm lượng ion
khoáng Na+/K+ giảm ở các giống lúa GR-7, GR-11,
GR-12, Dandi và Gurjari sau 5, 10 và 15 ngày sau
khi gieo, đây là cơ sở làm gia tăng năng suất cây lúa
trong điều kiện stress muối. Bên cạnh đó, BL phun
trên lạc (Arachis hypogaea L.) ở 3 thời điểm trước
ra hoa, đang ra hoa và giai đoạn hình thành củ có
tác dụng giúp chống lại các tác động tiêu cực của
ảnh hưởng mặn (50 mM và 100 mM NaCl; 25 mM
và 50 mM NaHCO
3) thông qua nâng cao hiệu quả
sinh lý chung của các cây trồng như duy trì màu
xanh của lá, khả năng sản sinh proline, diện tích lá,
tốc độ thoát hơi nước và khuếch tán qua khí khổng,
hoạt động của enzyme catalase; cải thiện năng suất
và các thành phần năng suất của cây lạc (Nithila et
al., 2013).
5 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 13 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Ảnh hưởng của Brassinolide trong hạn chế tác hại của mặn trên lúa ở điều kiện ngoài đồng tại tỉnh Bạc Liêu, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
62
Tạp chí Khoa học Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 8(105)/2019
ẢNH HƯỞNG CỦA BRASSINOLIDE TRONG HẠN CHẾ TÁC HẠI
CỦA MẶN TRÊN LÚA Ở ĐIỀU KIỆN NGOÀI ĐỒNG TẠI TỈNH BẠC LIÊU
Lê Kiêu Hiếu1, Nguyễn Bảo Vệ2 và Phạm Phước Nhẫn2
TÓM TẮT
Thí nghiệm được thực hiện ở ngoài đồng nhằm mục tiêu xác định thời điểm xử lý brassinolide để cải thiện
sinh trưởng và năng suất trong điều kiện lúa bị mặn (3,2‰). Thí nghiệm được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn
ngẫu nhiên 1 nhân tố (3 lần lặp lại). Thời điểm xử lý brassinolide với các nghiệm thức như sau: đối chứng; mạ; mạ
+ đẻ nhánh; mạ + đẻ nhánh + tượng đòng; mạ + đẻ nhánh + tượng đòng + trổ. Kết quả thí nghiệm cho thấy phun
brassinolide 3 lần/vụ (0,05 mg/L brassinolide ở giai đoạn mạ và đẻ nhánh, 0,1 mg/L brassinolide lúc tượng đòng)
giúp cải thiện sự sinh trưởng và gia tăng năng suất lúa 21 - 29% thông qua sự gia tăng các thành phần năng suất như
số bông/m2, số hạt/bông và số hạt chắc/bông.
Từ khóa: Brassinolide, giống lúa OM5451, tác hại của mặn
1 Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh Bạc Liêu; 2 Trường Đại học Cần Thơ
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong thời gian qua, diện tích đất canh tác lúa bị
nhiễm mặn ngày càng tăng do ảnh hưởng của biến
đổi khí hậu và sự hình thành các đập thủy lợi ở đầu
nguồn đã làm suy giảm đáng kể năng suất và sản
lượng lúa, gây khó khăn và là thử thách lớn trong
mục tiêu an toàn lương thực quốc gia. Theo Lauchli
và Grattan (2007), trong các giai đoạn sinh trưởng
và phát triển, cây lúa rất mẫn cảm với mặn ở giai
đoạn mạ, đẻ nhánh và tượng khối sơ khởi, ở giai
đoạn chín thì cây lúa ít mẫn cảm hơn.
Hiện nay, có nhiều biện pháp để giúp cây lúa
chống chịu mặn như sử dụng giống chống chịu,
kỹ thuật canh tác hay sử dụng chất điều hòa sinh
trưởng thực vật brassinosteroids cũng đã và đang
được nghiên cứu áp dụng. Nhiều nghiên cứu hiện
nay cho thấy brassinolide (BL - một lactone steroid
tự nhiên được phát hiện vào năm 1979, thuộc nhóm
chất brassinosteroids) giúp cây trồng gia tăng tính
chống chịu mặn bởi khả năng kích thích sinh trưởng
và gia tăng năng suất trên một số cây trồng cạn
(El-Feky và Abo-Hamad, 2014). Tuy nhiên, các
nghiên cứu về ảnh hưởng của chất này đến sự sinh
trưởng và năng suất trên lúa cao sản ở những vùng
đất nhiễm mặn của Đồng bằng sông Cửu Long còn
hạn chế và cần được nghiên cứu thêm. Mặt khác,
nông dân thường sử dụng nước mặn để tưới cho lúa
trong điều kiện thiếu nước ngọt vào mùa khô hoặc
cuối mùa mưa nên dễ dẫn đến gia tăng độ mặn trong
đất và làm giảm năng suất lúa. Vì vậy, nghiên cứu
được thực hiện nhằm tìm ra được thời điểm phun
BL có thể hạn chế tác hại của mặn đến sinh trưởng
và năng suất lúa ở điều kiện ngoài đồng.
II. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Vật liệu nghiên cứu
- Giống lúa: OM5451 có thời gian sinh trưởng
95 - 100 ngày, đẻ nhánh khá, dáng hình gọn, chiều
cao cây 90 - 100 cm, thích nghi rộng, năng suất 6 - 8
tấn/ha, đạt tiêu chuẩn xuất khẩu.
- Chất điều hòa sinh trưởng thực vật brassinolide
(BL).
- Đất ruộng dùng trong thí nghiệm là đất lúa ven
biển tỉnh Bạc Liêu. Đặc tính đất thí nghiệm được
trình bày trong bảng 1.
Bảng 1. Đặc tính đất được phân tích đầu vụ lúa tại thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu
Đặc tính đất Đơn vị Phương pháp phân tích Kết quả Đánh giá
- pH 1 : 2,5 đất - nước, pH kế 5,24 Thấp
- EC mS/cm Trích bão hòa, EC kế 5,02 Một số cây trồng có năng suất suy giảm
- Na trao đổi meq/100g Máy hấp thu nguyên tử 1,04
- K trao đổi meq/100g Máy hấp thu nguyên tử 0,96 Cao
- Ca trao đổi meq/100g Máy hấp thu nguyên tử 4,94 Trung bình thấp
- Mg trao đổi meq/100g Máy hấp thu nguyên tử 9,19 Cao
63
Tạp chí Khoa học Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 8(105)/2019
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí ngoài đồng theo thể thức
khối hoàn toàn ngẫu nhiên một nhân tố. Có tất cả
5 nghiệm thức với 3 lần lặp lại (Bảng 2). Diện tích
mỗi lô thí nghiệm 20 m2.
Nghiệm
thức
Thời điểm
xử lý BL
Chú thích
(Liều lượng BL, mg/L)
1 Đối chứng (phun nước)
2 Xử lý giống (mạ) Mạ: 0,05 mg/L
3 Mạ + đẻ nhánh Đẻ nhánh: 0,05 mg/L
4 Mạ + đẻ nhánh + tượng đòng Tượng đòng: 0,10 mg/L
5 Mạ + đẻ nhánh + tượng đòng + trổ Trổ: 0,10 mg/L
2.2.2. Phương pháp thực hiện
- Kỹ thuật canh tác lúa theo tập quán của nông
dân địa phương. Giống lúa OM5451 được sạ lan với
lượng giống gieo sạ là 120 kg/ha.
- Xử lý brassinolide: Thời điểm ủ giống và phun
lúc lúa đẻ nhánh (20 NSS), tượng đòng (45 NSS) và
giai đoạn trổ (65 NSS).
- Phân bón cho lúa được chia làm các lần bón
cụ thể như sau (kg/ha): Đợt 1 (8 NSS): 50 kg urea +
50 kg DAP + 80 kg NPK (20-20-15); đợt 2 (18 NSS):
20 kg KCl + 80 kg NPK (20-20-15); đợt 3 (42 NSS):
100 kg NPK (20-20-15), tương ứng với công thức
phân: 84 N - 75P2O5 - 51 K2O.
- Chăm sóc: Tiến hành tỉa dặm lúa lúc 15 ngày
sau sạ. Kiểm tra đồng ruộng thường xuyên để nắm
diễn biến về sinh trưởng, dịch hại nhằm có biện
pháp xử lý kịp thời.
2.2.3. Chỉ tiêu thu thập
- Chiều cao cây, số chồi/m2 được thu thập lúc 10,
30, 50 và 70 ngày sau sạ. Mỗi lô thí nghiệm chọn
3 điểm cố định, mỗi điểm đặt một khung có kích
thước 50 ˟ 50 cm. Mỗi khung chọn 10 cây ngẫu
nhiên để thu thập số liệu.
- Số bông/chậu, số hạt/bông, hạt chắc/bông,
trọng lượng 1000 hạt và năng suất lúa (tấn/ha) ở ẩm
độ 14%.
2.2.4. Phân tích kết quả
Số liệu ghi nhận được phân tích phương sai
ANOVA để tìm sự khác biệt của các nghiệm
thức trong thí nghiệm, so sánh các trung bình
bằng phương pháp kiểm định DUNCAN ở mức ý
nghĩa 5%.
2.3. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thí nghiệm được thực hiện ở ngoài đồng từ tháng
8 đến tháng 12 năm 2018, tại xã Phong Thạnh A, thị
xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu.
III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Chiều cao cây
Qua kết quả trình bày bảng 3 cho thấy chiều cao
cây lúa tăng dần từ 10 đến 70 ngày sau sạ (NSS). Ở
thời điểm 10 NSS chiều cao cây giữa các nghiệm
thức dao động từ 15,23 cm đến 16,29 cm và không
có sự khác biệt ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm
thức. Qua đó cho thấy việc xử lý BL (0,05 mg/L) ở
thời điểm ban đầu để ủ giống không làm ảnh hưởng
đến chiều cây mạ.
Bảng 3. Chiều cao cây lúa (cm)
ở các thời điểm sinh trưởng và phát triển
Nghiệm
thức
Ngày sau sạ
10 30 50 70
1 15,23 40,33 b 67,23 b 88,93 b
2 16,08 43,13 a 68,85 ab 90,23 ab
3 16,29 43,92 a 69,92 a 92,23 a
4 15,94 43,10 a 70,38 a 92,23 a
5 15,95 42,91 a 69,42 a 92,17 a
F ns * * *
CV (%) 2,85 2,56 1,35 1,26
Ghi chú: 1: Nghiệm thức đối chứng (phun nước);
2: Nghiệm thức phun brassinolide giai đoạn lúa mạ
(nồng độ 0,05 mg/L); 3: Nghiệm thức phun brassinolide
giai đoạn lúa mạ + đẻ nhánh (nồng độ 0,10 mg/L);
4: Nghiệm thức phun brassinolide giai đoạn mạ + đẻ
nhánh + tượng đòng (nồng độ 0,10 mg/L); 5: Nghiệm thức
phun brassinolide giai đoạn mạ + đẻ nhánh + tượng đòng
+ trổ (nồng độ 0,10 mg/L).
Trong cùng một cột các số có chữ theo sau giống
nhau thì khác biệt không ý nghĩa thống kê qua phép thử
Duncan, (ns): khác biệt không ý nghĩa thống kê, (*): khác
biệt có ý nghĩa thống kê ở mức 5%, (**): khác biệt có ý
nghĩa thống kê ở mức 1%.
Vào thời điểm 30 ngày sau sạ, chiều cây lúa ở
các nghiệm thức có xử lý BL đều cao hơn từ 2,58 -
3,59 cm và có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (5%)
so với nghiệm thức đối chứng (40,33 cm). Có thể
thấy tác dụng của BL được thể hiện thông qua việc
tăng các chất bổ trợ nội sinh hoặc tăng độ nhạy cảm
của mô tế bào với các chất bổ trợ nội sinh. Nhiều
64
Tạp chí Khoa học Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 8(105)/2019
nghiên cứu sinh lý đã đề cập đến tương tác của Brs
với auxin như kéo dài. Yopp và cộng tác viên (1981b)
cho rằng BL gây ra sự tổng hợp cả IAA và GA làm
chiều cao cây bị tác động. Tương tự, lúc 30 ngày sau
sạ, sự khác biệt về chiều cao cây giữa các nghiệm
thức cũng được tìm thấy ở thời điểm 50 và 70 ngày
sau sạ. Vào các thời điểm này, xử lý BL (nồng độ
0,10 mg/L) ở các nghiệm thức có phun kết hợp BL
vào lúc mạ và đẻ nhánh trở về sau đều cho kết quả
chiều cao cây vượt trội hẵn so với nghiệm thức đối
chứng. Qua đó cho thấy trong điều kiện mặn việc xử
lý chất tăng cường khả năng chịu mặn BL đã giúp
cây lúa phát triển chiều cao cây tốt hơn. Kết quả cải
thiện có hiệu quả chiều cao cây của BL trong điều
kiện mặn cũng được tìm thấy trong nghiên cứu
của Anuradha và Rao (2002) trên giống lúa IR64,
El-Feky và Abo-Hamad (2014) thực hiện ở cây lúa
mì (Triticum aestivum Sakha 93).
3.2. Số chồi
Theo kết quả ghi nhận được từ thí nghiệm
(bảng 4) cho thấy số chồi/m2 có xu hướng tăng
nhanh từ 10 - 30 ngày sau sạ, sau đó thời điểm
50 NSS số chồi có xu hướng giảm dần và ổn định
đến lúc thu hoạch.
Bảng 4. Số chồi/m2 của lúa
ở các thời điểm sinh trưởng và phát triển
Nghiệm
thức
Ngày sau sạ
10 30 50 70
1 323 652 c 497 b 450 c
2 340 662 bc 524 b 479 bc
3 339 726 a 534 a 496 ab
4 336 707 ab 545 a 514 a
5 330 700 ab 538 a 513 ab
F ns * * **
CV (%) 2,82 3,85 3,14 3,52
Ở thời điểm 10 NSS, số chồi/m2 dao động từ
323 - 340 chồi/m2 và khác biệt không có ý nghĩa
thống kê giữa các nghiệm thức. Tuy nhiên, theo
Grattan và cộng tác viên (2002), thời điểm ban đầu
mặn vẫn gây ra thiệt hại về cây con và làm hạn chế
khả năng đẻ nhánh của lúa. Từ thời điểm 30 ngày
sau sạ trở về sau sự khác biệt đã dần thể hiện rõ. Cụ
thể các nghiệm thức được phun BL từ giai đoạn mạ
+ đẻ nhánh trở về sau đều cho kết quả số chồi/m2 cao
hơn hẳn so với nghiệm thức đối chứng và nghiệm
thức chỉ xử lý BL ở giai đoạn mạ. Kết quả này cũng
được ghi nhận trong nghiên cứu của Abe (1989) cho
rằng brassinolide có vai trò trong việc giúp gia tăng
số lượng chồi hay cành hữu hiệu ở cây trồng. Trong
điều kiện thực hiện thí nghiệm, lượng phân bón
cung cấp cho từng nghiệm thức là như nhau nên
việc tăng cường bổ sung BL thông qua phun kết hợp
ở các giai đoạn sinh trưởng của cây khác nhau đã cho
thấy kết quả cải thiện số chồi/m2 của lúa trong điều
kiện mặn rỏ rệt. Theo Nguyễn Minh Chơn (2005),
phun BL cho cây trồng đã làm gia tăng sự phân chia
tế bào thông qua làm tăng tích lũy chlorophyll, khả
năng quang hợp, sự vận chuyển các sản phẩm đồng
hóa do quang hợp kích thích cây trồng đẻ nhánh dẫn
đến gia tăng số chồi/m2.
3.3. Số bông/m2
Qua kết quả trình bày bảng 5 cho thấy số bông/m2
chịu sự ảnh hưởng bởi các thời điểm xử lý BL. Ở các
nghiệm thức có phun BL, số bông/m2 đều cao hơn
từ 8 - 57 chồi/m2 so với đối chứng và có sự khác biệt
có ý nghĩa qua phân tích thống kê giữa các nghiệm
thức (1%), trong đó các nghiệm thức có phun BL kết
hợp ở các giai đoạn từ mạ + đẻ nhánh trở về sau cho
số bông/m2 tốt nhất.
Bảng 5. Thành phần năng suất lúa
tại thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu
Nghiệm
thức
Số
bông/
m2
Tăng so
với đối
chứng
(%)
Số hạt/
bông
Tăng so
với đối
chứng
(%)
1 413 b 0 63,70 c 0
2 421 b 1,94 65,80 bc 3,30
3 455 a 10,17 67,90 ab 6,59
4 468 a 13,32 70,07 a 10,0
5 470 a 13,80 70,73 a 11,04
F ** *
CV (%) 3,59 2,92
Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2008), số bông trên đơn
vị diện tích được quyết định chủ yếu trong giai đoạn
sinh trưởng của cây lúa và tùy thuộc vào mật độ sạ,
điều kiện canh tác, đất đai, khí hậu và kỹ thuật sản
xuất. Kết quả cải thiện số bông trên đơn vị diện tích
cũng được tìm thấy trong nghiên cứu của Nguyễn
Văn Bo và cộng tác viên (2016), sử dụng brassinoide
với tên sản phẩm thương mại phun cho lúa với liều
lượng khuyến cáo trên sản phẩm cũng đã làm tăng
số bông trên m2 và có ý nghĩa so với đối chứng trong
điều kiện độ mặn trong đất 3,67 mS/cm.
3.4. Số hạt trên bông
Số hạt trên bông ở các nghiệm thức dao động từ
65
Tạp chí Khoa học Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 8(105)/2019
63,70 - 70,73 hạt/bông và có sự khác biệt có ý nghĩa
qua phân tích thống kê (5%) giữa các nghiệm thức
(Bảng 5). Kết quả số hạt/bông thấp nhất ở nghiệm
thức 1 (63,70 hạt/bông). Xử lý BL kết hợp ở các
nghiệm thức 3 (phun BL giai đoạn mạ + đẻ nhánh),
nghiệm thức 4 (phun BL giai đoạn mạ + đẻ nhánh
+ tượng đòng) và nghiệm thức 5 (phun BL giai đoạn
mạ + đẻ nhánh + tượng đòng + trổ) cho kết quả số
hạt trên bông cao khác biệt có ý nghĩa, tăng 4,20 -
7,03 hạt/bông so với nghiệm thức 1 (đối chứng).
Khi xử lý BL đã tác động lên các thành phần sắc tố
quang hợp như chlorophyll, caroten và chính nhờ
quá trình quang hợp được tăng cường nên lượng lớn
carbohydrate được hình thành trong cây. Sự hình
thành này phụ thuộc vào cường độ quang hợp của
cây, chỉ số diện tích lá và thời gian diễn ra quá trình
tích lũy.
3.5. Số hạt chắc/bông
Kết quả trình bày bảng 6 cho thấy số hạt chắc/
bông ở các thời điểm phun BL từ giai đoạn mạ +
đẻ nhánh trở về sau đều cho số hạt chắc/bông tăng
dần và cao hơn từ 3,77 - 6,17 hạt chắc/bông so với
đối chứng. Phun BL kết hợp cả 4 giai đoạn mạ, đẻ
nhánh, tượng đồng và trổ cho số hạt chắc/bông đạt
cao nhất (47 hạt chắc/bông), không khác biệt ý nghĩa
thống kê với nghiệm thức 4 (46,79 hạt chắc/bông).
Các chất dự trữ trong thân lá là sản phẩm quang hợp
được vận chuyển vào trong hạt ở thời kỳ chín sữa.
Hơn 80% chất khô tích lũy trong hạt là do quang
hợp ở giai đoạn sau trổ. Tỷ lệ hạt chắc là yếu tố quan
trọng ảnh hưởng đến năng suất lúa trồng và nó được
quyết định từ đầu thời kỳ phân hóa đòng đến lúc
vào chắc nhưng quan trọng nhất là thời kỳ phân
bào giảm nhiễm, trổ bông, phơi màu, thụ phấn, vào
chắc, ... (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008). Việc áp dụng phun
brassinosteroids đã thúc đẫy sự thụ phấn ở hoa, từ
đó gia tăng tích lũy tinh bột vào hạt, góp phần gia
tăng tỷ lệ hạt chắc (Fujii and Saka, 2002).
Bảng 6. Số hạt chắc/bông và khối lượng 1000 hạt (g)
tại thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu
Nghiệm
thức
Hạt chắc/
bông
Tăng so với
đối chứng
(%)
Khối lượng
1000 hạt
(g)
1 40,83 c 0 25,66
2 41,70 c 2,13 25,92
3 44,60 b 9,23 26,16
4 46,79 a 14,60 25,88
5 47,00 a 15,11 25,88
F ** ns
CV (%) 2,15 2,07
3.6. Khối lượng 1000 hạt
Khối lượng 1000 hạt biến thiên trong khoảng
25,66 - 26,16 g và qua phân tích cho thấy không có
sự khác biệt ý nghĩa thống kê (Bảng 6). Theo Yoshida
(1981), trọng lượng hạt chủ yếu do đặc tính di truyền
của giống quyết định, kích thước hạt bị kiểm soát
chặc chẽ bởi kích thước vỏ trấu. Mặc dù không có
sự khác biệt ý nghĩa qua phân tích thống kê, nhưng
số liệu ghi nhận được cho thấy ở các nghiệm thức áp
dụng xử lý BL đều cho khối lượng 1000 hạt được cải
thiện hơn so với đối chứng. Theo Anuradha và Rao
(2003), BL có tác động làm tăng tỷ lệ phân chia tế bào
ở lục lạp của lá, tăng khả năng tích lũy chlorophyll
đây là cơ sở giúp cho khả năng quang hợp của cây
lúa sau trổ được tốt hơn, từ đó có thể cải thiện được
khối lượng hạt trong điều kiện stress mặn.
3.7. Năng suất thực tế
Sự mất mát năng suất lúa có liên quan rất lớn đến
các giai đoạn nhiễm mặn và sự chống chịu mặn của
giống lúa. Qua kết quả Bảng 7 cho thấy BL đã làm
gia tăng năng suất thực tế lúa khác biệt có ý nghĩa
qua phân tích thống kê (1%) ở các nghiệm thức 4
và 5 so với đối chứng và với nghiệm thức 2, 3. Cụ
thể ở nghiệm thức 4 phun BL cho năng suất tăng
1,19 tấn/ha (tương đương 29,38%) so với đối chứng);
nghiệm thức 5 cho năng suất tăng 1,22 tấn/ha (tương
đương 30,12% so với đối chứng).
Bảng 7. Năng suất thực tế lúa
tại thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu
Nghiệm thức Năng suất thực tế (tấn/ha)
Tăng so với
đối chứng (%)
1 4,05 b 0
2 4,26 b 5,19
3 4,91 b 21,23
4 5,24 a 29,38
5 5,27 a 30,12
F **
CV (%) 5,07
Các công trình nghiên cứu khác cho thấy cung
cấp BL phù hợp cho cây có thể giảm nhẹ độc hại
của mặn. Theo Das và cộng tác viên (2011) đã báo
cáo rằng dung dịch muối được bổ sung BL kết quả
cho thấy ở các nghiệm thức có bổ sung BL. Chất này
có tác động làm gia tăng lượng đường hòa tan, axit
amin tự do và hàm lượng proline, hàm lượng ion
khoáng Na+/K+ giảm ở các giống lúa GR-7, GR-11,
GR-12, Dandi và Gurjari sau 5, 10 và 15 ngày sau
khi gieo, đây là cơ sở làm gia tăng năng suất cây lúa
66
Tạp chí Khoa học Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 8(105)/2019
trong điều kiện stress muối. Bên cạnh đó, BL phun
trên lạc (Arachis hypogaea L.) ở 3 thời điểm trước
ra hoa, đang ra hoa và giai đoạn hình thành củ có
tác dụng giúp chống lại các tác động tiêu cực của
ảnh hưởng mặn (50 mM và 100 mM NaCl; 25 mM
và 50 mM NaHCO3) thông qua nâng cao hiệu quả
sinh lý chung của các cây trồng như duy trì màu
xanh của lá, khả năng sản sinh proline, diện tích lá,
tốc độ thoát hơi nước và khuếch tán qua khí khổng,
hoạt động của enzyme catalase; cải thiện năng suất
và các thành phần năng suất của cây lạc (Nithila et
al., 2013).
IV. KẾT LUẬN
Trong điều kiện đồng ruộng bị mặn 3,2‰ ở tỉnh
Bạc Liêu, phun brassinolide 3 lần/vụ (0,05 mg/L
brassinolide ở giai đoạn mạ và đẻ nhánh; 0,1 mg/L
brassinolide ở giai đoạn tượng đòng) giúp cải thiện
sự sinh trưởng và gia tăng năng suất lúa 21 - 29%.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Nguyễn Văn Bo, Kiều Tấn Nhựt, Lê Văn Bé và Ngô
Ngọc Hưng, 2016. Ảnh hưởng của các giai đoạn tưới
mặn đến sinh trưởng và năng suất của 4 giống lúa
trong điều kiện nhà lưới. Tạp chí Khoa học - Đại học
Cần Thơ. 4: 54-60.
Nguyễn Minh Chơn, 2005. Brassinosteroids - Nhóm
chất điều hòa sinh trưởng thực vật thứ sáu. Tạp chí
Khoa học - Đại học Cần Thơ: 206-209.
Nguyễn Ngọc Đệ, 2008. Giáo trình cây lúa. Trung Tâm
Nghiên Cứu và Phát Triển Hệ Thống Canh Tác.
Trường Đại học Cần Thơ.
Abe, H., 1989. Advances in brassinosteroid research
and prospects for its agricultural application. Japan
Pesticide Information, 55: 10-14.
Anuradha, S. and S. Rao, 2003. Application of
brassinosteroids to rice seeds (Oryza sativa L.)
reduced the impact of salt stress on growth, prevented
photosynthetic pigment loss and increased nitrate
reductase activity. Plant Growth Regul, 40: 29-32.
Anuradha, S. and S.S.R. Rao, 2002. Alleviating
influence of brassinolide on salinity stress induced
inhibition of germination and seedling growth of
rice. Indian journal of plant physiology, 7: 384-387.
Das, T. and Y.M. Shukla, 2011. Effect of brassinolide
on biochemical constituents in rice (Oryza sativa L.)
under salinity stress. The Asian Journal of Experimental
Chemistry, 6: 22-25.
El-Feky, S.S. and A.S. Abo-Hamad, 2014. Effect of
exogenous application of brassinolide on growth and
metabolic activity of wheat seedlings under normal
and salt stress conditions. Annual Research & Review
in Biology, 4: 3687-3698.
Fujii, S. and Saka, H., 2002. Distribution of assimilates to
each organ in rice plants exposed to low temperature
at the ripening stage and effect of brassinolide on the
distribution. Plant Prod Sci 4: pp. 136-134.
Lauchli, A., & Grattan, S. R, 2007. Plant growth and
development under salinity stress. In Advances in
molecular breeding toward drought and salt tolerant
crops (pp. 1-32). Springer Netherlands.
Nithila, S., D. Durga Devi, G. Velu, R. Amutha and
G. Rangaraju, 2013. Physiological evaluation of
groundnut (Arachis hypogaea L.) varieties for salt
tolerance and amelioration for salt stress. Research
Journal of Agriculture and Forestry Sciences, ISSN
2320-6063 1: 1-8.
Yoshida S, 1981. Cơ sở khoa học cây lúa. IRRI, Los
Banos, Laguna, Philippines (Bản dịch của Trần
Minh Thành, 1992. Trường Đại học Cần Thơ).
Yopp, J.H., N.B. Mandava, M.J. Thompson, J.M. Sasse,
1981b. Brassinosteroids in selected bioassays. 8th
Proceeding of Plant Growth Regulation Society of
America, pp 110-126.
Effects of brassinolide on restriction of salt harmfulness
on field rice in Bac Lieu province
Le Kieu Hieu, Nguyen Bao Ve and Pham Phuoc Nhan
Abstract
The experiment was carried out in field conditions to determine the number of brassinolide spray times for improving
the growth and yield of rice under salt-stressed condition. The experiment was laid out in completely randomized
block design, one factor. The time of spraying brassinolide included 5 treatments (control; seedling stage; seedling
stage + tillering stage; seedling stage + tillering stage + panicle initiating stage; seedling stage + tillering stage
+ panicle initiating stage + flowering stage) with 3 replicates. Results showed that brassinolide application at least
three times per crop season for rice grown on natural-salted field (3.2‰) improved growth and rice yield by 29.38%
and 30.12% in comparison to those without brassinolide treatments. This yield was improved by the better rice yield
components such as numbers of panicle, numbers of spikelet and numbers of filled spikelet per panicle.
Keywords: Brassinolide, rice variety OM5451, salt harmfulness.
Ngày nhận bài: 13/7/2019
Ngày phản biện: 25/7/2019
Người phản biện: TS. Vũ Anh Pháp
Ngày duyệt đăng: 9/8/2019
Các file đính kèm theo tài liệu này:
anh_huong_cua_brassinolide_trong_han_che_tac_hai_cua_man_tre.pdf