Các lựa chọn và cơ hội: Các con đường mở ra trước Việt Nam

Ý kiến phản đối thứ ba thật sự liên quan nhiều đến khía cạnh chính trị và văn hóa hơn là kinh tế, nhưng cũng không kém phần quan trọng. Nếu khu vực tư nhân được tự do và chính phủ mất kiểm soát các dòng lưu chuyển thông tin thì sẽ không thể hành động như lúc trước nữa. Những mối quan tâm về kinh tế nội địa, cạnh tranh một phần với các doanh nghiệp nhà nước sẽ gia tăng. Sinh viên và những người lao động Ý kiến phản đối thứ ba thật sự liên quan nhiều đến khía cạnh chính trị và văn hóa hơn là kinh tế, nhưng cũng không kém phần quan trọng. Nếu khu vực tư nhân được tự do và chính phủ mất kiểm soát các dòng lưu chuyển thông tin thì sẽ không thể hành động như lúc trước nữa. Những mối quan tâm về kinh tế nội địa, cạnh tranh một phần với các doanh nghiệp nhà nước sẽ gia tăng. Sinh viên và những người lao động

pdf37 trang | Chia sẻ: hachi492 | Ngày: 15/01/2022 | Lượt xem: 18 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Các lựa chọn và cơ hội: Các con đường mở ra trước Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
tương đương con số chính thức, nhưng nhập khẩu ở mức cao hơn nhiều. Trong giai đoạn 1995-1997, thâm hụt thương mại cao gấp đôi con số chính thức, nghĩa là DOT ước tính nhập khẩu của Việût Nam cao hơn con số chính thức đến 2 tỉ đô la. Con số này tương đương 7%-8% GDP, và nếu trừ con số này ra khỏi tiết kiệm nội địa thì tiết kiệm nội địa chỉ còn 17% GDP. Như vậy mức tiết kiệm nội địa của Việût Nam thực sự là không rõ. Điều này không quan trọng lắm nếu dòng vốn từ nước ngoài vẫn tiếp tục chảy vào, nhưng sẽ có vấn đề nếu dòng này chậm lại. Nếu thấy có ít đi các cơ hội đầu tư có lãi, ngay cả dòng vốn của người Việût Nam ở nước ngoài cũng sẽ giảm, và đương nhiên cả tín dụng thương mại cũng có thể giảm. Phân tích này nhấn mạnh nhu cầu phải mở cửa nền kinh tế cho các đầu tư hiệu quả, tạo điều kiện cho đầu tư thu được lợi nhuận hợp lý. 15 DOT là một báo cáo hàng năm do IMF phát hành, sử dụng số liệu xuất nhập khẩu của các nước khác nhau để phối kiểm số liệu thương mại chính thức của bất cứ một nước đơn lẻ nào. Ví dụ như xuất khẩu của Thái Lan sang Việt Nam (cộng thêm cước vận chuyển) phải bằng với số nhập khẩu của Việt Nam từ Thái Lan. Nếu kiểm tất cả các nước thì con số xuất khẩu của Việt Nam tương đương số chính thức, nhưng con số nhập khẩu của Việt Nam thấp hơn so với trong DOT. Fulbright Economics Teaching Program Economics Executive Education Program Choices and Opportunities 2001-2002 David Dapice 18 Thỏa thuận thương mại Việt-Mỹ tốt ở những điểm nào? Mỹ là một thị trường khổng lồ, hàng năm nhập khẩu hơn Việût Nam 100 lần. Thuế nhập khẩu hầu hết các mặt hàng thường rất thấp đối với các nước có quan hệ thương mại bình thường, và hầu hết các nước có quan hệ này. Tuy nhiên Việût Nam vẫn chưa có, do vậy hàng chế biến của Việût Nam xuất khẩu sang Mỹ phải chịu thuế rất cao (40% hay cao hơn nữa) so với mức thuế dưới 4% cho các nước khác. Không ngạc nhiên khi thấy Việût Nam hầu như không xuất được hàng chế biến sang Mỹ. Nếu thỏa thuận thương mại (BTA) ký mới đây được Quốc hội hai nước thông qua, rất có thể sẽ thấy hàng chế biến của Việût Nam xuất sang Mỹ tăng vọt. Một nghiên cứu mới đây của Ngân hàng Thế giới ước tính mức tăng ban đầu sẽ khoảng 800 triệu đô la,16 nhưng sẽ dễ dàng tăng một cách đáng kể trong các kỳ tiếp theo. Bài viết này đề cập hai điểm khác trong thỏa thuận thương mại. Thứ nhất là các yếu tố góp phần vào tác động tổng thể lên thương mại và đầu tư. Thứ hai là tầm quan trọng của các nhượng bộ của Việût Nam trong viễn thông, ngân hàng, và các dịch vụ khác. Với vấn đề thứ nhất, BTA tốt nhất được hiểu là điều kiện cần nhưng không phải điều kiện đủ để tăng xuất khẩu và tăng đầu tư. BTA cho phép Việût Nam thu hút thêm FDI, nhưng không bảo đảm điều này. Các cải thiện về thông tin minh bạch, luật lệ, giá tính cho cơ sở hạ tầng v.v...cũng sẽ ảnh hưởng đến các nhà đầu tư nước ngoài. Sẽ không ngạc nhiên khi thấy FDI tăng trong năm 2001 sau khi BTA được phê chuẩn, nhưng bước nhảy vọt sẽ không bền vững được nếu các kinh nghiệm không tốt lại tái diễn. Về nhiều phương diện, Việût Nam hiện được coi là một trong những nơi đầu tư khó khăn trong châu Á. Mức đăng ký FDI thấp các năm 1999-2000 là một kiểm chứng. Trong khi dòng FDI ở Trung Quốc, Hàn Quốc, và Thái Lan ổn định hay tăng lên nhanh chóng kể từ 1996, ở Việût Nam lại giảm 80%-90%. Nếu Việût Nam có thể cải thiện uy tín của mình, đất nước có thể thu hút đầu tư với số lượng và chất lượng cao hơn rất nhiều. Điều này cũng hỗ trợ mạnh mẽ cho xuất khẩu và tạo việc làm. Một ghi nhận quan trọng là trong khi toàn bộ hàng chế biến xuất khẩu của Việût Nam trong năm 1999 là 4 tỉ đô la, chỉ riêng mức tăng thêm hàng năm của chế biến xuất khẩu của Philippines cũng đã là 4 tỉ đô la! So sánh này cho thấy điều gì có thể xảy ra một khi một ngành năng động như điện tử quyết định tập trung vào một quốc gia. Điều thiết yếu là trong một tập hợp chính sách, các chính sách hỗ trợ lẫn nhau. Tác dụng là cấp số nhân, không phải cấp số cộng. Câu chuyện trên đưa chúng ta đến vấn đề thứ hai. Việc nhượng bộ trên nhiều ngành trong khuôn khổ BTA có ảnh hưởng đến Việût Nam như thế nào, đặc biệt là thông tin viễn thông và ngân hàng? Câu hỏi có thể mang nghĩa "Việût Nam bị thiệt hại gì?" Một cách nghĩ là "Nếu Mỹ đòi hỏi điều gì, điều đó chắc là có hại cho Việût Nam. Vấn đề chỉ là có hại đến mức nào." Câu hỏi thích hợp hơn có thể là "Việût Nam nên cải tổ ngành viễn thông và ngân hàng nhanh như thế nào?" Nghĩa là nếu như không phải quan tâm đến Mỹ, tốc độ cải tổ như thế nào là tốt nhất cho Việût Nam? Rõ ràng là cổ phần hóa đã diễn ra rất chậm do doanh nghiệp nhà nước và các cấp địa phương không sẵn lòng. Chừng nào các ngân hàng quốc doanh còn thật sự độc quyền và còn phải cho vay phần lớn vào các doanh nghiệp yếu kém hoặc thậm chí đang chết, triển vọng tạo được 1.4 triệu việc làm mỗi năm (phần lớn do khu vực tư nhân) vẫn còn 16 Theo bài "Tác động của việc Mỹ mở cho Việt Nam chế độ tối huệ quốc" của tác giả Fukase và Martin, tháng 11/1999 (World Bank Policy Research Working Paper) Fulbright Economics Teaching Program Economics Executive Education Program Choices and Opportunities 2001-2002 David Dapice 19 mờ nhạt. Trong trường hợp nào Việût Nam bị đe doạ nhiều hơn: khi hàng triệu người không có việc làm hay khi cải tổ doanh nghiệp nhà nước được thực hiện đúng lịch trình? Một hệ thống ngân hàng thực sự theo nghĩa thương mại sẽ cho vay vào các doanh nghiệp nhà nước mạnh, cũng như vào các doanh nghiệp tư nhân mạnh. Cách duy nhất để các doanh nghiệp nhà nước có được khả năng cạnh tranh là để họ phải cạnh tranh. Một lịch trình thực hiện từ ba đến chín năm không phải là nhanh mà là chậm hơn mức tối ưu, nếu mục đích Việût Nam muốn đạt là tăng trưởng và giảm nghèo. Điều này càng đúng hơn đối với khu vực viễn thông. Mức cước điện thoại quốc tế và thuê bao Internet thuộc hàng cao nhất thế giới, cao gấp nhiều lần Trung Quốc. Đã có viện trợ nước ngoài để đến 2003 kết nối các quận huyện cả nước, nên không có lý do gì để đẩy giá lên như vậy, ngoại trừ một thực trạng là công ty điện thoại có tỉ lệ công nhân trên mỗi điện thoại cao gấp sáu lần ở Indonesia! Nếu điện thoại và Internet đang và sẽ trở nên quan trọng tương đương với điện, liệu có nên giữ một chương trình tạo việc làm trong một cơ sở hạ tầng thiết yếu và từ đó tính giá quá cao? Nếu mục tiêu cần coi trọng là thu hút FDI, hỗ trợ các doanh nghiệp tư nhân và nhà nước một cách hiệu quả, cần phải cắt giảm giá cước nhanh chóng và mạnh mẽ. Hoặc cần phải nhanh chóng áp dụng cạnh tranh để thúc đẩy giá hợp lý hơn và hoạt động hiệu quả hơn. Một chính phủ có tầm nhìn và quyết tâm không cần ba đến năm năm để thực hiện việc này. Có thể chỉ là hai hay ba năm. Nếu Việût Nam không bắt đầu phản xạ theo thời gian biểu của thị trường thay vì thời gian biểu ngoại giao, đất nước sẽ tự mình đứng ra ngoài cuộc cạnh tranh giành FDI và xuất khẩu. Tóm lại, BTA là một bước tiến tốt, sẽ trở thành đầy triển vọng nếu không quan tâm đến thời gian biểu trong đó và tiến hành cải tổ nhanh hơn, toàn diện hơn. Nếu bản thỏa thuận khởi đầu một vòng cải tổ mới thì có thể mang lại thêm nhiều tỉ đô la đầu tư và xuất khẩu trong vòng 5 năm tới. Nếu không có hoặc chỉ có vài bước tiếp theo được thực hiện, bản thỏa thuận có thể trở nên đáng thất vọng, với kết quả của các hoạt động thấp hơn khá xa so với kỳ vọng. Nếu nhiều bước hay toàn bộ các bước được thực hiện, có thể sẽ tăng thêm xuất khẩu sang các nước khác cũng như sang Mỹ, với nhiều mặt hàng chứ không chỉ là may mặc và giầy da. Đạt được một qui mô lớn về FDI và sản xuất là rất cần thiết cho thành công thực sự, và thỏa thuận thương mại với các bước tiếp theo sẽ cho phép Việt Nam cuối cùng đạt được qui mô lớn này.17 Tóm tắt tình huống 2 Trong tình huống này, các lợi ích tiềm tàng của việc tăng nhanh FDI, xuất khẩu, và khu vực tư nhân sẽ dẫn đến các chính sách như: 1. Khẩn trương hơn trong xây dựng hệ thống ngân hàng thương mại và thị trường vốn. 2. Giảm bớt các đầu tư có động lực chính trị nhưng có hiệu quả kinh tế thấp. 3. Có các chuyển biến cụ thể (đất đai, tiếp thị) để thúc đẩy khu vực tư nhân phát triển nhanh hơn. 17 Bài nghiên cứu số 1733 tháng 2/1997 của Ngân hàng Thế giới (tác giả Kinishita và Mody) lập luận là FDI có xu hướng đổ vào dồn dập khi thấy các nhà đầu tư hàng đầu tiến vào một nước. Điều này dẫn đến một dòng FDI lớn và đa dạng. Fulbright Economics Teaching Program Economics Executive Education Program Choices and Opportunities 2001-2002 David Dapice 20 4. Viễn thông và dịch vụ Internet tiến nhanh hơn để đạt chuẩn ngang với ASEAN. 5. Thông tin minh bạch hơn, quy chế thuận lợi hơn để thu hút FDI với số lượng và chất lượng cao hơn. 6. Nỗ lực dần dần nhưng chắc chắn để cải tổ hay cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và giảm bảo hộ. Những cải thiện chính sách này là thể hiện của cải tổ có hiệu quả với một tốc độ nhanh hơn so với 5 năm qua, với giả định có một nhận thức rõ ràng hơn về nền kinh tế thế giới đang thay đổi, về các con đường hiệu quả để tiến cùng thế giới. Các chính sách nêu trên sẽ có ảnh hưởng rất khác so với tình huống 1. Cụ thể là các kết quả có thể như sau: 1. Tăng trưởng nhanh hơn (7% mỗi năm) với cùng tỉ lệ đầu tư như tình huống 1. 2. Tri thức và công nghệ phổ biến nhanh hơn ở Việt Nam. 3. Hệ thống vốn và ngân hàng lành mạnh hơn, làm giảm bớt gánh nặng trong tương lai. 4. Doanh nghiệp tư nhân trong nước và FDI cùng tăng nhanh, cả về sản lượng và việc làm. 5. Tăng cường khả năng tiếp nhận một cách hiệu quả lao động từ nông thôn. 6. Nợ nước ngoài ít hơn, khả năng trả nợ cao hơn. Cơ sở hạ tầng loại nào giúp vùng nghèo tốt hơn? Ở Việt Nam cũng như ở hầu hết các nước khác, có một động lực thúc đẩy việc dàn trải lợi ích của đầu tư công trên các địa phương, ngay cả khi hiệu quả kinh tế ở một số vùng cao hơn các vùng khác. Tuy nhiên, Việt Nam khác thường ở điểm một khi đã quyết định giúp đỡ một tỉnh hay một vùng, khó khăn thường gặp phải là lựa chọn một dự án đầu tư công có hiệu quả về mặt kinh tế, hay một dự án có tác dụng giảm nghèo mạnh mẽ. Một cảng đắt tiền không được sử dụng nhiều sẽ chẳng giúp được một tỉnh nghèo. Một khu công nghiệp hóa dầu cũng có thể không "lôi kéo" được nhiều hoạt động kèm theo. Đã có nhiều ví dụ ở Indonesia về các công trình LPG hay hóa dầu ở các tỉnh nghèo hầu như không có liên kết, và nghèo đói nghiêm trọng ở ngay vài km cách dự án đầu tư khổng lồ. Ngay cả đập thủy điện Hoà Bình, một trong những dự án lớn nhất Việt Nam, nhiều người phải chuyển khỏi vùng ngập đến nay vẫn nghèo. Quanh khu vực đó vẫn không có nhiều nhà máy hay hoạt động gì khác, mặc dù có đường nối về Hà Nội khá tốt. Liệu có cách giải quyết? Vấn đề là bản phân tích kinh tế khách quan không thiên vị của dự án hiếm khi có giá trị quyết định. Dường như tỉnh nào cũng có thể có ít nhất vài dự án có suất lợi nhuận trên 10%. Nếu một dự án được đề xuất với lợi nhuận 2% hay 3% - mặc dù đó là ngang bằng với lãi suất của vốn vay ODA - cũng không nên đầu tư vào một suất lợi nhuận thấp như vậy. Những dự án thông thường có suất lợi nhuận cao lại hay bị bỏ qua, ví dụ như một số dự án chọn lọüc về đường giao thông hay điện cho nông thôn, tín dụng cho cây ăn trái hay cây lâu năm (ở một số vùng), các cảng sông qui mô nhỏ, hay nâng cấp cải tạo phà. Có thể phải gộp nhiều dự án nhỏ mới tương đương một dự án lớn, và thông thường thuyết phục chính phủ một dự án lớn vẫn dễ Fulbright Economics Teaching Program Economics Executive Education Program Choices and Opportunities 2001-2002 David Dapice 21 dàng hơn. Sự cẩn trọng hơn của các nhà tài trợ trong thẩm định sẽ có phần giúp ích, nhưng trên cùng vẫn là chính phủ Việt Nam phải tự chủ được. Nhiều dự án đề xuất xét về một số mặt là ý tưởng tốt, nhưng nên được lùi tiến độ lại. Ví dụ con đường cao tốc Bắc-Nam có thể có một số đoạn lui tiến độ lại chờ đến khi cải thiện hay tăng thêm các đường ngang Đông-Tây nối vào quốc lộ 1. Khi các vùng bên trong phát triển, xây đường nối các vùng này lại với nhau sẽ hợp lý hơn. Việc lùi tiến độ một số đoạn trên đường cao tốc Bắc-Nam có thể là một dấu hiệu tốt, tuy vẫn cần phải có thêm nhiều phân tích như vậy. Gần đây đã có một xu hướng phi tập trung hóa quyết định đầu tư. Các khu vực có thể đề xuất các dự án được tài trợ bằng vay theo lãi suất thương mại, mặc dù các dự án xóa nghèo đặc biệt vẫn nhận được một số trợ giúp. Điều này loại bỏ được sức ép hoặc phải chọn một dự án hoặc chịu để vốn đi tỉnh khác, ít nhất là theo quan điểm cấp tỉnh. Sự cạnh tranh giữa các dự án đường, điện, nông nghiệp... bảo đảm cho một số dự án khả thi được xem xét. Ở một số tỉnh, một phần của những nguồn vốn trên có thể được dùng để giúp đỡ các vùng bị thiên tai. Những thay đổi về bản chất này có thể giúp đầu tư công trở nên hiệu quả hơn và giảm nghèo đói tốt hơn. Tình huống 3: Một quyết định nhảy vọt? Lẽ tự nhiên mọi người thường thích tăng trưởng nhanh, nếu các yếu tố khác không thay đổi. Nhưng trong các trường hợp đó các yếu tố khác thường không giữ nguyên. Tình huống thứ ba sẽ nêu rõ các chính sách để tạo được tăng trưởng nhanh nhưng cũng tạo nên một số loại căng thẳng, để cân nhắc có nên chấp nhận tăng trưởng không. Có khả năng “mất kiểm soát” theo nghĩa là một khi đã đưa ra các thay đổi nhanh chóng và mạnh mẽ, sẽ khó mà chuyển hướng ngược trở lại. Cũng có một khó khăn khác theo như Đặng Tiểu Bình phát biểu, "khi mở cửa sổ thì ruồi bay vào." Đi cùng với quyết định mở cửa thông tin, sẽ khó tránh khỏi ở một mức độ nào đó các ý tưởng không mong muốn hay những “ô nhiễm văn hóa”. Những thông tin này chẳng phải nhằm để mất ổn định Việt Nam, ngoại trừ một vài trường hợp quá khích nhưng không quan trọng. Những thông tin này chỉ là phản ánh nền văn hóa ở nơi xuất xứ thông tin. Các xã hội này có lịch sử, niềm tin, và giả định khác với nhiều người Việt Nam. Những quan điểm này, cùng với sự tăng trưởng nhanh của khu vực phi quốc doanh, sẽ tạo ra một hiện thực mới và có thể không được hoan nghênh. Phần phân tích này nêu ra các chính sách và kết quả, nhưng không tự tin là tình huống này sẽ được ưa chuộng hơn các tình huống khác. Đây là việc dành cho phán quyết chính trị và văn hóa. Nói thật công bằng, các nhà lãnh đạo Việt Nam cảm nhận được các nguy hiểm khi đi quá nhanh, ví dụ như cho phép Internet phát triển quá nhanh mà không kiểm soát. Tuy nhiên, cũng có thể đúng là các nhà lãnh đạo chưa cảm nhận được thế giới Fulbright Economics Teaching Program Economics Executive Education Program Choices and Opportunities 2001-2002 David Dapice 22 đang đổi thay nhanh chóng như thế nào và giá phải trả là bao nhiêu cho việc không thúc đẩy tiến nhanh hơn. Việc sử dụng Internet như một công cụ kinh doanh đang phát triển cực kỳ nhanh chóng. Một quốc gia không tận dụng được lợi thế của việc tiếp cận thông tin liên lạc sẽ cản trở kinh doanh một cách căn bản. Nếu kinh doanh không tiến triển, tăng trưởng việc làm sẽ chỉ ở chất lượng thấp, và sự mất ổn định không ai mong muốn sẽ trở thành một mối đe doạ. Lấy ví dụ từ số liệu, một dạng thuận tiện của Internet là World Wide Web chỉ mất 4 năm để đạt được 50 triệu người dùng. (Hiện nay có trên 330 triệu người dùng mạng này.) Để đạt được con số 50 triệu như vậy, điện thoại phải mất 74 năm, radio mất 38 năm, TV mất 13 năm. Do giá thành máy tính và thông tin liên lạc giảm, có thể số người sử dụng sẽ lên tới trên một tỉ trong vòng vài năm tới. Bỏ qua một công nghệ như vậy, hoặc chấp nhận một cách miễn cưỡng và nghi ngờ, sẽ tạo nên một giá phải trả rất cao trong kinh doanh. Cần phải so sánh giá này với các vấn đề thực sự có thể xảy ra khi mở cửa nhanh chóng. Xét một lập luận ngược lại là tất cả những điều này chỉ nhằm để làm yếu chủ nghĩa xã hội. Nếu Internet và thông tin liên lạc nói chung mang một ý đồ như vậy, tại sao Trung Quốc lại quá hăng hái thúc đẩy người dân của họ lên mạng? Tại sao đến cuối năm 2000 sẽ có 20 triệu người Trung Quốc sử dụng mạng, trong khi ở Việt Nam con số này có lẽ là 100 nghìn? Nếu tính theo tỉ lệ dân số thì sử dụng Internet ở Việt Nam chưa bằng một phần mười Trung Quốc. Có phải người Trung Quốc quá ngây thơ? Có phải họ không phát hiện ra âm mưu? Hay là họ nhanh nhậy hơn, nhận thức được giá phải trả cho sự tụt hậu quá lớn so với lợi ích của việc cố gắng đóng cửa sổ? Điều này không có nghĩa là Trung Quốc từ bỏ các nỗ lực hạn chế nội dung, nhưng họ nhận thấy một số người sẽ tìm cách đi vòng qua bức tường lửa (firewall - một phương pháp điện tử để kiểm soát nội dung), và họ nhận thấy là tốt hơn vẫn nên tiến tới. Tất nhiên thế giới lớn hơn Internet, mặc dù Internet là một trong những biểu tượng của thế kỷ mới, của những khả năng hết sức to lớn cũng như những rắc rối tiềm tàng. Nếu thông tin được phép vào nhanh hơn và rẻ hơn, sức mạnh của thông tin được phân tán rộng. Có nhiều ý nghĩa ở đây. Thứ nhất là khu vực tư nhân sẽ tăng trưởng nhanh hơn, tạo việc làm nhiều hơn và tốt hơn. Tất nhiên điều này không thể xảy ra nếu các chính sách khác không thuận lợi, nhưng sẽ vô nghĩa nếu cho mọi người tiếp cận thông tin để thấy cơ hội thị trường, nhưng không cho các phương tiện để nắm bắt lợi thế thị trường. Nếu khu vực tư nhân tăng trưởng nhanh hơn, thì khu vực nhà nước sẽ có một vai trò tương đối nhỏ hơn trong nền kinh tế - ngay cả khi khu vực này tăng trưởng nhanh hơn về giá trị tuyệt đối so với tình huống 2! Có nghĩa là, vì tình huống 3 có một tỉ lệ tăng trưởng nhanh hơn nhiều, có khả năng những khu vực được coi là doanh nghiệp nhà nước sẽ có thị trường lớn hơn và có thể phát triển nhanh hơn. Nhưng, dù vậy khu vực tư nhân vẫn sẽ tăng trưởng nhanh hơn, làm cho vai trò tương đối của doanh nghiệp nhà nước sẽ nhỏ lại. Đây vẫn còn là một quyết định mang tính chính trị liệu tỉ lệ tăng trưởng nhanh hơn và nhiều việc làm hơn có phải là những phần Fulbright Economics Teaching Program Economics Executive Education Program Choices and Opportunities 2001-2002 David Dapice 23 thưởng đủ để bù đắp vai trò nhỏ đi của doanh nghiệp nhà nước không. Những chính sách nào đánh dấu tình huống 3? Cần phải có một quyết định rõ ràng, đó là khu vực tư nhân không phải là một sự thiết yếu đáng tiếc, mà là một cột trụ chính của sức mạnh quốc gia. Cần thực hiện những bước đi để đẩy nhanh sự xuất hiện một hệ thống ngân hàng và thị trường vốn dựa trên pháp luật và mang tính thương mại thuần túy. Những thay đổi về chất lượng cũng như chi phí Internet và viễn thông sẽ hướng Việt Nam từ một trong những nước nối mạng thấp nhất thành một trong những nước nối mạng nhiều hơn trong khu vực, có cân nhắc đến thu nhập theo đầu người.18 Việc nới lỏng nhiều hơn nữa các qui định sẽ khuyến khích dòng FDI. Thuế suất thu nhập phải được xác định nhằm tối đa hóa số thu thuế theo thời gian, mà không phải cố gắng bình đẳng hóa thu nhập hay truy phạt hoặc loại bỏ những người thành công (điều này có nghĩa là thuế suất biên cao nhất chỉ từ 25% đến 30%). Chính phủ cần phải có nỗ lực nhằm đáp ứng kịp thời những yêu cầu chính đáng của các hiệp hội doanh nghiệp, hơn là chỉ đáp ứng cho một vài công ty. Cần chuyển trọng tâm chính sách từ việc làm chậm hoặc ngăn cản những thay đổi sang việc tạo cơ hội cho thay đổi, bằng cách giúp huấn luyện hoặc cấp lương hưu cho những công nhân bị mất việc, hỗ trợ công nhân chuyển sang các ngành tăng trưởng, và tăng tốc việc tái sử dụng vốn và lao động thông qua luật phá sản và luật ngân hàng rõ ràng hơn. Đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ đạt mức cao hơn và sẽ dàn trải rộng hơn so với những tình huống khác, nhưng vẫn có khuynh hướng định vị ở những khu vực tăng trưởng chính hiện nay hoặc những nơi lân cận. Điều này có nghĩa là hoặc phải hỗ trợ sự chuyển dịch lao động, hoặc chênh lệch thu nhập sẽ tăng hơn hiện nay. Việc phát triển luật đất đai rõ ràng đối với nhà chung cư, thị trường nhà trả góp, và cơ sở hạ tầng đô thị, tất cả đều sẽ cần thiết. Nếu các công ty điện, nước, và điện thoại được quản lý tốt và tính cước phí đủ bù đắp chi phí, những công ty này có thể phát hành trái phiếu ở thị trường nội địa nhằm giúp cung cấp vốn cho việc mở rộng của mình. Chúng ta không thể tiên đoán một cách chính xác tăng trưởng GDP thực, nhưng tỉ lệ khoảng 10% là hợp lý cho giai đoạn này. Đây là mức tăng trưởng mà Trung Quốc, Đài Loan, và Hàn Quốc đã xoay xở trong những thời kỳ năm năm tăng trưởng nhanh chóng từ các mức thu nhập bình quân đầu người thấp. Thường thì các tỉ lệ đầu tư vượt quá 30% GDP, và đối với Việt Nam tỉ lệ đầu tư sẽ có khả năng tăng đến 35%- 40%. Một số này sẽ đến từ đầu tư trực tiếp nước ngoài truyền thống, nhưng phần lớn lại đến từ những công ty có lợi nhuận và đang tăng trưởng tái đầu tư lợi nhuận vào công ty mình (điều này giả định rằng việc cổ phần hóa khuyến khích các công ty làm 18 Việt Nam đã đạt được kết quả khá tốt khi tăng số lượng điện thoại của mình, nhưng cước phí lại quá cao khiến cho việc sử dụng điện thoại để liên lạc với nước ngoài rất hạn chế. Ví dụ, thời gian cuộc gọi ra ngoài trên một đường dây chỉ bằng một phần ba Philippines. Chất lượng mạng internet thấp và tổng chi phí so với hiệu quả là quá cao so với khu vực. Fulbright Economics Teaching Program Economics Executive Education Program Choices and Opportunities 2001-2002 David Dapice 24 ăn hiệu quả và những doanh nghiệp nhà nước dư thừa nhân công sẽ được trợ giúp để giảm số nhân công này). Một phần đầu tư khác sẽ có khi nhân dân quyết định gửi vàng và đô la của mình vào ngân hàng, khi cảm thấy an toàn và có khả năng sinh lợi tốt - mà không động chạm đến cơ quan thu thuế! Trong tình huống như vậy, còn có khả năng bán trái phiếu cho Việt kiều và tạo ra một loại dòng vốn đầu tư gián tiếp đặc biệt. Chắc chắn, khi càng có nhiều công ty có hệ thống kế toán tốt và có lợi nhuận thực sự được niêm yết trên thị trường chứng khoán, thì càng nhiều ngoại tệ được thu hút thông qua thị trường chứng khoán. Tiền luôn tìm đến cơ hội, và sẽ có nhiều cơ hội hơn trong tình huống 3. Tỉ lệ tăng trưởng xấp xỉ 10% cũng giúp cho doanh thu thuế tăng nhanh hơn. Một phần thuế sẽ là cần thiết để hỗ trợ quản lý các vấn đề do tăng trưởng đô thị gây ra, nhưng đa phần thuế cần được sử dụng để cải thiện tốt hơn trường học, đường sá, điện, và tín dụng nông thôn ở các vùng nghèo và xa. Cần nhớ rằng một người dân trung bình ở vùng nghèo khó chỉ có 40% lượng tiêu dùng của một người ở vùng giàu có. Nếu đầu tư được hướng vào giáo dục, y tế, giao thông và thông tin liên lạc, thì rất có khả năng đa số những người ở các vùng nghèo hơn sẽ tìm được cách để sản xuất nhiều hơn, cuộc sống sẽ được cải thiện rất nhiều. Một lần nữa, ở các nước đã đầu tư mạnh mẽ vào con người và đã tăng trưởng nhanh chóng, nạn nghèo khó ở những nước này có khuynh hướng sụt giảm rất nhanh. Những hoạt động đầu tư này cũng giúp cải thiện vai trò của phụ nữ (đã tương đối tốt ở hầu hết các vùng) và làm giảm bớt áp lực lên những vùng đất không thuận lợi cho canh tác. Trong khi cần phải có những nỗ lực đặc biệt đối với những vùng hay bị thiên tai hoặc những vùng có nhiều nhóm dân tộc thiểu số bị cô lập, đa số người dân sẽ có lợi nếu tăng trưởng theo hướng thâm dụng lao động tạo ra hàng triệu công ăn việc làm đều đặn với mức lương 50-100 đô la một tháng ở các nhà máy hoặc dịch vụ. Họ sẽ có lợi hơn so với làm nông nghiệp theo thời vụ với thu nhập chỉ 10-20 đô la một tháng. Luôn có một khuynh hướng, đó là làm giảm đi mức độ trầm trọng của vấn đề trong một tình huống “tốt”, cũng như nhấn mạnh những khó khăn trong một tình huống “xấu”. Vậy khuyết điểm của tình huống 3 là gì? Một trong những khó khăn khó nhận biết hơn đó là cần có thời gian để thay đổi các tổ chức thể chế và thái độ. Ngay cả nếu khi nhìn lại thì các chính sách được phán xét như là những chính sách đúng đắn, điều này vẫn không phải lúc nào cũng rõ ràng trong luồng suy nghĩ chung. Cần có nhiều hơn là kỹ năng và tài lãnh đạo để tạo ra một sự chuyển tiếp từ một hệ thống những thái độ và cách hành xử sang một hệ thống khác. Điều này cũng cần có may mắn. Sau cú nhảy vọt sẽ không có chuyện quay trở lại. Đáng tiếc là nhiều người ở Việt Nam lại không nhận thức đầy đủ thế giới đang thay đổi nhanh chóng như thế nào, và do đó sẽ không mau chóng nhận ra nhu cầu phải có những thay đổi không dễ chịu để điều chỉnh theo thực tế mới. Chống chọi với điều không thể né tránh là không có lợi, trong khi phải chịu hậu quả là mất đi thời gian, giảm mất sự ủng hộ đại chúng, và kéo dài một sự Fulbright Economics Teaching Program Economics Executive Education Program Choices and Opportunities 2001-2002 David Dapice 25 tê liệt không ích lợi gì. Đây là điều đã xảy ra ở nhiều nước châu Phi và hiển nhiên là ở Myanmar. Khi thực hiện những thay đổi quan trọng, nếu giá dầu cao, khí hậu tốt, và nền kinh tế thế giới vững mạnh, những lợi ích bổ sung có thể thuyết phục được những người còn ngờ vực. Nếu mọi chuyện trở nên xấu đi, ngay cả khi không phải do sai lầm của các nhà hoạch định chính sách, thì sự phản đối sẽ gia tăng và tiến bộ sẽ chậm lại. Tóm lại, các chính sách cho tình huống 3 là: 1. Một loạt các bước nhanh chóng hỗ trợ cho khu vực tư nhân tăng trưởng 2. Tích cực cải thiện ngân hàng và thị trường vốn 3. Đẩy mạnh cải thiện hiệu quả doanh nghiệp nhà nước hay cổ phần hoá. 4. Nhiệt tình hỗ trợ các dịch vụ viễn thông và Internet đạt chất lượng tốt. 5. Tiếp tục hạ thấp hàng rào thương mại, tăng cường chuyên môn hoá thay vì cố gắng tự cung. 6. Cải tổ quản lý mang lại kết quả FDI cao hơn và đầu tư công hiệu quả hơn. Các chính sách trên có thể mang lại kết quả như sau: 1. Tăng trưởng GDP 10% hàng năm với tỉ lệ đầu tư 35%-40% GDP 2. Tăng cực kỳ nhanh chóng FDI và xuất khẩu hàng chế biến 3. Sự “bắt kịp” về trình độ khoa học kỹ thuật của Việt Nam. 4. Tăng nhanh nhu cầu lao động ở đô thị, đặc biệt là lao động có tay nghề. 5. Khu vực tư nhân tăng trưởng tương đương như vùng duyên hải Trung Quốc thời kỳ 1985-1995. 6. Phát triển một cơ cấu kinh tế đa dạng hơn, cao cấp hơn. Các loại trò chơi: tổng số điểm dương, tổng số điểm âm, và tổng số điểm bằng 0 Một phần của học thuyết kinh tế quan tâm về mối quan hệ giữa các cá nhân, tập thể, hay tổ chức. Các quan hệ qua lại giữa họ được gọi là trò chơi. Một trò chơi có thể là bóng đá, hay hôn nhân, hay cạnh tranh giữa các công ty, các địa phương, các đảng phái. Nghiên cứu này trình bày ba loại môn chơi: 1. Môn chơi có tổng số điểm bằng 0 ví dụ như bóng đá. Khi một bên thắng, bên kia phải thua. Chỉ có một kết quả đó là tốt cho bên thắng và không tốt cho bên thua. Quyền lực trong chính trị thường được xem thuộc nhóm trò chơi này. 2. Một môn chơi có tổng số điểm âm là khi tình trạng cả hai bên đều bị xấu đi. Ví dụ có thể là một cuộc hôn nhân xấu, một cuộc xung đột băng đảng làm nhiều người chết hay bị thương, hay tình trạng vi phạm luật giao thông để gây ra nhiều tai nạn. Một cách cư xử không đúng làm cho các bên đều bị thiệt. 3. Trong môn chơi tổng số điểm dương, mọi người đều được lợi. Ví dụ như một cuộc hôn nhân tốt, thương mại tự nguyện, hay bạn bè giúp đỡ lẫn nhau. Cách cư xử tốt giúp mọi người Fulbright Economics Teaching Program Economics Executive Education Program Choices and Opportunities 2001-2002 David Dapice 26 cảm thấy tốt hơn (Anh giúp một người bạn, người này có thể giúp anh khi tình thế thay đổi. Đây cũng là một dạng bảo hiểm.) Ở một làng quê truyền thống và cách biệt, khi đất đai và công nghệ là cố định, rất rõ là nếu một gia đình giàu lên, một gia đình khác phải nghèo đi. Điều này giải thích thái độ nghi ngờ khó bỏ được đối với sự giàu sang quá mức trong một cộng đồng có ràng buộc chặt chẽ. Thông thường nếu một nông dân tình cờ có được một kỹ thuật tốt hơn hay một loại giống tốt hơn, anh ta có thể chia xẻ với hàng xóm hoặc có thể tranh thủ mua đất của những người không gặp may. Đa phần nông đân giàu giúp đỡ gia đình hay bạn bè gần gũi mà không giúp tất cả mọi người. Cuộc đời xem như một cuộc chơi tổng số điểm bằng 0. Khi những nước giàu nhất có thu nhập theo đầu người hàng năm 30,000 đô la, không phải đặc biệt khó khăn để có được mức 3,000 đô la, bằng một phần mười của những nước đi đầu (một ví dụ là Thái Lan, mặc dù nước này không sản sinh ra được nhiều nhà khoa học hay công nghệ, có môi trường đô thị tồi, vẫn còn một luật phá sản yếu kém, và các vấn đề với những ngân hàng không vững chắc và những chính trị gia không trung thực). Nếu một dân tộc đứng mãi ở mức 1% của các nước đi đầu, thường là dân tộc này đang tham gia một trò chơi tổng số điểm âm mà có khi không nhận ra. Trong trường hợp không mong muốn này, tài năng con người và tiền vốn đang bị lãng phí bởi các tổ chức không biết cách sử dụng một cách hiệu quả. Các nhóm cạnh tranh và chiếu tướng nhau thay vì tìm cách tốt hơn để hạ giá thành, cải thiện sản phẩm, hay cho phép mọi người sản xuất nhiều hơn. Trong các trường hợp đó, người chơi cảm thấy vừa lòng khi thấy mình bị thiệt như mọi người khác. Họ không muốn một tình thế các bên đều được lợi, nhưng bên kia được nhiều hơn. Cảm giác này không phải là hiếm gặp hay sai lầm. Đó là một cách tạo cân bằng, nhưng không phải là một cách rất hiệu quả. Tình thế trái ngược là khi tràn đầy tiến bộ và lạc quan, khi tất cả đều vươn lên và có sự chấp nhận cho ai đó vươn lên nhanh hơn cao hơn. Sự khác biệt rất có thể được chấp nhận do làm việc nhiều hơn, do bản chất con người như thông minh hơn, mạnh khỏe hơn, hay thậm chí may mắn hơn. Khi tất cả mọi người làm việc của mình, dù không giúp nhau nhưng cũng không cản trở nhau, toàn bộ hệ thống có thể tiến bộ rộng rãi và giúp hầu hết mọi người vươn lên. Suy cho cùng thì một xã hội phải cùng nhau chọn một môn chơi cho mình. Các xã hội cũng có thể chuyển từ một môn chơi sang môn khác. Nếu khoảng cách kinh tế trở nên quá lớn, nếu giá trị càng ngày càng ít được quan tâm hơn là quan hệ, một xã hội có thể chuyển từ tâm lý của môn chơi tổng số điểm dương sang tổng số điểm âm. Trong trường hợp ngược lại, khi một dân tộc thấy cần phải sát cánh để bắt kịp láng giềng hay bắt kịp chính tiềm năng của mình, họ sẽ thay đổi tư duy và hợp tác tốt hơn, cạnh tranh sẽ trở nên hữu ích thay vì làm hại nhau. Trong những trường hợp đó, đặc biệt khi công nghệ đã sẵn có để tăng thu nhập, thật dễ dàng có được tiến bộ nhanh chóng. Fulbright Economics Teaching Program Economics Executive Education Program Choices and Opportunities 2001-2002 David Dapice 27 Kết luận Tài liệu này đã cố gắng trình bày những chọn lựa mở ra đối với các nhà lãnh đạo Việt Nam, cùng với những hàm ý kinh tế của các chọn lựa này. Một triển vọng cơ bản là nền kinh tế thế giới đang hội nhập một cách nhanh chóng với một qui mô cao hơn nhiều so với trước, và những công nghệ lan truyền nhanh chóng cho phép các nước chọn lựa mức thu nhập mà mình muốn. Một số nước hiểu được điều này và đã tăng trưởng nhanh chóng. Những nước khác vì một lý do này hay lý do khác chọn những chính sách khác làm chậm lại sự tăng trưởng. Ví dụ ngày càng có nhiều hơn hoạt động đào tạo đang được thực hiện thông qua mạng Internet, đặïc biệt trong lãnh vực tin học và phần mềm. Năm nay chỉ riêng nhu cầu cần những chuyên gia về mạng Internet trên khắp thế giới đã là 800,000 người, và cần một số lượng bổ sung 3 triệu người trong hơn 5 năm tới. Giả sử mỗi năm Việt Nam muốn đào tạo 10,000 chuyên gia này,19 và mỗi chuyên gia thu nhập được 30,000 đô la một năm - một con số hợp lý trong phạm vi khu vực, thì trong vòng 10 năm, sẽ có 70,000 chuyên gia, với thu nhập 2 tỉ đô la một năm. Vậy để đào tạo những người này phải tốn kém gì? Đó là chi phí 500 đô la một máy vi tính cho mỗi người, và chi phí khóa học. Chi phí học không cao, nếu học qua Internet hoặc thậm chí học tại những trường học trong nước. Học viên cần học lập trình và tiếng Anh trong hai năm, sau đó làm việc một hoặc hai năm để thu thập kinh nghiệm. Với khoảng chừng 10 triệu đô la một năm, lợi ích thu được từ mỗi lớp sẽ là 300 triệu đô la thu nhập và 75 triệu đô la doanh thu thuế mỗi năm! (với một mức thuế giả định là 25% chứ không phải 75%; nếu ở mức thuế cao hơn sẽ không có gì có thể phát triển được.) Con số này sẽ thêm 1% vào tỉ lệ tăng trưởng GDP. Từ nhóm chuyên gia này, thường hợp lý khi một số sẽ trở thành những nhà kinh doanh, bắt đầu hình thành công ty, thuê lao động, và đóng thuế. Những ích lợi này có khả năng sẽ lan rộng, tích lũy năm này qua năm khác, và sẽ trở nên to lớn ngay cả khi những giả định trong ví dụ này là quá khả quan. Chẳng hạn vẫn có thất thoát một số lập trình viên có tay nghề sang các nước khác, nhưng nếu thuế thu nhập hợp lý cùng với các phương tiện thông tin liên lạc tốt hơn và rẻ hơn, thì nhiều người sẽ rất sẵn sàng ở lại.20 Vậy trong tình huống nào thì cách đầu tư như vậy có khả năng xảy ra nhất? Có lẽ cần phải tóm tắt những ý nghĩa của các tỉ lệ tăng trưởng giả định trong mỗi tình huống. Bảng tóm tắt, với vài con số làm tròn, giả định rằng GDP năm 2000 là 19 Hàng năm có 1,5 triệu học sinh trung học từ lớp 10 - 12. Nếu các học sinh đượn chọn lựa khi tốt nghiệp trung học, thì chỉ cần đến 2% từ các lớp học. Ta sẽ có được con số 50,000 vì tương đương với 1,3% của tổng cầu thế giới, đây cũng là tỉ trọng của dân số Việt Nam trong dân số thế giới. 20 Công nghiệp phần mềm Ấn Độ xuất khẩu nhiều người có tay nghề, nhưng vẫn có một ngành công nghiệp phần mềm trong nước mạnh mẽ, từ Ấn Độ xuất đi hàng năm 35 tỉ đô la phần mềm. Với những điều kiện hợp lý, Việt Nam cũng có thể thành công như vậy. Fulbright Economics Teaching Program Economics Executive Education Program Choices and Opportunities 2001-2002 David Dapice 28 khoảng 30 tỉ đô la và thu nhập bình quân đầu người là 400 đô la. Tổng GDP và GDP bình quân đầu người trong ba tình huống Tăng trưởng GDP Tổng GDP (tỉ đô la) GDP bình quân người (đô la/người) Tổng số Đầu người 2005 2010 2005 2010 Tình huống 1 4,5% 3% 37 47 464 537 Tình huống 2 6,5% 5% 41 56 511 652 Tình huống 3 10,5% 9% 49 81 615 950 Nguồn: các tính toán dựa trên những tỉ lệ tăng trưởng giả định trong mỗi tình huống. Tăng trưởng dân số được giả định 1,4% một năm. Vẫn chưa có một phân tích thấu đáo về những hàm ý liên quan đến nghèo khó trong ba tình huống trên, nhưng rõ ràng việc đạt được một mức thu nhập cụ thể nào đó sẽ dễ dàng hơn nếu mức thu nhập trung bình là 900 đô la thay vì 500 đô la. Mặc dù phân phối thu nhập có thể trở nên ít công bằng hơn khi có tăng trưởng nhanh chóng, nhưng nếu chính sách của chính phủ là nhằm đầu tư vào vốn vật chất và con người trong mọi lãnh vực và tổ chức, thì hầu hết mọi người sẽ cùng nổi với nước triều đang lên. Đây không phải là một sự khái quát trên lý thuyết. Theo kết qyar hai bản Khảo sát Mức sống, bình quân chi tiêu thực tế đã tăng 43% (7,5% một năm), nhưng ngay cả nhóm một phần năm thấp nhất cũng tăng được 29%, và nhóm một phần năm cao nhất tăng 55%. Giai đoạn từ 1992/93 đến 1997/98 được đánh dấu bởi tăng trưởng nhanh, hầu như nhanh bằng mức dự báo trong tình huống 3. Phân tích của Ngân hàng Thế giới21 sử dụng mức nghèo khó dựa trên ngân sách dùng cho lương thực tùy thuộc vào sự chi tiêu đầy đủ lượng calori và chi tiêu trung bình không dành cho thực phẩm. Theo phân tích này tỉ lệ nghèo khó giảm từ 58% xuống 34%, giảm mạnh hơn về chiều sâu cũng như tính nghiêm trọng của nghèo khó. Điều này có nghĩa là, ngay cả với những người vẫn còn ở dưới vạch nghèo khó, thu nhập của họ đã tăng đến gần hơn mức tối thiểu mong muốn (nếu sử dụng chuẩn nghèo khó thấp hơn, dựa trên thực phẩm, tỉ lệ nghèo khó sẽ rơi từ 25% xuống 15%). Năm 1998, tỉ lệ nghèo ở các vùng nông thôn vẫn còn 45%, so với 9% ở các vùng thành thị. Sự khác biệt này không ngoài dự kiến, vì chi tiêu theo đầu người ở những vùng thành thị là 120% cao hơn ở nông thôn. Nếu có nhiều thanh niên ở các vùng nông thôn quyết định di chuyển đến những nơi tạo cơ hội tốt hơn, thì điều này không có gì đáng ngạc nhiên. Vậy thì tình huống nào sẽ tạo ra nhiều cơ hội hơn cho những di dân này? Đó phải là tình huống 3, với các mức đầu tư cao hơn. Thu nhập và 21 “Ai được lợi từ sự bùng nổ của Việt Nam trong thập niên 1990? Một phân tích về nạn nghèo khó và các xu hướng bất bình đẳng” tác giả Glewwe, Gragnolati, và Zaman, Ban Nghiên cứu Phát triển Ngân hàng Thế giới. Fulbright Economics Teaching Program Economics Executive Education Program Choices and Opportunities 2001-2002 David Dapice 29 tiêu dùng cao hơn của những người di cư sẽ tăng nhu cầu tiêu thụ sản phẩm của nông thôn, từ đó giúp những người còn ở lại vùng quê. Nếu thu nhập bình quân đầu người nông thôn có thể tăng gấp đôi, có khả năng nạn nghèo khó ở nông thôn sẽ giảm đi đáng kể. Với một chuẩn nghèo khó thấp hơn, như chuẩn nghèo khó chính phủ Việt Nam thường dùng, nạn nghèo khó có thể hầu như biến mất trong một thập niên hoặc hơn. Nếu ưu tiên cao nhất là để cho không còn thu nhập thấp, thay vì khống chế chênh lệch thu nhập trong các hộ gia đình, tăng trưởng nhanh hơn sẽ tốt hơn tăng trưởng chậm hơn - với điều kiện các hoạt động đầu tư được thực hiện hợp lý ở những vùng nghèo và các nhóm nghèo. Nếu tình huống 3 hứa hẹn tăng trưởng nhanh hơn, ít nghèo hơn, số thu thuế cao hơn, đầu tư trực tiếp nước ngoài nhiều hơn, và nắm bắt công nghệ tốt hơn so với những tình huống khác, tại sao tình huống này lại không được chọn? Một lý do chính là tình huống này trông có vẻ ngoài tầm với. Một nước nghèo có thể tăng trưởng quá nhanh không? Câu hỏi này có thể hợp lý nếu ở Châu Phi. Còn ở Việt Nam, với những ví dụ gần đây là Trung Quốc, Hàn Quốc, và Đài Loan, câu hỏi này ít bi quan hơn. Thật vậy, ngay trong thập niên 1990 tự thân Việt Nam đã tăng trưởng khoảng 9% một năm cho đến 1997. Chỉ cần tăng trưởng nhanh hơn 1% khi có rất nhiều cơ hội nảy sinh từ các ngành công nghiệp phần mềm và điện tử, cũng như từ hiệp định thương mại với Mỹ, thì không thể là một giả định không hợp lý. Vì vậy Việt Nam tăng trưởng nhanh trong thập niên này là có thể được. Một sự phản đối khác có thể là các doanh nghiệp nhà nước có một vai trò nhún nhường không thể chấp nhận được trong nền kinh tế đang tăng trưởng nhanh, nếu so với tình huống tăng trưởng chậm hơn. Tuy nhiên sự phản đối này có thể nhầm lẫn con số tương đối với tuyệt đối. Rất có thể các doanh nghiệp nhà nước có hiệu quả sẽ tăng trưởng rất tốt ở tình huống 3, nhanh hơn so với tình huống 1 hay 2. Nếu mục tiêu là phát triển những công ty nhà nước lớn và mạnh trong một số khu vực cụ thể, thì tình huống tăng trưởng nhanh sẽ hiệu quả hơn tăng trưởng chậm. Nếu có ai nghi ngờ các doanh nghiệp nhà nước sẽ phải mất nhiều thời gian để phát triển kỹ năng cạnh tranh, thì số thu thuế cao từ tăng trưởng nhanh có thể được dùng để hỗ trợ song song cho các doanh nghiệp này. Chỉ khi nào vai trò tương đối của doanh nghiệp nhà nước được xem là quan trọng thì lúc đó tăng trưởng chậm hơn sẽ được ưa chuộng. Nhưng trong thập niên 1990 đã có sự sụt giảm mạnh về vai trò của doanh nghiệp nhà nước, và những xu hướng hiện tại là tương tự hay còn hơn thế nữa. Nếu điều này đã được chấp nhận trong một thời gian dài, thì tại sao việc tiếp tục khuynh hướng này là không khách quan? Ý kiến phản đối thứ ba thật sự liên quan nhiều đến khía cạnh chính trị và văn hóa hơn là kinh tế, nhưng cũng không kém phần quan trọng. Nếu khu vực tư nhân được tự do và chính phủ mất kiểm soát các dòng lưu chuyển thông tin thì sẽ không thể hành động như lúc trước nữa. Những mối quan tâm về kinh tế nội địa, cạnh tranh một phần với các doanh nghiệp nhà nước sẽ gia tăng. Sinh viên và những người lao động Fulbright Economics Teaching Program Economics Executive Education Program Choices and Opportunities 2001-2002 David Dapice 30 chuyên môn, dù còn là một thiểu số trong tổng dân số, sẽ phát triển những ý tưởng khó có thể kiểm soát được. Ngay cả nhân dân cũng có thể suy nghĩ nhiều hơn theo giá trị phương tây hoặc giá trị tiêu dùng. Những quan tâm này có lẽ là sự lo ngại thực sự đằng sau lập luận về những thế lực thù địch. Một lần nữa, vấn đề không phải là đài CNN đang cố gắng loại bỏ chủ nghĩa xã hội, mà vì quan điểm về thế giới của đài này là khác biệt và phổ biến hơn. Sự lặp đi lặp lại thường thuyết phục được những gì mà lập luận không làm được. Liệu nền văn hóa của Việt Nam có bị cám dỗ bởi nền văn hóa tiêu dùng hào nhoáng của nước ngoài? Liệu sự ổn định trong nước có bị đe dọa bởi những nhóm trong nước sẽ gia tăng và được lên tiếng? Đây là những câu hỏi vượt quá khả năng trả lời của một nhà kinh tế học. Hiển nhiên các câu hỏi hướng vào những quan tâm thực tiễn. Nhưng chúng cũng cần phải được cân nhắc so với mặt tích cực từ tăng trưởng nhanh hơn. Nếu sức mạnh của một nước đạt được từ của cải, công nghệ, và nhân dân có nền tảng giáo dục tốt hơn, thì tăng trưởng nhanh hơn chắc chắn mang lại cho nước này nhiều hơn là tăng trưởng chậm hơn. Nếu tham nhũng được giảm đi tốt hơn bằng cách trả lương hợp lý cho viên chức nhà nước thay vì bằng những chiến dịch chống tham nhũng theo từng thời kỳ, thì số thu thuế cao hơn có thể làm giảm bớt tham nhũng, một nguồn gốc gây bất bình. Đây chính là những vấn đề cần được thảo luận một cách thực tế. Một con đường kết nối nhanh hơn Một quốc gia xếp hạng cao hơn về khả năng sử dụng Internet thường có một tỉ lệ lớn dân số biết tiếng Anh. Điều này không đáng ngạc nhiên, vì khoảng 80% thông tin trên Internet sử dụng tiếng Anh. Nhưng tỉ lệ người nói tiếng Anh ở Việt Nam tương đối thấp và có thể phải cần hàng năm trời để phát triển một tỉ lệ cao sử dụng thành thạo ngôn ngữ này. Có cách nào khác để tăng tốc quá trình này? Câu trả lời là có thể. Với tốc độ xử lý nhanh chưa từng thấy và giá thành thấp chưa từng thấy, chất lượng của các chương trình phiên dịch đang được cải thiện đến mức có thể dùng để dịch nháp trong những lĩnh vực cụ thể, tuy vẫn chưa sử dụng để phiên dịch tổng quát. Nếu Việt Nam muốn tăng tốc độ tiếp cận thông tin trên Internet một cách có hiệu quả, Việt Nam có thể tìm nguồn tài trợ để phát triển và cung cấp miễn phí một chương trình phiên dịch cho người dùng Internet. Mỗi khi một chuyên gia phiên dịch làm công việc dịch thủ công một phần nào đó, họ có thể gửi bản nháp (do máy dịch) và bản cuối cùng (do chuyên gia dịch) đến người phát triển phần mềm phiên dịch. Bằng cách sàng lọc các từ ngữ và ngữ pháp, chương trình có thể được hoàn thiện dần. Những trình phiên dịch khá tốt hiện đã có ở một số nước châu Âu để dịch sang tiếng Anh và ngược lại. Chương trình phiên dịch hiện tại của Việt Nam vẫn chưa tốt. Đây có thể là tổng hợp của nỗ lực chưa cao trong phối hợp các nghĩa của từ, của thuật toán chưa cao để chuyển một đoạn văn từ một ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, của việc sử dụng hoàn cảnh để hiểu nghĩa thực. Nỗ lực ban đầu có thể hướng vào các phần mềm dùng cho kinh doanh, nông nghiệp, khoa học, y tế...Nếu người dùng Internet có thể tiếp cận thông tin bằng tiếng Anh một cách dễ dàng, lợi ích của phương tiện thông tin này trong nghiên cứu và thương mại sẽ to lớn hơn nhiều.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfcac_lua_chon_va_co_hoi_cac_con_duong_mo_ra_truoc_viet_nam.pdf
Tài liệu liên quan