Theo kết quả CHT tim, 6 BN (18,75%) có vòng nối
chủ phổi với số lượng trung bình là 4,57 ± 1,51. Theo
tác giả Kritvikrom Durongpisitkul [2] thì CHT tim có khả
năng phát hiện các vòng nối chủ phổi tốt hơn chụp
mạch máu, với hệ số tương quan khá thấp là 0,39. Bởi
vì CHT tim có trường thăm khám rộng hơn, cho phép
đánh giá tương quan các cấu trúc giải phẫu. Thậm chí
CHT mạch máu còn cho phép phát hiện các vòng nối
chủ phổi nhỏ tốt hơn là chụp mạch máu. Như vậy, CHT
tim có giá trị tương tự thậm chí tốt hơn chụp mạch máu
trong xác định các vòng nối chủ phổi. Trường thăm
khám của CHT tim rộng hơn nhiều so với siêu âm tim
giúp phát hiện tốt các vòng nối chủ phổi, đặc biệt là trên
chuỗi xung CHT mạch máu 3 chiều có tiêm thuốc đối
quang từ. Bởi vì chuỗi xung này cho phép thăm khám
trên cả 3 bình diện, đồng thời có thể tái tạo ảnh thể tích
3 chiều VRT, giúp bác sĩ lâm sàng có cái nhìn tổng thể
về các vòng nối, tiên lượng cuộc mổ và can thiệp nút
tắc các vòng nối qua đường nội mạch sau phẫu thuật.
Khi so sánh khả năng phát hiện các vòng nối chủ phổi
trên siêu âm tim so với CHT tim, chúng tôi thấy hệ số
tương quan chỉ là 0,45. CHT tim đánh giá 6 BN có vòng
nối chủ phổi, trong khi siêu âm tim chỉ đánh giá có 2 BN.
Khả năng phát hiện vòng nối chủ phổi trên siêu âm tim
có tương quan vừa song không chặt chẽ so với CHT
tim. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 10 BN ( 31,25%)
có 1 một dị tật phối hợp trên CHT tim. Tuy nhiên, tỉ lệ
gặp các dị tật bẩm sinh phối hợp trên CHT trong nhóm
nghiêu cứu còn thấp hơn tỉ lệ thường gặp trong y văn
là 25% [3], [7], có lẽ là do nhóm nghiên cứu của chúng
tôi còn ít. Khi so sánh khả năng phát hiện các dị tật bẩm
sinh phối hợp trên siêu âm tim với CHT, chúng tôi nhận
thấy có sự tương quan vừa với r = 0,47 (p < 0,05). CHT
cho cái nhìn tổng thể giải phẫu của tim và lồng ngực.
Đồng thời CHT tim là phương pháp thăm khám khách
quan, cho phép có thời gian phân tích kĩ hơn các hình
ảnh thu được.
7 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 32 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Bước đầu đánh giá vai trò của cộng hưởng từ tim trong chẩn đoán tứ chứng Fallot, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 05 - 01 / 201224
nghiÊn CỨU KhoA hỌC
SCientiFiC reSeArCh
SUMMARy
BƯỚC ĐẦU ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ
CỦA CỘNG HƯỞNG TỪ TIM
TRONG CHẨN ĐOÁN TỨ CHỨNG FALLOT
initial evaluation of cardiac magnetic resonance
in for diagnosis of Fallot tetralogy
Nguyễn Ngọc Tráng*, Nguyễn Khôi Việt*, Lê Thùy Liên*,
Hoàng Vân Hoa*, Phạm Minh Thông*
*Khoa Chẩn đoán hình ảnh -
Bệnh viện Bạch Mai
Purposes: To apply cardiac magnetic resonance (cMR) for
diagnosis preoperative Tetralogy of Fallot patients and to compare
the findings on echocardiography with CMR.
Methods and materials: 32 patients were included in a
prospective study during the interval from June 2008 to August
2009 at Bach Mai hospital. Both echocardiography and cMR had
been perrformed to evaluate the variables: Ejection Fraction (EF),
the right ventricular outflow tract, main pulmonary artery (MPA),
left and right pulmonary artery (LpA & RpA), major aortopulmonary
collateral arteries (MApcAs) The correlation between the
findings on CMR and echocardiography was compared by using
pearson statistics.
Results: 32 patients (14 males) with average age was 19.94
± 8.20 (range: 8 -53) y. o. 100% success cMR with average time:
80.93 ± 50.41 minutes. There was a close correlation between the
findings on CMR and on echocardiography with Kappa statistics r
= 0.63-0.70 (p < 0.05). cMR detect more MApcAs and additional
anomalies than echocardiography.
Conclusions: The results of our study indicate the usefulness
of cMR for evaluation pre-operative patients with Tetralogy of
Fallot. cMR has more advantages than echocardiography for
detection MApcAs and additional anomalies
Key words: Tetralogy of Fallot; cardiac magnetic resonance
imaging -cMR; Echocardiography.
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 05 - 01 / 2012 25
nghiên CỨU KHoa HỌC
i. đẶt VẤn đỀ
Tứ chứng Fallot (Tetralogy of Fallot) là một bệnh
tim bẩm sinh có tím thường gặp ở nước ta cũng như
trên thế giới. Tỉ lệ bệnh chiếm khoảng 10% trong tất
cả các bệnh tim bẩm sinh [4], [7]. Bệnh chiếm tỉ lệ
0,4 -0,8/1000 trẻ sơ sinh và tỉ lệ gặp người lớn khoảng
45/100.000 [5].
Từ trước đến nay, chẩn đoán bệnh tứ chứng Fallot
dựa vào tiền sử, khám lâm sàng, Xquang phổi thường
quy và điện tâm đồ. Để chẩn đoán xác định phải dựa
vào siêu âm tim và thông tim, chụp buồng tim. Thông
tim mặc dù được coi là tiêu chuẩn vàng nhưng lại là
phương pháp thăm khám xâm nhập, chảy máu và có
nguy cơ tai biến và không dễ thực hiện ở trẻ nhỏ [1].
Siêu âm tim là phương pháp thăm khám không xâm
nhập và thường được lựa chọn đầu tiên. Tuy nhiên,
phương pháp thăm khám này lại phụ thuộc vào cửa sổ
siêu âm, hạn chế đánh giá các mạch máu trong lồng
ngực. Chụp cộng hưởng từ (CHT) tim có ưu thế hơn
hẳn hai phương pháp thăm khám trên. Đây là phương
pháp chẩn đoán hình ảnh không gây chiếu xạ, có
trường khảo sát rộng, có khả năng tái tạo hình ảnh đa
bình diện và cho phép tái tạo hình ảnh không gian 3
chiều với thuốc đối quang từ. Do đó, nó cho phép đánh
giá các cấu trúc sâu trong lồng ngực như động mạch
phổi và các nhánh [3], [6]. Chúng tôi tiến hành nghiên
cứu này với mục tiêu: Áp dụng kĩ thuật CHT tim trong
chẩn đoán tứ chứng Fallot và so sánh kết quả siêu âm
tim với CHT tim.
ii. đối tƯỢng Và PhƯƠng PhÁP nghiÊn CỨU
Nghiên cứu tiến cứu với 32 BN từ 8 đến 53 tuổi -
đã được chụp CHT tim tại khoa Chẩn đoán hình ảnh –
Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 6/2008 đến tháng 8/2009.
Tất cả các BN đều được làm siêu âm tim trước khi tiến
hành CHT từ tim.
Chụp CHT tim với máy Magnetom Avanto 1.5 -
Tesla (Siemens-Đức), sử dụng coil toàn thân với 6 kênh
thu tín hiệu.
Chuẩn bị BN:-
+ Giải thích cho BN và người thân (nếu BN là trẻ
em) giúp tránh những lo lắng không cần thiết có thể ảnh
hưởng tới chất lượng hình ảnh. Gây ngủ cho trẻ nhỏ
(nếu cần thiết).
+ Loại bỏ các vật liệu kim loại: điện thoại di động,
đồng hồ, cặp tóc...
+ Mắc điện cực vào thành ngực trước của BN và
theo dõi tín hiệu điện tâm đồ, bắt đầu chụp nếu tín hiệu
điện tâm đồ tốt, ổn định.
Quy trình chụp CHT tim:-
+ Định vị nhiều mặt phẳng: 3 theo ba mặt phẳng
ngang (axial), đứng ngang (coronal) và đứng dọc
(sagital), 4 buồng, 2 buồng, trục ngắn, đường ra thất
phải và thất trái với chuỗi xung True FISH (T2W).
+ Đánh giá hình thái: chuỗi xung HASTE “black-
blood” (T1W) với độ dày lớp cắt 10mm theo mặt phẳng
ngang (axial) và đứng ngang (coronal) từ cung ĐMC
đến vòm hoành.
+ Chụp một chuỗi xung Cine 2 chiều true FISH: 4
buồng, 2 buồng, đường ra thất trái, đường ra thất phải.
+ Chụp nhiều chuỗi xung Cine 2 chiều true FISH
trục ngắn từ nền tới mỏm tim (toàn bộ thất trái) để đánh
giá chức năng thất trái.
+ Chụp chuỗi xung mạch máu true FISH Whole
heart 3D, tái tạo MIP để đánh giá vị trí xuất phát và
đường đi của động mạch vành.
+ Chụp chuỗi xung mạch máu 3 chiều có tiêm
thuốc đối quang từ Gadopentenate dimeglumine (Gd-
DTPA) (Magnevist, Schering, Berlin, Gemany) với liều
0,1mmol/kg cân nặng bơm tĩnh mạch với tốc độ 2 -3ml/
giây bằng bơm tiêm điện (Spectris, Medrad). Tiến hành
thu tín hiệu liên tục ngay khi có tăng tín hiệu của thuốc
đối quang từ bằng chuỗi xung Fast 3D GRE, lớp mỏng
0,6mm và tái tạo MIP và VRT, để đánh giá động học
của máu (thuốc đối quang từ) qua các buồng tim và các
mạch máu lớn (ĐMC và ĐMP).
iii. KẾt QUẢ
3.1. đặc điểm Bn
- 32 BN tứ chứng Fallot được chụp CHT tim, 14 nam
(43,8%), tuổi trung bình 19,94 ± 8,20 tuổi; (8 - 53 tuổi).
- Các triệu chứng lâm sàng chính: 32 BN (100%)
có tím từ nhẹ đến nặng, 17 BN (63,1%) có ngón tay dùi
trống, 27 BN (84,4%) có tiếng thổi tâm thu.
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 05 - 01 / 201226
nghiên CỨU KHoa HỌC
- Xét nghiệm công thức máu: số lượng hồng cầu
trung bình (T/l): 7,68 ± 2,12 (3,38 – 11,48), Hb (g/l):
195,68 ± 33,83 (102 – 241); Hct (%): 59,61 ± 10,68
(29,4 -72,6).
- 20 BN (62,5%) có tim hình hia trên XQ phổi
thẳng.
- 30 BN (93,75%) có trục phải và 16 BN (50%) có
dày thất phải trên điện tâm đồ.
3.2. Áp dụng kĩ thuật Cht tim trong chẩn đoán
tứ chứng Fallot
Thời gian chụp CHT tim trung bình 80,93 ± -
50,41 phút (43 - 248 phút).
28 (87,6%) BN chụp thành công chuỗi xung -
Whole-heart 3D, đánh giá động mạch vành.
28 (87,6%) BN chụp thành công chuỗi xung -
mạch máu.
3.3. So sánh kết quả siêu âm tim với Cht tim trong chấn đoán tứ chứng Fallot
Bảng 1. Tương quan đặc điểm giải phẫu Fallot 4 trên siêu âm tim với CHT tim
Siêu âm tim Cht tim r
X±Sd Max Min X±Sd Max Min
TLT (mm) 18,62 ± 4,11 11 25 18,05 ± 4,64 8 28 0,69
ĐMC lệch phải (%) 48,64 ± 4,68 30 50 52,75 ± 9,42 40 85 0,63
Dày thành trước TP (mm) 11,5 ± 3,62 8 18 12,99 ± 3,25 9 25 0,73
Bảng 2. Tương quan chức năng tâm thu TT trên siêu âm tim với CHT tim
Siêu âm tim Cht tim r
X±SD Max Min X±SD Max Min
EF TT 67,51 ± 8,94 49 85,1 59,34 ± 8,67 31,2 71,7 0,65
Bảng 3. Tương quan giữa kích thước thân ĐMP và hai nhánh chính trên siêu âm tim với CHT tim
Siêu âm tim Cht tim r
X±SD Max Min X±SD Max Min
Thân ĐMP 15,24 ± 4,36 9 25,2 15,4 ± 5,01 2 24 0,70
ĐMP phải 10,48 ± 3,14 4 16,5 11,65 ± 3,61 4 20 0,65
ĐMP trái 10,95 ± 4,59 5 27,4 13,57 ± 5,5 4 31 0,79
Bảng 4. So sánh vòng nối chủ phổi phát hiện được trên siêu âm tim với CHT tim: r = 0,45 (p < 0,05)
Cht tim tổng
Không Có
Siêu âm tim
Không 26 4 30
Có 0 2 2
tổng 26 6 32
CHT tim đánh giá có 6 BN Fallot 4 có vòng nối chủ phổi, siêu âm tim chỉ đánh giá có 2 BN có vòng nối chủ phổi.
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 05 - 01 / 2012 27
nghiên CỨU KHoa HỌC
CHT tim đánh giá có 10 BN (31%) có dị tật bấm
sinh phối hợp trong khi đó siêu âm chỉ đánh giá có 2
BN (6,2%). Các dị tật bẩm sinh phối hợp phát hiện trên
CHT tim: 3 BN (9,3%) có ĐMC quay phải, 2 BN (6,2%)
có van ĐMP hai lá; 1 BN (3,1%) có một ĐM vành phải; 1
BN (3,1%) còn ống ĐM; 1 BN (3,1%) có TMCT trái; 1 BN
(3,1%) có hở chủ và 1 BN (3,1%) có van ĐMC hai lá.
iV. Bàn LUận
Về mặt kĩ thuật chụp CHT, 32 BN (100%) thực
hiện thành công kĩ thuật chụp CHT tim. Trong đó 28
BN (87,6%) thực hiện thành công kĩ thuật Whole-heart
3D để đánh giá gốc xuất phát của ĐM vành. 4 BN
(12,4%) thất bại vì nhịp tim BN loạn nhịp. Thu nhận tín
hiệu trong chuỗi xung mạch vành Whole-heart 3D phụ
thuộc rất nhiều vào nhịp tim đều hay không, nhịp không
quá nhanh (không quá 100ck/ph) và nhịp thở đều ổn
định. CHT tim có ưu thế hơn siêu âm tim trong đánh
giá lỗ xuất phát của ĐM vành, đây cũng là một ưu điểm
quan trọng bởi vì trong trường hợp có bất thường xuất
phát của ĐM vành phải chạy trước ĐM phổi thì việc
phẫu thuật sửa chữa toàn bộ sẽ gặp khó khăn, việc biết
trước biến thể giải phẫu này giúp phẫu thuật viên có
thể định hướng trước đường đi cho cuộc phẫu thuật.
Với chuỗi xung chụp mạch máu, 4 BN (12,4%) không
tiến hành được vì BN không có điều kiện mua thuốc đối
quang từ chứ không phải do thất bại về mặt kĩ thuật.
Thời gian chụp CHT tim trung bình trong nghiên cứu là
80,93 ± 50,41phút (43-248 phút). Thời gian chụp CHT
tim trung bình tương đối dài do đây là kĩ thuật cao lần
đầu tiên ứng dụng tại khoa Chẩn đoán hình ảnh - Bệnh
viện Bạch Mai nên chúng tôi chưa có nhiều kinh nghiệm
trong những ca đầu tiên, nhiều nhất tới 248 phút. Tuy
nhiên, đây cũng là một trong những khó khăn hiện nay
của kĩ thuật chụp CHT tim. 100% BN đều hợp tác tốt
và không ghi nhận được bất thường về nhịp tim hay rối
loạn nhịp thở trong quá trình chụp CHT tim. Có thể thấy,
Hình 1. BN nam, 16 tuổi có hiều vòng nối chủ phổi phải và trái, đặc biệt có
một vòng nối chủ phổi lớn bên phải trên ảnh chụp CHT mạch máu có tiêm
thuốc đối quang từ tái tạo MIP trên mặt phẳng coronal (a) và sagital (b)
Bảng 5. So sánh các dị tật bẩm sinh phổi hợp phát hiện trên siêu âm tim với CHT tim r = 0,47 (p < 0,05)
Cht tim tổng
Không Có
Siêu âm tim
Không 21 9 30
Có 1 1 2
tổng 22 10 32
a b
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 05 - 01 / 201228
nghiên CỨU KHoa HỌC
mặc dù thời gian chụp CHT tim nhìn chung kéo dài trên
một giờ nhưng BN không gây ảnh hưởng đến nhịp tim
và hay nhịp thở của BN. Mặt khác, đa số BN tứ chứng
Fallot trong nhóm nghiên cứu là trẻ em và thanh niên,
chụp CHT tim không gây liều chiếu xạ tia X như các
phương pháp thăm khám khác, chẳng hạn chụp cắt lớp
vi tính đa dãy hay thông tim/chụp buồng tim.
CHT từ cho phép đánh giá một cách khách quan
và đầy đủ các đặc điểm giải phẫu của tứ chứng Fallot.
Chúng tôi xác định kích thước lỗ TLT và mức độ lệch
phải của ĐMC trên các lát ngang và đứng ngang
(coronal) theo trục của tim (song song với vách liên
thất). Kích thước lỗ TLT vị trí quanh màng trung bình
khá rộng là 18,05 ± 4,64 mm và ĐMC lệch phải 52,75
± 9,42%. Khi tiến hành so sánh kết quả siêu âm tim với
kết quả trên CHT tim cho thấy kích thước TLT và mức
độ lệch phải của ĐMC có sự tương quan khá chặt chẽ
với r = 0,69 và r = 0,63. Tương quan với độ dày thành
thất phải đo trên siêu âm tim chặt chẽ với r = 0,73 so
với CHT tim.
Hình 2. BN nữ, 19 tuổi, TLT phần quanh màng, ĐMC cưỡi ngựa 40%
trên vách liên thất và phì đại cơ thành TP
CHT tim được coi là tiêu chuẩn vàng để đánh giá
thể tích chức năng tâm thu thất trái. EF trung bình của
thất trái đo trên CHT tim là 59,34 ± 8,67%. Kết quả đo
trên siêu âm tim có tương quan chặt chẽ với kết quả
trung bình đo trên CHT tim với r = 0,75. Nguyên lý đo
chức năng tâm thu (EF) thất trái trên siêu âm và CHT
tim nhìn chung đều dựa trên phương pháp Simpson.
Tuy nhiên, siêu âm tim thường đánh giá trên hai bình
diện là 2 buồng và 4 buồng, mặc dù hiện nay cũng cho
phép đo trên 3 bình diện. CHT tim được xem như lựa
chọn hàng đầu để đánh giá chức năng tâm thu và thể
tích thất trái. Bởi vì nó có khả năng đo đạc trên 3 bình
diện, nhất là với các trường hợp buồng thất không cân
đối, đồng thời lại cho trường nhìn tốt hơn hẳn siêu âm
tim. Một ưu điểm nữa của CHT tim là cho phép đánh giá
chức năng tâm thu thất phải trước phẫu thuật với giá
trị trung bình trong nghiên cứu của chúng tôi là 60,23
± 11,32% (46 – 74,6%). Chức năng tâm thu thất phải
trung bình trong nhóm nghiên cứu trong giới hạn bình
thường. Như vậy, ngoài khả năng cho phép đánh giá
chi tiết hình thái giải phẫu thất phải, CHT tim cũng cung
cấp thông tin về chức năng tâm thu thất phải khá chính
xác. Đây cũng là một yếu tố giúp theo dõi và đánh giá
BN tứ chứng Fallot sau mổ sửa toàn bộ có hay không
có suy thất phải. Thậm chí ngay cả với siêu âm qua
thực quản, việc tiếp cận đánh giá chức năng tâm thu
thất phải cũng gặp nhiều khó khăn mà CHT tim không
gặp phải.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy ĐK
trung bình của thân ĐMP, ĐMP phải và ĐMP trái đo trên
CHT tim lần lượt là 15,4 ± 5,01mm; 11,65 ± 3,61mm;
13,57 ± 5,5mm. Kết quả của chúng tôi thấp hơn kết
quả của tác giả Kritvikrom Durongpisitkul [2] lần lượt là
20,2 ± 8,2 mm; 17,0 ± 7,1mm; 16,7 ± 6,9 mm. Thông
thường, với các chuỗi xung CHT tiêu chuẩn như Spin
Echo (SE) và Gradient Echo Cine có thể thu được hình
ảnh thân và hai nhánh ĐMP nhưng thời gian thu tín
hiệu lại kéo dài. Chụp CHT mạch máu 3 chiều có tiêm
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 05 - 01 / 2012 29
nghiên CỨU KHoa HỌC
Theo kết quả CHT tim, 6 BN (18,75%) có vòng nối
chủ phổi với số lượng trung bình là 4,57 ± 1,51. Theo
tác giả Kritvikrom Durongpisitkul [2] thì CHT tim có khả
năng phát hiện các vòng nối chủ phổi tốt hơn chụp
mạch máu, với hệ số tương quan khá thấp là 0,39. Bởi
vì CHT tim có trường thăm khám rộng hơn, cho phép
đánh giá tương quan các cấu trúc giải phẫu. Thậm chí
CHT mạch máu còn cho phép phát hiện các vòng nối
chủ phổi nhỏ tốt hơn là chụp mạch máu. Như vậy, CHT
tim có giá trị tương tự thậm chí tốt hơn chụp mạch máu
trong xác định các vòng nối chủ phổi. Trường thăm
khám của CHT tim rộng hơn nhiều so với siêu âm tim
giúp phát hiện tốt các vòng nối chủ phổi, đặc biệt là trên
chuỗi xung CHT mạch máu 3 chiều có tiêm thuốc đối
quang từ. Bởi vì chuỗi xung này cho phép thăm khám
trên cả 3 bình diện, đồng thời có thể tái tạo ảnh thể tích
3 chiều VRT, giúp bác sĩ lâm sàng có cái nhìn tổng thể
về các vòng nối, tiên lượng cuộc mổ và can thiệp nút
tắc các vòng nối qua đường nội mạch sau phẫu thuật.
Khi so sánh khả năng phát hiện các vòng nối chủ phổi
trên siêu âm tim so với CHT tim, chúng tôi thấy hệ số
tương quan chỉ là 0,45. CHT tim đánh giá 6 BN có vòng
nối chủ phổi, trong khi siêu âm tim chỉ đánh giá có 2 BN.
Khả năng phát hiện vòng nối chủ phổi trên siêu âm tim
có tương quan vừa song không chặt chẽ so với CHT
tim. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 10 BN ( 31,25%)
có 1 một dị tật phối hợp trên CHT tim. Tuy nhiên, tỉ lệ
gặp các dị tật bẩm sinh phối hợp trên CHT trong nhóm
nghiêu cứu còn thấp hơn tỉ lệ thường gặp trong y văn
là 25% [3], [7], có lẽ là do nhóm nghiên cứu của chúng
tôi còn ít. Khi so sánh khả năng phát hiện các dị tật bẩm
sinh phối hợp trên siêu âm tim với CHT, chúng tôi nhận
thấy có sự tương quan vừa với r = 0,47 (p < 0,05). CHT
cho cái nhìn tổng thể giải phẫu của tim và lồng ngực.
Đồng thời CHT tim là phương pháp thăm khám khách
quan, cho phép có thời gian phân tích kĩ hơn các hình
ảnh thu được.
V. KẾt LUận
- Kĩ thuật chụp CHT tim trong chẩn đoán tứ chứng
Fallot là phương pháp thăm khám không xâm nhập,
không chịu liều tia X, có khả năng ứng dụng rộng rãi
trong thực hành lâm sàng thay thế chụp buồng tim
trong chẩn đoán tứ chứng Fallot.
- CHT tim và siêu âm tim có tương quan chặt chẽ
(r =0,63 đến r =0,79) trong đánh giá các kích thước
trong Fallot 4: lỗ TLT, mức độ lệch phải của ĐMC,
chức năng tâm thu thất trái, kích thước ĐM phổi. CHT
có ưu thế hơn siêu âm tim trong phát hiện các vòng
nối chủ phải, các dị tật bẩm sinh phối hợp, đánh giá
được thêm chức năng tâm thu thất phải, đánh giá lỗ
xuất phát và vị trí của động mạch vành. Điều này có
ý nghĩa trong việc đề ra chiến lược điều trị tối ưu cho
BN tứ chứng Fallot.
thuốc đối quang từ hay CHT mạch máu lại là một kĩ
thuật nhanh cho phép đánh giá chính xác các nhánh
mạch lớn. Theo tác giả Kritvikrom Durongpisitkul [2] thì
kích thước thân và 2 nhánh ĐMP đo trên CHT mạch
máu có tương quan chặt chẽ (r = 0,76 – 0,84) với tiêu
chuẩn vàng là chụp mạch phổi.
hình 3. BN nữ , 17 tuổi; Chuỗi xung chụp mạch máu động học thấy thuốc đối quang từ trong hai buồng thất và
các mạch máu lớn theo thời gian thực, tương tự chụp buồng tim; thân và nhánh trái ĐMP, nhánh phải nhỏ, tưới
máu kém hơn bên trái. ĐMC quay phải. Hẹp đường ra thất phải (mũi tên).
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 05 - 01 / 201230
nghiên CỨU KHoa HỌC
J.Bogaert et al (2005), “Clinical Cardiac MRI”.1.
Kritvikrom Durongpisitkul et al (2008), “Pre-2.
Operative Evaluation with Magnetic Resonance
Imaging in Tetralogy of Fallot and pulmonary Atresia
with Ventricular Septal Defect”, J Med Assoc Thai Vol.
91 No. 3 2008.
M. Ines Boechat et al (2005), “Cardiac MR 3.
Imaging and MR Angiography for Assessment of
Complex Tetralogy of Fallot and Pulmonary Atresia”,
Radiographics, 25:1535-1546.
Mark Spektor et al. “Tetralogy of Fallot”. 4.
eMedicine/ cardiovascular.
Philippe F (1994), Tétralogie de Fallot. In: 5.
Cardiologie. ELLIPSES/ AUPELF, pp. 416-420.
Sueblingvong V (1990). “Limitations in 2D color 6.
Doppler echocardiography in the diagnosis of congenital
heart disease”. J Med Assoc Thai 73 (3): 157-161.
Van Ardell G, Maharaj G et al (2000), “What 7.
is the optimal age of tetralogy of Fallot?”, Circulation,
102(19), pp.123-129.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
TÓM TẮT
Mục tiêu: Áp dụng CHT tim trong chẩn đoán tứ chứng Fallot và so sánh kết quả siêu âm tim với CHT tim.
Phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu với 32 BN trong thời gian từ tháng 6 năm 2008 đến tháng 8 năm 2009. Tất
cả các BN đều được làm siêu âm tim và chụp CHT tim để đánh giá các thông số: phân số tống máu (EF), đường ra
thất phải, ĐMP, ĐMP phải và trái, các vòng nối chủ phổiSo sánh tương quan giữa các thông số trên CHT tim và
siêu âm tim, sử dụng test Pearson.
Kết quả: 32 BN (14 nam) với tuổi trung bình 19,94 ± 8,20 (8-53). 100% BN chụp CHT thành công với thời
gian chụp trung bình: 80,93 ± 50,41 phút. Có tương quan tương đối chặt chẽ giữa các thông số trên siêu âm tim
với CHT tim, với hệ số tương quan Kappa r = 0,63 – 0,70 (p < 0,05). CHT tim phát hiện các vòng nối chủ phổi và
các bất thường phối hợp tốt hơn siêu âm tim.
Kết luận: Nghiên cứu cho thấy hiệu quả của chụp CHT tim đánh giá BN tứ chứng Fallot trước phẫu thuật. CHT
tim có ưu thế hơn siêu âm tim phát hiện các vòng nối chủ phổi và các bất thường bẩm sinh phối hợp
Từ khoá: Tứ chứng Fallot, CHT tim, siêu âm tim.
NGƯỜI THẨM ĐỊNH: PGS. Vũ Long
Các file đính kèm theo tài liệu này:
buoc_dau_danh_gia_vai_tro_cua_cong_huong_tu_tim_trong_chan_d.pdf