Bàn luận
Hà thủ ô đỏ chứa nhiều hợp chất có hoạt tính
chống oxy hóa, đặc biệt là các polyphenol. Trong
đó, anthraquinon có khả năng bảo vệ gan, chống
tăng lipid máu, điều hòa miễn dịch, các stilben
có khả năng chống lão hóa, chống xơ vữa động
mạch, thúc đẩy khả năng học tập và duy trì trí
nhớ. Các polyphenol khác như flavonoid,
quinon,. cũng có nhiều tác dụng tốt đối với sức
khỏe [8,9]. Vì vậy, hàm lượng phenol toàn phần
là một tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng
của dược liệu này. Từ thực nghiệm đã xác định
được hà thủ ô đỏ trước và sau chế biến đều có
hàm lượng phenol toàn phần lớn hơn 20 mg
GAE/g. Theo Marja và cộng sự (1999), những
loài thực vật có hàm lượng phenol toàn phần lớn
hơn giá trị này được xem là có hoạt tính chống
oxy hóa mạnh [10].
Nghiên cứu đã cho thấy có sự tương quan
đồng biến giữa hoạt tính chống oxy hóa và hàm
lượng phenol toàn phần trong hà thủ ô đỏ. Kết
quả này phù hợp với công bố của Lin và cộng sự
(2015) trên 14 loài dược liệu trong đó có hà thủ
ô đỏ [11]. Đáng lưu ý là việc ngâm dược liệu vớinước vo gạo làm cho hoạt tính chống oxy hóa
giảm đi đáng kể. Mặc dù vậy, theo y học cổ
truyền, giai đoạn này là cần thiết nhằm giảm tính
chất ráo, sáp của dược liệu do tanin gây ra và
ngâm cũng làm giảm anthranoid, do đó làm giảm
tác dụng nhuận tràng của hà thủ ô đỏ [1].
Sau khi chế biến, hàm lượng phenol toàn
phần tăng khoảng 3% trong khi hoạt tính chống
oxy hóa tăng khoảng 2,3 lần. Nhận thấy qua các
công đoạn chế biến, hoạt tính chống oxy hóa thay
đổi nhiều hơn so với hàm lượng phenol toàn
phần. Điều này có thể giải thích là do các thành
phần trong dược liệu có hoạt tính chống oxy hóa
không giống nhau, chúng lại có thể bị ảnh hưởng
khác nhau bởi điều kiện chế biến. Bên cạnh đó,
các phụ liệu sử dụng trong quá trình chế biến
cũng có thể ảnh hưởng đến thành phần hóa học
và do đó, làm thay đổi hoạt tính chống oxy hóa
của dược liệu. Huang và cộng sự (2018) đã chỉ
ra rằng các mẫu chế với đậu đen được bổ sung
thêm một số flavonoid từ đậu đen [4].
Từ các kết quả thu được, nghiên cứu tiếp tục
được phát triển theo hướng đánh giá ảnh hưởng
của việc chế biến đến thành phần hóa học của
dược liệu. Sự biến đổi của một số hợp chất cụ thể
trong hà thủ ô đỏ sẽ được trình bày trong công
bố tiếp theo của cùng nhóm tác giả.
8 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 2 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Ảnh hưởng của quá trình chế biến theo y học cổ truyền đến hàm lượng phenol toàn phần và hoạt tính chống oxy hóa của hà thủ ô đỏ (Fallopia multilflora Thunb), để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
VNU Journal of Science: Medical and Pharmaceutical Sciences, Vol. 36, No. 4 (2020) 23-30
23
Original Article
Effect of Traditional Preparation Processing on the Total
Phenol Content and Antioxidant Activity of
Fallopia multiflora Thunb.
Bui Thi Thuong1,*, Pham Xuan Sinh2, Nguyen Thanh Hai1,
Nguyen Thi Thanh Binh1, Nguyen Xuan Tung1
1VNU University of Medicine and Pharmacy, 144 Xuan Thuy, Cau Giay, Hanoi, Vietnam
2Hanoi University of Pharmacy, 15 Le Thanh Tong, Hoan Kiem, Hanoi, Viet Nam
Received 03 August 2020
Revised 03 September 2020; Accepted 25 September 2020
Abstract: This study evaluates the effects of traditional preparation on the total phenol content and
in vitro antioxidant activity of Fallopia multiflora Thunb.. The experimental results show that the
total phenol content calculated with gallic acid (GAE) of Fallopia multiflora Thunb. increased
during preparation processing. The Fallopia multiflora Thunb. after preparation had a total phenol
content of 22.73 ± 0.21 mg GAE/g, about 3% higher than the raw sample (22.03 ± 0.40 mg GAE/g).
The preparation processing also significantly increased the antioxidant activity of Fallopia
multiflora Thunb.. The concentration of extract, which could neutralize 50% of the free radicals
generated from 2.2-diphenyl-1-picrylhydrazyl of medicinal materials, after processing was 53.71 ±
0.44 µg/ml, about 2.3 times lower when compared to raw pharmaceutical materials (124,38 ± 0,56
µg/ml).
Keywords: Fallopia multilflora Thunb., processing, antioxidant, total phenol, neutralized free
radicals. *
________
* Corresponding author.
E-mail address: buithuong.smp@gmail.com
https://doi.org/10.25073/2588-1132/vnumps.4264
B.T. Thuong et al. / VNU Journal of Science: Medical and Pharmaceutical Sciences, Vol. 36, No. 4 (2020) 23-30
24
Ảnh hưởng của quá trình chế biến theo y học cổ truyền đến
hàm lượng phenol toàn phần và hoạt tính chống oxy hóa của
hà thủ ô đỏ (Fallopia multilflora Thunb.)
Bùi Thị Thương1,*, Phạm Xuân Sinh2, Nguyễn Thanh Hải1,
Nguyễn Thị Thanh Bình1, Nguyễn Xuân Tùng1
1Trường Đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội, 144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam
2 Trường Đại học Dược Hà Nội, 15 Lê Thánh Tông, Hoàn Kiếm, Hà Nội, Việt Nam
Nhận ngày 03 tháng 8 năm 2020
Chỉnh sửa ngày 03 tháng 9 năm 2020; Chấp nhận đăng ngày 25 tháng 9 năm 2020
Tóm tắt: Hà thủ ô đỏ là một dược liệu quý, được sử dụng khá phổ biến ở nhiều nước. Các tác dụng
dược lý của hà thủ ô đỏ có được chủ yếu là nhờ vào hoạt tính chống oxy hóa của các polyphenol.
Nghiên cứu đã đánh giá được ảnh hưởng của quá trình chế biến theo y học cổ truyền đến hàm lượng
phenol toàn phần và hoạt tính chống oxy hóa in vitro của hà thủ ô đỏ. Kết quả thực nghiệm cho thấy
hàm lượng phenol toàn phần tính theo acid gallic (GAE) của hà thủ ô đỏ tăng lên trong quá trình chế
biến. Dược liệu sau khi chế biến có hàm lượng phenol toàn phần là 22,73 ± 0,21 mg GAE/g, cao
hơn khoảng 3% so với mẫu thô (22,03 ± 0,40 mg GAE/g). Quá trình chế biến cũng làm gia tăng
đáng kể hoạt tính chống oxy hóa của hà thủ ô đỏ. Nồng độ dịch chiết trung hòa được 50% gốc tự do
sinh ra từ 2,2-diphenyl-1-picrylhydrazyl của dược liệu sau khi chế biến là 53,71 ± 0,44 µg/ml, thấp
hơn khoảng 2,3 lần so với dược liệu thô (124,38 ± 0,56 µg/ml).
Từ khóa: Hà thủ ô đỏ, chế biến, chống oxy hóa, phenol toàn phần, trung hòa gốc tự do, 2,2-diphenyl-
1-picrylhydrazyl.
1. Mở đầu*
Hà thủ ô đỏ (Fallopia multilflora Thunb.)
được phân bố rộng rãi trên toàn thế giới, có nhiều
ở Trung Quốc và Nhật Bản. Ở Việt Nam, hà thủ
ô đỏ được sử dụng như một loại thuốc quý trong
y học cổ truyền qua nhiều thế kỷ với các tác dụng
như bổ huyết, điều hòa khí huyết, bổ gan thận,
nhuận tràng, kích thích mọc tóc, làm đen tóc,
giúp sống lâu, [1]. Các tác dụng sinh học kể
trên có được chủ yếu là nhờ tác dụng chống oxy
hoá của các hợp chất phenol có trong hà thủ ô đỏ
như anthraquinon, stilben, tannin,... [2,3].
________
* Tác giả liên hệ.
Địa chỉ email: buithuong.smp@gmail.com
https://doi.org/10.25073/2588-1132/vnumps.4264
Theo y học cổ truyền, hà thủ ô đỏ trước khi
dùng có thể được chế biến với đậu đen nhằm
giảm bớt độc tính, thay đổi tính năng, tăng sự
quy kinh thuốc [3]. Theo y học hiện đại, quá trình
chế biến sẽ dẫn đến sự thay đổi trong thành phần
hóa học của dược liệu. Đây chính là nguyên nhân
làm cho tác dụng sinh học của hà thủ ô đỏ trước
và sau khi chế biến có thể khác nhau [3-5]. Trên
thị trường Việt Nam, nhiều sản phẩm chăm sóc
sức khỏe có thành phần là hà thủ ô đỏ đang được
sản xuất, và lưu hành. Tuy nhiên, cho đến nay,
trong nước chưa có nghiên cứu nào về hoạt tính
B.T. Thuong et al. / VNU Journal of Science: Medical and Pharmaceutical Sciences, Vol. 36, No. 4 (2020) 23-30
25
chống oxy hóa của dược liệu này sau khi chế
biến được công bố.
Từ thực tế đó, đề tài được tiến hành nhằm
mục đích đánh giá ảnh hưởng của việc chế biến
hà thủ ô đỏ theo y học cổ truyền đến hàm lượng
phenol toàn phần và tác dụng chống oxy hóa của
hà thủ ô đỏ.
2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
2.1. Nguyên liệu
Hà thủ ô đỏ đạt tiêu chuẩn dược điển Việt
Nam V (DĐVN V) được cung cấp bởi Công ty
Cổ phần Xuất nhập khẩu Dược liệu Dương Thư
(Việt Nam); mẫu dược liệu có dạng phiến, đường
kính 3-5 cm, dày khoảng 1-2 mm, bảo quản trong
túi PE kín. Chất chuẩn acid gallic 99% (Cheng
du, Trung Quốc); 2,2-Diphenyl-1-
picrylhydrazyl (DPPH) (Sigma, Singapore), acid
ascorbic 99% (Trung Quốc), natri carbonat
(Trung Quốc), thuốc thử Folin- Ciocalteu
(Trung Quốc), ethanol (EtOH) (Trung Quốc),
methanol (MeOH) (Merck, Đức), nước cất một
lần; gạo tẻ (Việt Nam), đậu đen (Việt Nam).
2.2. Thiết bị, dụng cụ
Máy quang phổ tử ngoại khả kiến UV-VIS
Aligent technologies Cary 60 UV-Vis, Mỹ; cân
phân tích Shimadzu AUW220, Nhật Bản; máy
cất nước Aquatron A4000D, Bibby, Anh; bếp
đun bình cầu bảo ôn DH.WHM12013, Daihan -
Korea; tủ sấy WiseVen Ovn - N105, Hàn Quốc
bếp điện từ Media SV19EH điều chỉnh được
nhiệt độ; nồi inox 3 đáy Sunhouse SH22120;
pipetman Labnet BioPettePLUS, Mỹ; các dụng
cụ thí nghiệm thủy tinh thông thường.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Phương pháp chế biến hà thủ ô đỏ
Công thức chế biến mỗi mẻ gồm có hà thủ ô
đỏ (200 g), gạo tẻ (200 g), đậu đen (20 g) và nước
cất. Quy trình chế biến gồm các công đoạn [6]:
- Ngâm: 200 g gạo tẻ sạch được vo trong 600
ml nước, gạn lấy dịch rồi bổ sung thêm nước cất
vừa đủ 600 ml. Sử dụng dịch này để ngâm hà thủ
ô đỏ trong 24 giờ ở nhiệt độ phòng (khoảng
27oC). Sau khi ngâm, vớt dược liệu ra, rửa sạch
hai lần bằng nước, để ráo.
- Nấu: rửa sạch 20 g đậu đen hai lần bằng
nước rồi cho vào nồi inox, thêm 800 ml nước.
Sau khi ngâm 2 giờ ở nhiệt độ phòng, đun sôi
hỗn hợp trong 1 giờ, gạn lấy dịch, để nguội. Lọc
dịch đậu đen, bổ sung thêm nước vừa đủ 1600
ml, cho vào nồi inox. Cho hà thủ ô đỏ đã chuẩn
bị ở trên vào, đun sôi trong 2 giờ, khi gần cạn cần
đảo luôn cho chín đều. Sau khi nấu, gạn phần
dịch còn lại vào dụng cụ sạch, rửa dược liệu hai
lần với nước, loại dược liệu vụn nát.
- Tẩm dịch: dược liệu được tản đều trên khay
inox (đường kính 40 cm), sấy ở 60oC trong tủ sấy
chân không đến độ ẩm 75% (trong khoảng 3
giờ), tẩm dịch còn lại sau khi nấu vào dược liệu
(mỗi lần tẩm thêm 15 ml dịch), tẩm đều rồi để
yên trong 20 phút. Lặp lại quy trình sấy - tẩm
dịch ở trên cho đến khi hết dịch nấu.
- Sấy: các mẫu dược liệu trải qua từ 1 đến 3
giai đoạn chế biến ở trên được sấy ở 60oC đến
khi đạt độ ẩm không quá 12%.
Xay nhỏ riêng từng mẫu đến kích thước
khoảng 1 mm để tiến hành định lượng phenol
toàn phần và đánh giá hoạt tính chống oxy hóa.
2.3.2. Phương pháp xác định hàm lượng phenol
toàn phần
Hàm lượng phenol toàn phần trong mẫu thử
được xác định bằng phương pháp đo màu với
thuốc thử Folin Ciocalteu, sử dụng chất chuẩn là
acid gallic. Thuốc thử này chứa chất oxy hóa là
axit phospho-vonframic, trong quá trình khử, các
nhóm hydroxy phenol dễ bị oxy hóa, sinh ra màu
xanh của vonfarm và molypden có độ hấp thụ
cực đại ở bước sóng 760 nm. Tiến hành theo
phương pháp 2, phục lục 12.6, DĐVN V [6]:
- Pha dung dịch chuẩn: cân chính xác khoảng
50 mg chất chuẩn acid gallic cho vào bình định
mức 100 ml màu nâu, hòa tan trong khoảng 80
ml nước rồi bổ sung thêm cùng dung môi đến
vạch. Pha loãng dung dịch trên 10 lần trong bình
định mức 50 ml màu nâu, thu được dung dịch
acid gallic trong nước có nồng độ chính xác
khoảng 50 µg/ml.
B.T. Thuong et al. / VNU Journal of Science: Medical and Pharmaceutical Sciences, Vol. 36, No. 4 (2020) 23-30
26
- Xây dựng đường chuẩn: hút chính xác lần
lượt 1,0 ml; 2,0 ml; 3,0 ml; 4,0 ml: 5,0 ml dung
dịch chuẩn gốc vào các bình định mức 25 ml
riêng biệt màu nâu, thêm vào mỗi bình 1 ml
thuốc thử phosphomolybdotungstic (TT), sau đó
thêm lần lượt 11 ml, 10 ml, 9 ml, 8 ml, 7 ml nước
vào các bình tương ứng, thêm dung dịch natri
carbonat 29% đến vạch, lắc đều. Đo độ hấp thụ
của các dung dịch thu được ở 760 nm, chuẩn bị
song song một mẫu trắng là nước cất. Dựng
đường biểu diễn độ hấp thụ của dung dịch theo
nồng độ acid gallic Cgal (µg/ml).
- Chuẩn bị dung dịch thử: cân chính xác 10 g
bột dược liệu đã rây qua rây số 355 cho vào bình
định mức 250 ml màu nâu, thêm 150 ml nước,
để qua đêm, siêu âm trong 10 phút. Để nguội về
nhiệt độ phòng rồi thêm nước vừa đủ 250 ml, lắc
đều, để lắng. Lọc, bỏ 50 ml dịch lọc đầu, hút
chính xác 20 ml dịch lọc vào bình định mức 100
ml màu nâu, thêm nước đến vạch, lắc đều.
- Xác định hàm lượng phenol toàn phần: hút
chính xác 2 ml dung dịch thử vào bình định mức
25 ml màu nâu. Thêm 1 ml thuốc thử
phosphomolybdotungstic (TT), trộn đều, thêm
10 ml nước, thêm dung dịch natri carbonat 29%
đến vạch, lắc đều. Đo độ hấp thụ của dung dịch
ở 760 nm, dựa vào đường chuẩn đã xây dựng để
xác định hàm lượng phenol toàn phần tính theo
acid gallic C (µg GAE/ml). Hàm lượng phenol
toàn phần trong mẫu thử theo dược liệu khô tuyệt
đối Ct (mg GAE/g) được tính như sau:
Ct =
C x V x k x 100
1000 x m x (100-d)
Trong đó:
V (ml): Thể tích của dịch chiết mẫu thử;
k: Hệ số pha loãng;
m (g): Khối lượng dược liệu;
d (%): Độ ẩm của dược liệu.
2.3.3. Phương pháp đánh giá tác dụng chống
oxy hóa
Tác dụng chống oxy hóa của các mẫu được
đánh giá bằng thử nghiệm in vitro, dựa trên khả
năng bắt gốc tự do DPPH, so sánh với acid
ascorbic. Dung dịch chứa các gốc tự do bền vững
được tạo ra khi hòa tan DPPH trong MeOH có
màu tím đỏ, hấp thu ánh sáng ở bước sóng 517
nm. Các chất chống oxy hóa phản ứng với gốc tự
do, tạo thành phức hợp màu vàng, làm giảm
cường độ hấp thụ của dung dịch tại bước sóng
trên. Tiến hành như sau [7]:
- Chuẩn bị mẫu thử: cân chính xác 0,5 g dược
liệu cho vào bình cầu cổ nhám dung tích 100 ml,
thêm 50,00 ml EtOH 50% (tt/tt), cân và ghi lại
khối lượng (m1). Để yên bình trong 10 phút rồi
chiết hồi lưu trong 1 giờ ở 70oC ± 5oC. Để bình
nguội về nhiệt độ phòng rồi bổ sung EtOH 50%
đến khối lượng ban đầu. Lọc qua màng celluose
acetat 0,45 µm thu được dung dịch thử. Pha
loãng dung dịch này trong MeOH thành dãy
dung dịch thử có nồng độ 50, 100, 200, 300, 400
và 500 µg/ml.
- Chuẩn bị mẫu so sánh: chất chuẩn dương
acid ascorbic được hòa tan trong MeOH bão hòa
với nồng độ 1, 5, 10, 20 và 50 µg/ml.
- Hỗn hợp phản ứng: cho 300 µl dung dịch
DPPH nồng độ 0,246 mg/ml trong MeOH, 100 µl
dung dịch khảo sát và 1600 µl MeOH vào ống
nghiệm thủy tinh, ủ ở nhiệt độ phòng trong 15 phút.
Đo độ hấp thụ ánh sáng ở 517 nm. Tiến hành song
song mẫu đối chứng, trong đó dung dịch thử được
thay bằng một lượng tương đương MeOH.
Mẫu chứng dương được tiến hành tương tự
nhưng thay dung dịch thử bằng acid ascorbic.
Hoạt tính trung hòa gốc tự do (scavenging
activity) sinh ra từ DPPH của dung dịch khảo sát
được tính theo công thức:
SA (%)=
Ac - At
Ac
x 100
Trong đó:
SA (%): phần trăm gốc tự do bị trung hòa;
Ac: Độ hấp thụ của dung dịch đối chứng;
At: Độ hấp thụ của dung dịch khảo sát.
Vẽ đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc của SA (%)
theo nồng độ C (µg/ml), từ đó xác định nồng độ
trung hòa được 50% gốc tự do SC50 (Scavenging
Concentration at 50%). Mẫu có SC50 càng thấp
thì hoạt tính chống oxy hóa càng cao.
2.4. Xử lý số liệu
Các thử nghiệm đều được tiến hành 3 lần. Số
liệu nghiên cứu được xử lý thống kê bằng phần
B.T. Thuong et al. / VNU Journal of Science: Medical and Pharmaceutical Sciences, Vol. 36, No. 4 (2020) 23-30
27
mềm Microsoft Excel 2016. Kết quả được biểu
diễn dưới dạng X ± SD, trong đó X là giá trị
trung bình, SD là độ lệch chuẩn.
3. Kết quả nghiên cứu
3.1. Xác định hàm lượng phenol toàn phần
Hàm lượng phenol toàn phần được xác định
bằng phương pháp đo màu với thuốc thử Folin
Ciocalteu. Vì thuốc thử này có thể đáp ứng khác
nhau với các hợp chất polyphenol đơn lẻ, lựa
chọn acid gallic làm chất chuẩn hiệu chuẩn giúp
ích cho việc thu được dữ liệu phenol toàn phần.
Để xây dựng đường chuẩn định lượng, pha dãy
gồm 5 dung dịch chuẩn có nồng độ acid gallic từ
2-10 µg/ml theo mô tả trong mục 2.3.2. Đo độ
hấp thụ của các dung dịch này ở 760 nm. Kết quả
phân tích cho thấy độ hấp thụ của dung dịch tỷ lệ
thuận với nồng độ acid gallic theo phương trình y
= 0,0909x + 0,0083, R2 = 0,9987 (Hình 1).
Hình 1. Đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc của độ hấp thụ vào nồng độ acid gallic.
Bảng 1. Hàm lượng phenol toàn phần trong các mẫu Hà thủ ô đỏ
Mẫu MT M1 M2 M3
Hàm lượng phenol toàn
phần (mg GAE/g)
22,03 ± 0,40 21,86 ± 0,25 22,47 ± 0,26 22,73 ± 0,21
Hà thủ ô đỏ được chế biến theo phương pháp
mô tả trong mục 2.3.1. Từ hà thủ ô đỏ thô (MT)
và các mẫu hà thủ ô đỏ trải qua từ 1 đến 3 công
đoạn ngâm (M1), nấu (M2), tẩm (M3), chuẩn bị
4 dung dịch thử để xác định hàm lượng phenol
toàn phần. Kết quả phân tích được trình bày
trong Bảng 1.
Từ thực nghiệm đã xác định được hàm lượng
phenol toàn phần trong hà thủ ô đỏ thô là 22,03
± 0,40 mg GAE/g. Sự thay đổi hàm lượng các
chất này sau công đoạn ngâm không có ý nghĩa
thống kê (p = 0,302). Giai đoạn nấu và tẩm dịch
nấu làm cho hàm lượng các chất này tăng dần.
Sau khi chế biến, trong 1 g dược liệu chế khô
tuyệt đối có chứa 22,73 ± 0,21 mg phenol toàn
phần tính theo acid gallic, tăng khoảng 3% so với
trước khi chế biến (sự khác biệt có ý nghĩa thống
kê với p = 0,011).
3.2. Xác định hoạt tính chống oxy hóa
Tác dụng chống oxy hóa in vitro của các mẫu
dược liệu MT và M1-3 được đánh giá dựa trên
mô hình quét gốc tự do DPPH. Mẫu chứng
,1975000
,3549333
,5617333
,7401333
,9137000
y = 0,0909x + 0,0083
R² = 0,9987
,0000
,10000
,20000
,30000
,40000
,50000
,60000
,70000
,80000
,90000
1,0000
0 2 4 6 8 10 12
Đ
ộ
h
ấp
t
h
ụ
Cgal (µg/ml)
B.T. Thuong et al. / VNU Journal of Science: Medical and Pharmaceutical Sciences, Vol. 36, No. 4 (2020) 23-30
28
dương acid ascorbic được tiến hành song song,
trong các điều kiện tương tự. Kết quả xác định
phần trăm gốc tự do sinh ra từ DPPH bị trung
hòa SA (%) theo nồng độ C (µg/ml) được trình
bày ở hình 2. Giá trị SC50 của các mẫu được trình
bày trong Bảng 2.
Hình 2. Đồ thị biểu diễn khả năng quét gốc tự do DPPH của dịch chiết từ các mẫu hà thủ ô đỏ và acid ascorbic.
Bảng 2. Giá trị SC50 đối với DPPH của dịch chiết từ các mẫu hà thủ ô đỏ và acid ascorbic
Mẫu MT M1 M2 M3 Acid ascorbic
SC50
(µg/ml)
126,41 ± 1,2 180,24 ± 0,54 60,28 ± 0,90 53,71 ± 0,44 10,45 ± 0,44
Kết quả thực nghiệm cho thấy tác dụng quét
gốc tự do DPPH của các mẫu khảo sát đều tăng
dần theo nồng độ. Từ thực nghiệm đã xác định
được nồng độ của dịch chiết hà thủ ô đỏ trước
khi chế biến giúp trung hòa 50% gốc tự do là
126,41 ± 1,2 µg/ml. Sau khi ngâm với nước vo
gạo 24 giờ, giá trị SC50 tăng lên khoảng 1,4 lần
chứng tỏ hoạt tính chống oxy hóa của dược liệu
đã bị giảm đi. Trong các giai đoạn tiếp theo của
quá trình chế biến, khả năng trung hòa gốc tự do
sinh ra từ DPPH của dược liệu lại tăng lên đáng
kể. Giá trị SC50 của dịch chiết hà thủ ô đỏ sau khi
chế biến là 53,71 ± 0,44 µg/ml, giảm hơn 2,3 lần
so với dược liệu thô và cao hơn mẫu so sánh
khoảng 5,1 lần.
4. Bàn luận
Hà thủ ô đỏ chứa nhiều hợp chất có hoạt tính
chống oxy hóa, đặc biệt là các polyphenol. Trong
đó, anthraquinon có khả năng bảo vệ gan, chống
tăng lipid máu, điều hòa miễn dịch, các stilben
có khả năng chống lão hóa, chống xơ vữa động
mạch, thúc đẩy khả năng học tập và duy trì trí
nhớ. Các polyphenol khác như flavonoid,
quinon,... cũng có nhiều tác dụng tốt đối với sức
khỏe [8,9]. Vì vậy, hàm lượng phenol toàn phần
là một tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng
của dược liệu này. Từ thực nghiệm đã xác định
được hà thủ ô đỏ trước và sau chế biến đều có
hàm lượng phenol toàn phần lớn hơn 20 mg
GAE/g. Theo Marja và cộng sự (1999), những
loài thực vật có hàm lượng phenol toàn phần lớn
hơn giá trị này được xem là có hoạt tính chống
oxy hóa mạnh [10].
Nghiên cứu đã cho thấy có sự tương quan
đồng biến giữa hoạt tính chống oxy hóa và hàm
lượng phenol toàn phần trong hà thủ ô đỏ. Kết
quả này phù hợp với công bố của Lin và cộng sự
(2015) trên 14 loài dược liệu trong đó có hà thủ
ô đỏ [11]. Đáng lưu ý là việc ngâm dược liệu với
0
100
200
300
400
500
600
0 20 40 60 80 100
C
(
µ
g
/m
l)
SA%
M3
M1
M2
MT
Acid ascorbic
B.T. Thuong et al. / VNU Journal of Science: Medical and Pharmaceutical Sciences, Vol. 36, No. 4 (2020) 23-30
29
nước vo gạo làm cho hoạt tính chống oxy hóa
giảm đi đáng kể. Mặc dù vậy, theo y học cổ
truyền, giai đoạn này là cần thiết nhằm giảm tính
chất ráo, sáp của dược liệu do tanin gây ra và
ngâm cũng làm giảm anthranoid, do đó làm giảm
tác dụng nhuận tràng của hà thủ ô đỏ [1].
Sau khi chế biến, hàm lượng phenol toàn
phần tăng khoảng 3% trong khi hoạt tính chống
oxy hóa tăng khoảng 2,3 lần. Nhận thấy qua các
công đoạn chế biến, hoạt tính chống oxy hóa thay
đổi nhiều hơn so với hàm lượng phenol toàn
phần. Điều này có thể giải thích là do các thành
phần trong dược liệu có hoạt tính chống oxy hóa
không giống nhau, chúng lại có thể bị ảnh hưởng
khác nhau bởi điều kiện chế biến. Bên cạnh đó,
các phụ liệu sử dụng trong quá trình chế biến
cũng có thể ảnh hưởng đến thành phần hóa học
và do đó, làm thay đổi hoạt tính chống oxy hóa
của dược liệu. Huang và cộng sự (2018) đã chỉ
ra rằng các mẫu chế với đậu đen được bổ sung
thêm một số flavonoid từ đậu đen [4].
Từ các kết quả thu được, nghiên cứu tiếp tục
được phát triển theo hướng đánh giá ảnh hưởng
của việc chế biến đến thành phần hóa học của
dược liệu. Sự biến đổi của một số hợp chất cụ thể
trong hà thủ ô đỏ sẽ được trình bày trong công
bố tiếp theo của cùng nhóm tác giả.
5. Kết luận
Nghiên cứu đã đánh giá được ảnh hưởng của
quá trình chế biến theo y học cổ truyền đến hàm
lượng phenol toàn phần và hoạt tính chống oxy
hóa in vitro của hà thủ ô đỏ. Dược liệu sau khi
chế biến có hàm lượng phenol toàn phần là 22,73
± 0,21 mg GAE/g, cao hơn khoảng 3% so với
dược liệu thô (22,03 ± 0,40 mg GAE/g). Giá trị
SC50 của hà thủ ô đỏ chế đối với DPPH là 53,71
± 0,44 µg/ml, thấp hơn khoảng 2,3 lần so với
dược liệu thô (124,38 ± 0,56 µg/ml). Nghiên cứu
đã góp phần khẳng định giá trị của tri thức y học
cổ truyền đồng thời củng cố cơ sở khoa học cho
việc phát triển các sản phẩm chăm sóc sức khỏe
dựa trên hoạt tính chống oxy hóa của hà thủ ô đỏ.
Lời cảm ơn
Nghiên cứu này được tài trợ bởi đề tài cơ sở
của Trường Đại học Y Dược, Đại học Quốc gia
Hà Nội “So ánh tác dụng chống oxy hóa của hà
thủ ô đỏ (Fallopia multilflora Thunb.) trước và
sau khi chế biến theo y học cổ truyền”, mã số:
CS.18.04.
Tài liệu tham khảo
[1] P.X. Sinh, Traditional pharmacology, Medical
Publishing House, Ha Noi, 2014, pp. 352-353 (in
Vietnamese).
[2] L. Lin, C. Qu, J. Ni, A novel method to analyze
hepatotoxic components in Polygonum
multiflorum using ultra-performance liquid
chromatography-quadrupole time-of-flight mass
spectrometry, Journal of hazardous materials 299
(2015) 249-259.
https://doi.org/10.1016/j.jhazmat.2015.06.014
[3] Y. Liu, Q. Wang, J. Yang, X. Guo, W. Liu, S. Ma,
S. Li, Polygonum multiflorum Thunb.: a review on
chemical analysis, processing mechanism, quality
evaluation, and hepatotoxicity, Frontiers in
pharmacology 9 (2018) 364.
/ fphar.2018.00364.
[4] J. Huang, J.P. Zhang, J.Q. Bai, M.J. Wei, J. Zhang,
Z.H. Huang, G.H. Qu, W. Xu, X.H. Qiu, Chemical
profiles and metabolite study of raw and processed
Polygoni Multiflori Radix in rats by UPLC-LTQ-
Orbitrap MSn spectrometry, Chinese journal of
natural medicines 16 (5) (2018) 375-400.
/ S1875-5364 (18) 30070-0.
[5] L. Liang, J. Xu, W.W. Zhou, E. Brand, H.B. Chen,
Z.Z. Zhao, Integrating targeted and untargeted
metabolomics to investigate the processing
chemistry of Polygoni Multiflori Radix, Frontiers
in pharmacology 9 (2018) 934.
[6] Ministry of Health, Vietnamese Pharmacopoeia V,
Medical Publishing House, Ha Noi, part 2, 2018,
pp 1180-1181 (in Vietnamese).
[7] N.T.H. Ly, T.T. Thao, P.V. Truong, P.T. Thuong,
Quality Evaluation of Fallopia multiflora in
Vietnam Based on HPLC-FLD and Chemometrics,
Natural Products Chemistry & Research 6(6)
(2018) 1-7.
[8] L. Lin, B. Ni, H. Lin, M. Zhang, X. Li, Xi. Yin, C.
Qu, J. Ni, Traditional usages, botany,
B.T. Thuong et al. / VNU Journal of Science: Medical and Pharmaceutical Sciences, Vol. 36, No. 4 (2020) 23-30
30
phytochemistry, pharmacology and toxicology of
Polygonum multiflorum Thunb.: a review, Journal
of Ethnopharmacology 159 (2015) 158-183.
https://doi.org/10.1016/j.jep.2014.11.009.
[9] G.A. Bounda, Y.U. Feng, Review of clinical
studies of Polygonum multiflorum Thunb. and its
isolated bioactive compounds, Pharmacognosy
research 7 (3) (2015) 225.
/ 0974-8490.157957.
[10] M.P. Kähkönen, A.I. Hopia, H.J. Vuorela, J.P.
Rauha, K. Pihlaja, T. S. Kujala, M.Heinonen,
Antioxidant activity of plant extracts containing
phenolic compounds, Journal of agricultural and
food chemistry 47 (10) (1999) 3954-3962.
/ jf990146l.
[11] H.H. Lin, A. L. Charles, C.W. Hsieh, Y. ChiLee,
J.Y. Ciou, Antioxidant effects of 14 Chinese
traditional medicinal herbs against human low-
density lipoprotein oxidation, Journal of traditional
and complementary medicine 5 (1) (2015) 51-55.
https://doi.org/10.1016/j.jtcme.2014.10.001.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
anh_huong_cua_qua_trinh_che_bien_theo_y_hoc_co_truyen_den_ha.pdf