Các sản phẩm chế biến từ phụ phẩm giết mổ trong dinh dưỡng gia cầm

Sử dụng phốt pho Phốt pho là một trong những thành phần dinh dưỡng có giá trị nhất trong sản phẩm protein của ngành công nghiệp chế biến phụ phẩm giết mổ. Trong nhiều trường hợp, hàm lượng phốt pho khả dụng cao là yếu tố làm cho sản phẩm có giá trị về kinh tế cao hơn so với các nguồn protein khác. Các nghiên cứu trước đây về sử dụng phốt pho cho thấy phốt pho từ các sản phẩm động vật có tính khả dụng cao (Wandroup và cộng sự., 1965). Orban và Roland (1992) cho biết phốt pho trong bột xương có tính khả dụng chỉ kém một chút so với phốt pho có trong dicalcium phốt phát. Tuy nhiên, các số liệu gần đây hơn lại cho rằng không có sự khác biệt giữa sử dụng phốt pho có trong sản phẩm động vật và trong dicalcium phốt phát (Waldroup và Adams, 1994). Ngày nay đa số các nhà dinh dưỡng học đều cho rằng 100% là mức độ khả dụng của phốt pho có trong các phụ phẩm giết mổ đã qua chế biến. Sử dụng protein động vật trong khẩu phần Các sản phẩm của ngành công nghiệp chế biến phụ phẩm giết mổ Hoa Kỳ được sử dụng trong hầu hết các khẩu phần nuôi gà thịt và gà tây. Trong khi các sản phẩm có thể được sử dụng một cách đơn lẻ thì trong hầu hết các trường hợp việc bổ sung có hiệu quả nhất là khi để máy tính tự lựa chọn từ rất nhiều loại sản phẩm sẵn có. MBM xuất xứ từ gia súc nhai lại nói chung là nguồn có hiệu quả về kinh tế cao nhất, tiếp sau đó là PBM loại dùng làm thức ăn chăn nuôi, sau cùng là FeM. Người ta thường bổ sung FeM ở mức rất thấp nhằm bù đắp giá thành của các a xít amin chứa lưu huỳnh. MBM và PBM đóng vai trò là nguồn bổ sung protein và phốt pho trong đó PBM có hàm lượng năng lượng cao hơn và vì thế có giá trị cao hơn. FeM thường được bổ sung ở mức nhỏ hơn 2% khẩu phần trong khi MBM và PBM có thể được bổ sung ở mức cao hơn nhiều. Nếu dựa vào tỷ lệ tiêu hóa để lập công thức thì giới hạn trên của mức bổ sung có thể vượt quá 10% khi xét từ quan điểm sinh trưởng, nhưng thường thì việc lập khẩu phần hay dựa trên cơ sở hiệu quả kinh tế hơn. Nếu việc lập khẩu phần không dựa trên cơ sở a xít amin tiêu hóa, thì người chăn nuôi vẫn nên lưu ý đến tỷ lệ tiêu hóa của sản phẩm và đưa mức bổ sung tối đa nếu thấy có sự khác biệt đáng kể về tỷ lệ tiêu hóa so với bột đậu tương. Với lượng dữ liệu sẵn có thì, trong tương lai, tất cả các khẩu phần cho gia cầm nên được xây dựng dựa trên cơ sở tỷ lệ tiêu hóa. Vấn đề vướng mắc nhất trong việc sử dụng các sản phẩm của ngành chế biến phụ phẩm giết mổ là sự biến động của chất lượng sản phẩm. Người ta khuyến khích các nhà lập khẩu phần duy trì số liệu phân tích sản phẩm và cố gắng sử dụng các nguồn cung cấp giống nhau để hạn chế sự biến động của sản phẩm.

pdf13 trang | Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 2 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Các sản phẩm chế biến từ phụ phẩm giết mổ trong dinh dưỡng gia cầm, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
122 CÁC SẢN PHẨM CHẾ BIẾN TỪ PHỤ PHẨM GIẾT MỔ TRONG DINH DƯỠNG GIA CẦM Tiến sỹ Jeffre D Firman Giáo sư Dinh dưỡng Đại học Missouri Tóm tắt Ngành chăn nuôi gia cầm ở Hoa Kỳ có lịch sử lâu đời sử dụng các sản phẩm của ngành công nghiệp chế biến phụ phẩm giết mổ trong khẩu phần. Mỡ chế biến theo phương pháp này nói chung có giá thành thấp hơn dầu thực vật, chẳng hạn như dầu đậu tương- loại thường được sử dụng nhiều ở các nước khác. Điều này cho phép có thể bổ sung hàm lượng mỡ cao hơn và do đó các khẩu phần cũng trở nên giàu năng lượng hơn. Khẩu phần có năng lượng cao hơn sẽ làm cho gia cầm tăng trọng nhanh hơn, tiêu tốn thức ăn thấp hơn và tạo ra ưu thế cạnh tranh cho ngành chăn nuôi gia cầm Hoa Kỳ. Nguồn protein từ chế biến từ phụ phẩm giết mổ cũng có ích cho chăn nuôi gia cầm. Các sản phẩm chất lượng cao sẵn có bao gồm bột thịt xương (MBM), bột phụ phẩm gia cầm (PBM) và bột lông vũ (FeM). Mỗi loại đều là nguồn dinh dưỡng đặc hiệu tuyệt vời và nói chung đều cung cấp nguồn protein có giá cả cạnh tranh. MBM cung cấp nguồn a xít amin và phốt pho có giá trị. PMB thậm chí còn cung cấp nhiều protein và năng lượng hơn, đồng thời cũng là nguồn cung cấp phốt pho tuyệt vời. FeM chứa nhiều a xít amin giàu lưu huỳnh. Tóm lại, các sản phẩm này có thể được ngành chăn nuôi gia cầm sử dụng để giảm đáng kể chi phí giá thành và hiện tại khối lượng được ngành này sử dụng là rất lớn. Với việc sử dụng các sản phẩm này, ngành chăn nuôi gia cầm ước tính sẽ tiết kiệm được khoảng 10 đô la cho mỗi tấn thức ăn sản xuất tại Hoa Kỳ. Việc ngành chăn nuôi gia cầm sử dụng nhiều sản phẩm này là điều bình thường và người ta dự báo khối lượng sử dụng sẽ còn tiếp tục tăng lên trong tương lai. Ngành chăn nuôi gia cầm Chăn nuôi gia cầm tại Hoa Kỳ và trên thế giới có những biến đổi to lớn trong vòng 50 năm qua. Trong khi tiêu thụ gia cầm và sản phẩm gia cầm liên tục tăng trong suốt giai đoạn này, thì những thay đổi trong cấu trúc của ngành có lẽ còn sâu sắc hơn. Ngành chăn nuôi này đã chuyển từ sản xuất quy mô nhỏ các thức ăn đặc sản sang cung cấp nguồn protein động vật chính được tiêu thụ tại Hoa Kỳ. Trên phạm vi thế giới, cũng đã có một sự bùng nổ chăn nuôi gia cầm. Tại các nước phát triển, ngành chăn nuôi gia cầm cũng hoạt động tương tự như ở Hoa Kỳ. Ở các nước kém phát triển hơn thì quy mô sản xuất thường nhỏ hơn và mô hình chăn nuôi của Hoa Kỳ luôn là mục tiêu phát triển của ngành chăn nuôi. Năm 2004 ước tính có khoảng 8,9 tỷ con gà đã được nuôi và giết mổ tại Hoa Kỳ (Watt poultry, 2004) và con số này vẫn tiếp tục tăng lên. Trên thế giới, tổng số lượng gà giết mổ hàng năm cũng ở mức cao chưa từng thấy, khoảng 46 tỷ con. Cuộc cách mạng trong chăn nuôi gia cầm đã đem lại những bước tiến trong việc xây dựng khẩu phần ăn nhờ có nhiều sản phẩm và công nghệ mới đã và đang được tạo ra. Cuộc cách mạng này cũng đã làm cho việc lập khẩu phần thức ăn trở nên tinh vi hơn, chuyển từ cách làm bằng tay sang bằng máy tính, từ cân đối theo tổng protein sang cân đối theo a xít amin tiêu hóa, và tính toán bổ sung rất nhiều chất vi lượng. Tất cả đã giúp cho ngành chăn nuôi gia cầm Hoa Kỳ giảm được giá thành và đạt năng suất ở mức cao nhất. Sử dụng các phụ phẩm giết mổ chế biến đã mang lại lợi nhuận to lớn cho ngành chăn nuôi gia cầm hiện đại. Sử dụng các sản phẩm chế biến từ phụ phẩm giết mổ trong thức ăn gia cầm Sử dụng protein và các loại mỡ tái chế trong chăn nuôi gia cầm có lịch sử lâu đời trên toàn thế giới. Hầu như tất cả các loại bột protein và mỡ chế biến từ phụ phẩm giết mổ đều đã và đang tiếp 123 tục được sử dụng với số lượng lớn tại Hoa Kỳ với lí do chính là giá trị tương đối của chúng so với các nguồn protein khác chẳng hạn bột đậu tương. Các sản phẩm hiện đang được sử dụng là bột thịt, các sản phẩm máu, chất béo có nguồn gốc từ gia súc nhai lại, lợn, gia cầm, và bột lông vũ. Ngoài ra một lượng hạn chế bột gà đẻ loại thải nguyên con hiện cũng đang được sử dụng. Mỗi loại sản phẩm đều đã được sử dụng một cách hiệu quả ở các mức khác nhau trong khẩu phần cho các giống gia cầm khác nhau, trong đó mức sử dụng trong các khẩu phần cho gà thịt và gà tây cao hơn do nhu cầu về protein ở các giống này cao hơn so với gà đẻ. Các sản phẩm có nguồn gốc động vật này cung cấp các chất dinh dưỡng cần cho gia cầm với giá cả hợp lý nếu so sánh với các sản phẩm cạnh tranh khác, và thực tế, giá thành có khuynh hướng biến động theo giá cả của các sản phẩm cạnh tranh. Để cải tiến năng suất, việc thay thế một phần bột đậu tương trong khẩu phần cho gia cầm bằng các sản phẩm động vật đã được nhiều cơ sở chăn nuôi quan tâm. Phần oligosaccharide có trong bột đậu tương được cho là có ảnh hưởng tiêu cực đối với gia cầm. Nguyên nhân được cho là do một hợp chất có trong phần không tiêu hóa của sản phẩm này gây ngứa màng chân gia cầm. Bổ sung nguồn protein động vật có thể làm tăng năng suất so với khẩu phần tiêu chuẩn. Trong khi ảnh hưởng tốt này có thể là do hàm lượng cao của các a xít amin hạn chế tạo ra thì việc giảm lượng gluxit khó tiêu hóa có trong bột đậu tương có thể cũng đã góp phần tạo ra ảnh hưởng này. Nghiên cứu trước đây trong phòng thí nghiệm khuyến cáo rằng nếu cân đối khẩu phần đúng thì có thể thay thế đến một nửa lượng protein bằng các phụ phẩm khác nhau. Mỗi một sản phẩm có thành phần dinh dưỡng và giá trị tiềm năng khác nhau, tuy nhiên, phần lớn chúng đều là nguồn năng lượng và protein chất lượng cao, nguồn phốt pho sẵn có và nguồn khoáng chất khác tuyệt vời. Mục đích của chương này là cung cấp các thông tin cần thiết cho việc sử dụng các sản phẩm này để xây dựng khẩu phần, phương pháp sử dụng chúng, và các hạn chế cũng như hiệu quả kinh tế khi sử dụng chúng. Ngoài ra, một bài tổng quan thích hợp cũng sẽ được cung cấp trong những trường hợp cần thông tin chuyên sâu. Cuối cùng, với những thông tin cung cấp ở đây, người chăn nuôi có thể đưa ra những quyết định phù hợp về sử dụng các sản phẩm chế biến từ phụ phẩm giết mổ và tiết kiệm chi phí. Sử dụng mỡ chế biến từ phụ phẩm giết mổ Sử dụng chất béo trong thức ăn chăn nuôi có rất nhiều ưu điểm. Một số lợi ích thu được từ việc bổ sung chất béo trong khẩu phần là: • Nguồn năng lượng đậm đặc và là cách chủ yếu để tăng hàm lượng năng lượng trong khẩu phần; • Tăng tốc độ sinh trưởng; • Tăng hiệu quả sử dụng thức ăn; • Giảm tiêu tốn thức ăn; • Là nguồn cung cấp các a xít linoleic; • Giảm lượng bụi trong thức ăn và giảm mất mát thức ăn vì bụi; • Bôi trơn các thiết bị của nhà máy thức ăn; • Tăng tính ngon miệng của thức ăn; • Tăng tốc độ tăng trọng, giảm thời gian nuôi và tăng giá trị sử dụng chuồng trại; • Lượng nhiệt gia tăng thấp khi bị stress nhiệt giữ cho lượng calo hấp thu tăng; • Giảm nhu động ruột đối với các thức ăn khác dẫn đến tăng khả năng tiêu hóa; • Có thể có hiệu ứng “năng lượng bổ sung” (extra caloric effect); • Có thể có giá cạnh tranh hơn so với các nguồn cung cấp năng lượng khác; • Thức ăn đậm đặc có thể làm giảm chi phí vận chuyển và phân phối thức ăn. 124 Một số điều cần quan tâm khi sử dụng chất béo: • Sử dụng tỷ lệ cao có thể ảnh hưởng không tốt đến hiệu quả ép viên; • Xác định hàm lượng năng lượng trao đổi có thể gặp khó khăn; • Dễ tạo mùi ôi thiu; • Trang thiết bị cần thiết liên quan đến bổ sung chất béo phải thích hợp; • Gia cầm non khó tiêu hóa các chất béo no. Ngành công nghiệp chế biến phụ phẩm giết mổ cung cấp một lượng lớn chất béo khác nhau cho gia cầm. Các loại mỡ cơ bản là mỡ gia cầm, mỡ đặc, mỡ vàng mềm, mỡ lợn và mỡ hỗn hợp. Ở nhiều nước khác, người ta còn sử dụng với khối lượng đáng kể các loại chất béo thực vật như dầu hướng dương, dầu đậu tương, dầu cọ. Nói chung, các loại chất béo này tương đối đắt so với chất béo chế biến từ phụ phẩm giết mổ, dẫn đến khẩu phần chứa ít chất béo hơn và hàm lượng năng lượng trao đổi thấp hơn so với ở Hoa Kỳ. Một trong những mối quan tâm chính liên quan đến việc sử dụng chất béo là giá trị năng lượng trao đổi thực cần phải định lượng cho những nguồn chất béo khác nhau. Trị số này trong thực tế thường rất khó xác định và giá trị thực tiễn khi lập khẩu phần có thể chỉ là rất nhỏ. Khi phân tích năng lượng chất béo người ta thường sử dụng phương pháp gián tiếp bằng cách thay thế phần có trong khẩu phần nuôi để xác định hàm lượng năng lượng trao đổi. Ngoài ra, chất béo có thể có hiệu ứng năng lượng bổ sung (Jensen và cộng sự., 1970; Horani and Sell, 1977), trong đó nó tác động đến khả năng sẵn có của các chất dinh dưỡng khác. Hiệu ứng này được phát hiện trong phòng thí nghiệm khi người ta nhận ra rằng bổ sung chất béo đã làm tăng tỷ lệ tiêu hóa của MBM (Firman and Remus, 1994). Điều này giải thích tại sao một số giá trị năng lượng trao đổi theo báo cáo lại lại cao hơn giá trị năng lượng thô mà chất béo có thể có được. Các nghiên cứu trước đây về sử dụng chất béo trong khẩu phần cho gia cầm nói chung đã cho thấy dầu thực vật chưa no có ME cao hơn các sản phẩm động vật hoặc các sản phẩm có hàm lượng a xít béo tự do cao (Seidler và cộng sự., 1955; Young, 1961; Waldroup và cộng sự., 1995). Tuy nhiên, nếu cho ăn dưới dạng một phần của khẩu phần hoàn chỉnh thì phần lớn các thí nghiệm đều cho thấy không có khác biệt nào về các chỉ tiêu năng suất khi cho ăn các nguồn chất béo khác nhau (Seidler và cộng sự., 1955; Young, 1960; Fuller and Rendon, 1979; Fuller and Rendon, 1977; Pesti và cộng sự., 2002; Quart và cộng sự., 1992). Một số lí do có thể được giả định để giải thích tại sao giá trị năng lượng trong phân tích ME khác nhau lại không gây ra khác biệt về năng suất thực tế khi được bổ sung vào khẩu phần hoàn chỉnh. Một trong số nguyên nhân có thể là vì khả năng sử dụng các thành phần khác trong khẩu phần được cải thiện bởi các nguồn chất béo khác nhau là tương đương nhau và không bị ảnh hưởng bởi hàm lượng ME trong các loại chất béo đó. Câu trả lời rõ hơn có thể là do sự khác biệt về hàm lượng ME trong khẩu phần có hàm lượng chất béo điển hình là tương đối nhỏ. Nói cách khác, nếu hai loại chất béo có hàm lượng ME là 7.000 và 8.000 Kcal/kg được bổ sung vào khẩu phần đều ở mức 3% trong khẩu phần, thì sự khác biệt về ME trong khẩu phần hoàn chỉnh chỉ là 30 Kcal/kg hay chưa tới 1% của tổng năng lượng trao đổi của khẩu phần. Mức độ khác nhau này là rất nhỏ và rất khó để xác định bằng thực nghiệm. Trong một nghiên cứu của Pesti và cộng sự. (2002), các nguồn chất béo khác nhau được sử dụng và mức độ khác nhau giữa các loại chất béo này là hơn 4.000 Kcal/kg. Tuy nhiên, khi các loại chất béo này được bổ sung vào khẩu phần cho gà nuôi nền thì cũng không thấy có sự khác biệt về tăng trọng cũng như tiêu tốn thức ăn, chứng tỏ hàm lượng năng lượng thuần cung cấp cho gà là tương đương (Leeson and Ateh, 1995). Kết quả tương tự cũng được Leigh and Firman (2005, tài liệu chưa công bố) quan sát trong một nghiên cứu mới đây trong phòng thí nghiệm như trình bày ở Bảng 1 và Bảng 2. Bảng 1. Tăng trọng bình quân ở gà thịt cho ăn các khẩu phần có nguồn chất béo khác nhau 125 Nguồn chất béo 0-3 tuần tuổi (kg/con/giai đoạn) 0-5 tuần tuổi (kg/con/giai đoạn) 0-7 tuần tuổi (kg/con/giai đoạn) Dầu đậu tương 0,77 1,92 2,85 Mỡ mềm vàng 0,76 1,96 2,95 Mỡ gia cầm 0,76 1,93 2,92 Mỡ động vật nhai lại 0,75 1,92 2,99 Mỡ hỗn hợp động thực vật 0,74 1,89 2,96 Mỡ lợn 0,75 1,88 2,97 Dầu cọ 0,75 1,95 2,94 Không có sai khác thống kê giữa các nghiệm thức Bảng 2. Tiêu tốn thức ăn đã hiệu chỉnh ở gà thịt cho ăn các loại chất béo khác nhau trong khẩu phần Nguồn chất béo 0-3 tuần tuổi 0-5 tuần tuổi 0-7 tuần tuổi Dầu đậu tương 1,38 1,60 1,87 Mỡ vàng mềm 1,38 1,56 1,85 Mỡ gia cầm 1,38 1,58 1,85 Mỡ động vật nhai lại 1,40 1,61 1,83 Mỡ hỗn hợp động thực vật 1,42 1,63 1,86 Mỡ lợn 1,40 1,52 1,77 Dầu cọ 1,42 1,56 1,88 Nói chung, người ta cho rằng các chất béo có tỷ lệ tiêu hóa ở gà trưởng thành cao hơn so với ở gà con. Renner and Hill (1960) phát hiện thấy tỷ lệ tiêu hóa của mỡ động vật nhai lại (hàm lượng a xít béo no cao) ở gà con là rất thấp. Carew và cộng sự. (1972) cho biết khả năng tiêu hóa chất béo ở gà con khá thấp nhưng tăng nhanh cùng với tuổi của chúng. Các kết quả tương tự cũng được phát hiện ở gà tây (Sell và cộng sự., 1986). Trong khi khả năng tiêu hóa chất béo ở gia cầm thấp trong giai đoạn này là khá rõ ràng thì thực tế lại cho thấy ảnh hưởng của nó là không đáng kể vì gia cầm có khả năng cải thiện khả năng tiêu hóa chất béo rất nhanh. Việc tăng mức năng lượng trong khẩu phần thông qua bổ sung chất béo có thể là có lợi đối với năng suất chăn nuôi (Fuller and Rendon, 1979). Rất nhiều số liệu nghiên cứu trước đây về thay đổi mức năng lượng trong các khẩu phần chưa hoàn toàn cân đối làm cho việc giải thích các dữ liệu gặp khó khăn. Bổ sung chất béo có thể làm tăng khối lượng cơ thể trong một vài trường hợp (Sell và cộng sự. 1986), mặc dù trong nhiều trường hợp, mức tăng trọng là tương đương, nhưng hiệu quả sử dụng thức ăn tăng lên (Pesti và cộng sự. 2002). Việc tăng chất béo trong khẩu phần đã cải thiện hiệu quả sử dụng thức ăn, nhưng cũng làm tăng tích lũy mỡ (Salmon and O’Neil, 1971; Rivas and Firman, 1994). Khi nuôi gà tây ở mức năng lượng bằng 88 đến 112% mức khuyến cáo của NRC đã cho thấy gà có tốc độ tăng trưởng cao hơn (25,3 đến 29,4 pound) và hiệu quả sử dụng thức ăn thay đổi rất lớn (3,41 so với 2,41 kg thức ăn/kg tăng trọng). Trong khi lượng thức ăn ăn vào của gia cầm trong thí nghiệm này giảm đi do khẩu phần có mức năng lượng cao thì lượng năng lượng ăn vào thực ra vẫn tăng do năng lượng ăn vào từ chất béo bổ sung tăng lên (Firman, 1995). Bổ sung chất béo cao hơn nhu cầu về a xít linoleic trong khẩu phần gà đẻ có ảnh hưởng thất thường. Mức tiêu thụ năng lượng của gà đẻ cần phải được kiểm soát chặt để đảm bảo gà mái không quá béo (lượng mỡ cơ thể quá cao). Orr và cộng sự. (1958) nhận thấy bổ sung chất béo trong khẩu phần gà đẻ ở mức 2,5 hoặc 5% là không có lợi. Reid and Weber (1975) cho biết năng 126 suất sinh sản của gà đẻ nuôi lồng không thay đổi khi cho ăn khẩu phần có bổ sung chất béo ở mức khá cao (khoảng 15%) mặc dù hiệu quả sử dụng thức ăn có được cải thiện. Việc bổ sung chất béo (từ 1 đến 2%) vào đầu chu kỳ đẻ đã cải thiện đáng kể kích thước và sản lượng trứng (Jensen, 1983) nhưng trong một thí nghiệm khác các mức bổ sung chất béo 2-6% đã không cho kết quả tương tự (Bohnsack và cộng sự. 2002). Có thể sử dụng chất béo trong khẩu phần để làm giảm sự gia tăng nhiệt (nhiệt tạo ra trong quá trình tiêu hóa thức ăn). Sự gia tăng nhiệt do protein là cao nhất, sau đó đến gluxit và cuối cùng là chất béo. Như vậy sẽ là logic nếu có thể tăng phần năng lượng từ chất béo trong khẩu phần để giúp gia cầm có thể đối phó với stress nhiệt dễ dàng hơn. Cần phải lưu ý là tổng lượng nhiệt sinh ra có thể tăng lên nếu hàm lượng năng lượng trong khẩu phần tăng lên, mặc dù khi bị stress nhiệt nhìn chung gia cầm sẽ giảm ăn để giảm quá trình sinh nhiệt. Gà thịt được tự do lựa chọn giữa khẩu phần giàu chất béo và khẩu phần giàu gluxit đã lựa chọn khẩu phần chất béo cao và cho tăng trọng cao hơn trong điều kiện nhiệt độ cao (Dale và Fuller, 1978). Ở gà thịt mức tăng trọng giảm đi do stress nhiệt là không đáng kể nếu cho ăn khẩu phần có hàm lượng chất béo cao (Dale và Fuller, 1980). Thực tiễn sử dụng chất béo trong khẩu phần gia cầm Thực tiễn sử dụng chất béo trong khẩu phẩn gia cầm khá đơn giản và tác dụng của việc bổ sung chất béo đã được hiểu rất rõ. Mức bổ sung tối thiểu (thường là 1% chất béo) thường được trộn vào khẩu phần. Có vài lý do cho việc bổ sung này nhưng nói chung việc bổ sung là để đảm bảo cung cấp đủ lượng a xít linoleic cho gia cầm. Việc này cũng giúp giảm thiểu bụi thức ăn, bôi trơn thiết bị cho ăn và tăng tính ngon miệng cho gia cầm. Người ta thường bổ sung chất béo ở mức 1% mà không cần để ý đến giá cả. Mức bổ sung cao hơn 1% thường được sử dụng để làm tăng tốc độ sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn và có liên quan nhiều hơn đến tổng giá thành sản phẩm tính theo tăng trọng. Nói một cách tương đối thì ở Hoa Kỳ giá chất béo thường khá rẻ là do có ngành công nghiệp chế biến phụ phẩm giết mổ tiên tiến và việc bổ sung chất béo ở mức cao là việc làm thông thường. Giá bán chất béo nói chung dao động từ 200 đến 400 đô- la/tấn, trong khi đó tại nhiều nước khác giá bán có khi cao gấp từ 2 đến 5 lần mức giá này. Khẩu phần bột ngô- đậu tương điển hình bổ sung 1% chất béo sẽ có mức năng lượng ME khoảng 3.000 Kcal/kg. Cứ mỗi một phần trăm chất béo được bổ sung thì sẽ làm tăng thêm 50 Kcal năng lượng. Do vậy, các khẩu phần sử dụng tại Hoa Kỳ thường có lượng chất béo bổ sung ở mức 1 đến 3% trong thức ăn cho gà con và cao hơn ở gà thịt giai đoạn cuối. Mức bổ sung chất béo cao hơn thường cho năng suất cao hơn cho tới mức tối đa có thể trộn vào khẩu phần (8-10% thường được xác định là mức tối đa có thể bổ sung trong thức ăn dạng viên và dạng nghiền nhỏ). Trong nhiều trường hợp, các nhà dinh dưỡng sử dụng phép tính giá thành dựa trên hàm lượng năng lượng để xác định mức bổ sung cho hiệu quả kinh tế cao nhất. Tại nhiều nước, ngô khan hiếm hơn và giá đậu tương đắt hơn nên các nguyên liệu chất lượng thấp hơn thường được sử dụng và do đó mức năng lượng trong khẩu phần cũng thấp hơn. Khẩu phần năng lượng thấp như vậy (đôi khi thấp hơn 2.700 kcal/kg ME) đã ảnh hưởng tiêu cực đến tốc độ tăng trọng, tiêu tốn thức ăn và làm tăng giá thành. Mức sản xuất thấp hơn từ 20-30% so với gia cầm cùng loại là khá phổ biến trong nhiều trường hợp. Bổ sung chất béo rẻ tiền có thể cải thiện đáng kể năng suất của những gia cầm này. Sử dụng chất béo ở gà tây nói chung thường cao hơn một chút so với ở gà thịt vì khẩu phần cho gà tây có hàm lượng protein cao hơn còn đậu tương là thành phần chủ yếu sử dụng trong khẩu phần lại thường có mức năng lượng thấp. Rất nhiều mối quan ngại được bày tỏ liên quan đến việc sử dụng mỡ trong thực tế. Những quan tâm này chủ yếu xoay quanh vấn đề chất lượng tương đối của các loại chất béo và bao gồm cả sự ôi thiu, hàm lượng a xít béo tự do, các chỉ tiêu MIU (độ ẩm, các chất không hòa tan, chất không bị saponin hóa). Nhiều mối quan ngại trong số này có thể được giải tỏa nếu áp dụng quy trình thu 127 mua sao cho có thể xác định phần lớn các chỉ số nói trên. Có thể kiểm soát ôi thiu bằng cách bổ sung các chất chống o-xy hóa. Nếu a xít béo tự do ở mức dưới 20% thì được coi là chưa có vấn đề và thường MIU ở mức khá thấp. Thực ra, những vấn đề cần phải giải quyết đối với chất béo là rất ít. Sử dụng các nguồn protein chế biến từ các phụ phẩm giết mổ Việc sử dụng các nguồn protein phụ phẩm chế biến có nhiều ưu điểm: • Nói chung giá cả tương đối cạnh tranh so với các nguồn protein thực vật; • Tổng chi phí thức ăn giảm trong hầu hết các trường hợp sử dụng bột protein; • Là nguồn cung cấp protein chất lượng cao; • Phần lớn là dễ tiêu hóa ; • Giúp cân bằng a xít amin; • Trong hầu hết các trường hợp sẽ cho tăng trọng cao hơn một chút so với chỉ sử dụng nguồn protein thực vật; • Nguồn tuyệt vời cung cấp phốt pho sẵn có và các khoáng chất khác; Một số điểm cần lưu ý khi sử dụng các sản phẩm protein chế biến từ phụ phẩm giết mổ: • Kiểm soát chất lượng không chặt chẽ có thể làm giảm tỷ lệ tiêu hóa của các a xít amin; • Cần sử dụng phương pháp lập công thức khẩu phần phù hợp để đạt hiệu quả sử dụng cao nhất; • Tiềm ẩn khả năng nhiễm khuẩn nếu không được chế biến, đóng gói và bảo quản thích hợp; • Phương pháp trộn nguyên liệu và phương pháp chế biến có thể ảnh hưởng đến tính ổn định về chất lượng của sản phẩm. Do nhiều nguyên nhân khác nhau nên trước đây việc sử dụng các sản phẩm protein chế biến từ phụ phẩm giết mổ là rất hạn chế. Các nghiên cứu trước kia đã cho rằng sinh trưởng sẽ giảm nếu sử dụng các sản phẩm này quá giới hạn nào đó chẳng hạn là 7,5% khẩu phần. Sự ức chế sinh trưởng này xảy ra chủ yếu là do tỷ lệ tiêu hóa của một số sản phẩm bột protein thấp hơn so với bột đậu tương. Kết quả của các nghiên cứu trước đây trong phòng thí nghiệm đã cho thấy tỷ lệ tiêu hóa của lysine trong bột thịt xương thấp hơn 10% so với bột đậu tương (Firman, 1992). Như vậy, nếu mức MBM trong khẩu phần tăng thì lượng lysine mà gia cầm có thể sử dụng sẽ giảm. Khả năng tự điều chỉnh mức thiếu hụt này đến một điểm nào đó sẽ dừng lại, sự thiếu hụt a xít amin cuối cùng sẽ xuất hiện và tốc độ tăng trưởng sẽ bị giảm thấp. Cách lập công thức khẩu phần dựa trên cơ sở tỷ lệ tiêu hóa đã loại bỏ được hiện tượng này và mức bổ sung trong khẩu phần sẽ không còn là vấn đề khó khăn. Hơn nữa, a xít amin trong nhiều sản phẩm được kiểm nghiệm mới đây đã đạt tỷ lệ tiêu hóa tương đương bột đậu tương. Mức bổ sung tối đa trong khẩu phần được đặt ra rất có thể là do mức can xi và phốt pho cao khi bổ sung ở mức cao hơn; nhưng giá cả thường là vấn đề làm cho mức bổ sung trong thực tế thấp hơn mức tối đa khuyến cáo. Các sản phẩm sẵn có Bột thịt xương Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu MBM đặc biệt là về protein và a xít amin. Firman (1992) phát hiện thấy tỷ lệ tiêu hóa của a xít amin trong bột thịt sử dụng nuôi gà tây ở các lứa tuổi và giới tính khác nhau là giống nhau và tương tự như mô hình gà trống (rooster model) vẫn thường sử dụng. Lysine và methionine có khả năng tham gia quá trình trao đổi chất cao nhưng một lượng đáng kể cystine lại không có tính khả dụng về mặt sinh học (bioavailability) (Wang và Parson, 1998a). Điều này rất quan trọng bởi vì tryptophan và tổng lượng a xít amin chứa lưu 128 huỳnh (TSAA) trong MBM là thấp nhất, kế đến là threonine, isoleusine, phenylalanine + tyrosine, lysine, valine và histidine (Wang và cộng sự., 1997). Một số nghiên cứu đã cho thấy chất lượng protein trong MBM dao động khá lớn. Parson và đồng nghiệp (1997) cho biết, lượng khoáng tổng số có mối tương quan với chất lượng protein. Điều này được cho là do tỷ lệ giữa protein và khoáng tổng số trong khẩu phần gây ra. Nếu lượng khoáng tăng thì chất lượng protein giảm. Tỷ lệ tiêu hóa của các a xít amin có lẽ không thực sự giảm (Shirley và Parson, 2001). Phương pháp xác định tỷ lệ tiêu hóa (thường tạo ra những kết quả khác biệt) có thể ảnh hưởng đến giá trị thu được (John và cộng sự., 1987). Bổ sung chất béo vào khẩu phần cũng được chứng minh là có ảnh hưởng khi các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tiêu hóa protein thường tăng lên ở các khẩu phẩn có hàm lượng chất béo cao. Tăng thành phần chất béo trong khẩu phần có thể làm chậm nhu động ruột, kéo dài thời gian hấp thu các chất dinh dưỡng ở ruột. Chính các mixen cũng có thể trợ giúp vận chuyển các a xít amin đến thành ruột (Firman và Remus, 1994). Tỷ lệ tiêu hóa cũng có thể bị ảnh hưởng bởi sự hiện diện của các thành phần khác chẳng hạn như bột đậu tương (Angkanaporn và cộng sự., 1996). Các kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng lập khẩu phần theo tỷ lệ tiêu hóa hoặc tính khả dụng sinh học của các a xít amin sẽ cho kết quả tốt hơn so với việc lập khẩu phần dựa trên hàm lượng a xít amin tổng số (Wang và Person, 1998b). Một trong những yếu tố quan trọng quyết định chất lượng dinh dưỡng của MBM là quy trình chế biến. Do lo ngại về bệnh bò điên (BSE) nên MBM từ động vật có vú đã bị cấm sử dụng cho gia súc nhai lại ở Hoa Kỳ còn Liên minh châu Âu (EU) đã cấm sử dụng tất cả các sản phẩm có nguồn gốc động vật làm thức ăn cho gia súc nhai lại. Việc này đã đưa ngành chăn nuôi gia cầm và chăn nuôi lợn thành khách hàng lớn nhất tiêu thụ MBM xuất xứ từ gia súc nhai lại. Theo quy trình chế biến các phụ phẩm giết mổ, thời gian, áp suất và nhiệt độ xử lý có thể thay đổi. EU quyết định các loại bột phụ phẩm động vật phải được xử lý ở nhiệt độ 1330C, áp suất 3 atmospheres (tương đương 43,5 psi), trong thời gian 20 phút. Đáng tiếc là áp suất cao có thể làm giảm tính khả dụng (availability) của các thành phần dinh dưỡng cho gia cầm (Shirley và Parson, 2000). Nhiệt độ cũng có ảnh hưởng đến tính khả dụng của các chất dinh dưỡng. Cũng giống như áp suất (Johnson và cộng sự., 1998) và thời gian xử lý (Karakas và cộng sự., 2001), nhiệt độ có mối tương quan nghịch với tính khả dụng của các chất dinh dưỡng. Những cải tiến liên tục trong thời gian gần đây đã có tác động tích cực đến tính khả dụng của các chất dinh dưỡng nhưng chất lượng sản phẩm không ổn định vẫn còn là vấn đề mà ngành công nghiệp này cần phải khắc phục (Elkin, 2002). Một số nghiên cứu khác đã ước tính mức bổ sung MBM lý tưởng trong khẩu phần. Mức bổ sung MBM trong khẩu phần bình thường vẫn còn là vấn đề tranh cãi do tính không ổn định của ME, chất lượng protein, và phốt pho khả dụng. Mức bổ sung MBM hiện nay thường ở trong khoảng trên dưới 5% khẩu phần. Tuy nhiên Sell (1996) phát hiện thấy có thể bổ sung hiệu quả MBM ở mức 10% trong khẩu phần của gà tây. Như tên gọi, xương là một cấu thành của MBM. Nó cung cấp nguồn canxi và phốt pho tuyệt vời. Drewyor và Waldroup (2000) lưu ý rằng việc bổ sung MBM phải được kiểm soát để đảm bảo hàm lượng phốt pho không cao tới mức có thể làm ảnh hưởng đến môi trường. Một số nghiên cứu khác lại cho rằng, gà tây hấp thu rất tốt phốt pho có trong MBM (Sell và Jeffrey, 1996). Điều may mắn là các phương trình dự báo hàm lượng phốt pho đã được xây dựng cũng tương tự như các phương trình dùng để dự báo ME thức ăn. Cách xác định nhanh này sẽ được bổ sung vào phương pháp lập khẩu phần thức ăn cho gia cầm (Mendez và Dale, 1998). Hàm lượng ME của MBM là mối quan tâm chính. Như đã nói ở trên, biến động về thành phần thức ăn gây khó khăn cho việc xác định chính xác giá trị chuẩn. Waring (1969) đã xác định được mức ME bằng 1.988 Kcal/kg, thấp hơn so với nhiều giá trị ước tính khác. NRC (1994) sử dụng giá trị 2.150 kcal/kg. Tuy nhiên, các tài liệu trước đây dường như đã đánh giá thấp ME của 129 MBM với mức dao động trong khoảng 2.300 và 2.500 Kcal/kg (Matosiswoyo và Jensen, 1998a; 1998b; Dolz và de Blas, 1992). Loài gia súc có thể cũng có ảnh hưởng. Dale (1997) nhận thấy MBM sản xuất từ phụ phẩm giết mổ bò có hàm lượng ME khoảng 2.449 Kcal/kg còn sản xuất từ lợn là 2.847 kcal/kg, trong khi một số khác lại cho rằng không có sự khác biệt giữa các loài gia súc (Karakas và cộng sự., 2001). Phương pháp dùng để xác định giá trị ME của các sản phẩm MBM cũng là chủ đề của những cuộc tranh luận gay gắt. Robbin và Firman (2005) đã thử nghiệm một số phương pháp thường được sử dụng hiện nay và phát hiện thấy có một vài khác biệt do phương pháp gây ra. Bột phụ phẩm gia cầm (PBM) Bảng 3. Tỷ lệ tiêu hóa (%) của bột phụ phẩm gia cầm (PBM) A xít amin Gà Gà tây Arg 93,2 91,2 Ser 85,7 85,0 His 80,8 83,4 Ile 90,6 86,6 Leu 91,1 87,3 Lys 90,9 89,3 Met 92,1 89,3 Cys 77,8 78,1 Phe 90,4 86,8 Tyr 93,9 85,5 Thr 86,6 87,3 Trp 95,0 94,8 Val 88,1 85,2 Asp 73,3 82,0 Glu 87,6 87,5 Pro 80,9 85,1 Ala 86,5 87,0 Trung bình 87,3 86,5 Đây là các phụ phẩm của ngành chế biến gia cầm, bao gồm phủ tạng và các phần bỏ đi khác của gà. Các số liệu nguyên thủy về sử dụng PBM cho thấy kết quả tích cực tại các thời điểm đó khi thay thế bột đậu tương hoặc bột cá mặc dù việc lập khẩu phần ăn còn khá sơ sài (Gerry, 1956; Fuller, 1956; Wiseman và cộng sự., 1958). Số liệu về hiệu quả sử dụng protein cũng đã được thu thập (Escalona và cộng sự., 1986) mặc dù cách này bây giờ ít được sử dụng vì khả năng có thể sử dụng máy tính để cân bằng các a xít amin. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự khác biệt giữa PBM và bột gia cầm là nguồn nguyên liệu dùng để chế biến. Ở nhà máy này có thể phần thịt xẻ đã lọc thịt của gà cũng được cho vào chế biến còn ở nhà máy khác lại chỉ sử dụng gà nguyên con mà không chế biến phần thịt xẻ nói trên và do đó sản phẩm tạo ra sẽ có hàm lượng khoáng khác nhau. Loại sản phẩm trong một vài trường hợp sẽ có giá cao hơn vì chất lượng cao có thể được dùng làm nguyên liệu sản xuất thức ăn cho sinh vật cảnh ở Hoa Kỳ, thường được xếp vào nhóm thức ăn cho sinh vật cảnh. Loại được xếp vào nhóm thức ăn dành cho sinh vật cảnh nói chung có tính ổn định cao hơn thể hiện ở các giá trị năng lượng biến động trong phạm vi nhỏ hơn so với các sản phẩm thuộc nhóm thức ăn chăn nuôi thông thường (Escalona và cộng sự., 1986; Dozier và Dale, 2005). Thông tin chi tiết hơn được trình bày ở chương thực phẩm cho sinh vật cảnh của cuốn sách này. 130 Các thành phần dinh dưỡng của PBM biến động rất lớn tùy thuộc vào nguồn lấy mẫu (Dozier và cộng sự., 2003) với hàm lượng protein dao động từ 49 đến 69%. Năng lượng cũng biến động (Pesti và cộng sự., 1986) và có thể được dự đoán qua giá trị gần đúng sử dụng phương trình của Dale và cộng sự. (1993) như sau: TMEn = (kcal/kg) = 2904 + 61,5 (% chất béo) – 54,1 (% khoáng). Tỷ lệ tiêu hóa của PBM cũng biến động, nhưng nói chung trong khoảng từ 80 đến 90%. Tỷ lệ tiêu hóa bình quân đối với các loại mẫu có thể tra cứu từ các nguồn thương mại, còn các sản phẩm đại diện dành cho gà và gà tây được ghi trong Bảng 3 (Firman và Remus, 1993). Bột lông vũ (FeM) Bột lông vũ là lông được nghiền và thủy phân từ quá trình giết mổ và chế biến gà và gà tây. Nói chung, FeM được coi là loại có tỷ lệ tiêu hóa thấp và không cân đối về a xít amin do đó rất ít được sử dụng trong chăn nuôi gia cầm. Vì lý do kinh tế, người ta thường chỉ sử dụng FeM ở tỷ lệ 1-3% khẩu phần. Cũng có thể sử dụng ở tỷ lệ cao hơn nhưng cần phải lập công thức thật cẩn thận. Sử dụng FeM trong khẩu phần cho gia cầm đã cho thấy là có hiệu quả trong các thử nghiệm trước đây khi tổng mức bổ sung trong khẩu phần thấp và cân bằng a xít amin được tính đến (Gery và Smith, 1954; Harms và Goff, 1957; Lillie và cộng sự., 1956; McKerns và Rittersporn, 1958; Moran và cộng sự., 1968; Sullivan và Stephenson, 1957; Wilder và cộng sự., 1955). Các tài liệu gần đây nhất cho thấy FeM là nguồn cung cấp một số a xít amin tuyệt vời, trong đó, đáng chú ý là cystine và mặc dù chất lượng của protein tổng số thấp, FeM có thể là nguồn lưu trữ methionine thay cho dạng nhân tạo (Wessels, 1972). Nghiên cứu mới đây nhất đã xem xét phương pháp chế biến và đánh giá ảnh hưởng của nó đến tỷ lệ tiêu hóa của các a xít amin có trong FeM. Morris và Balloun (1971) nhận thấy thời gian xử lý 60 phút và áp suất 50 psi cho kết quả tốt nhất, trong khi các tác giả khác (Paradopaulos và cộng sự., 1985; Moritz và Latshaw, 2001) cho rằng thời gian và áp suất xử lý có tương quan âm với chất lượng sản phẩm FeM. Tuy nhiên, Wang và Parsons 1997) cho rằng không có mối quan hệ đáng kể nào giữa nhiệt độ và thời gian xử lý. Người ta cũng đã đánh giá tính khả dụng của các a xít amin (Baker và cộng sự. 1981; Han và Parsons, 1991; Bielorai và cộng sự. 1983; Firman và Remus, 1993) và năng lượng (Dale, 1992) của FeM. Tỷ lệ tiêu hóa các a xít amin trong mẫu FeM sử dụng cho gà và gà tây được trình bày ở Bảng 4. Bổ sung FeM ở mức từ 4 đến 6% trong khẩu phần cho gà tây là mức tối đa không gây ảnh hưởng tiêu cực đến năng suất, đặc biệt khi được phối hợp với các phụ phẩm khác (Eissler và Firman, 1996). Cần lưu ý rằng bổ sung tối đa FeM làm tăng tổng lượng protein có trong FeM đóng góp cho khẩu phần nhưng mức protein tổng số trong khẩu phần cho gà tây thì lại giảm đi. Bảng 4. Tỷ lệ tiêu hóa của các a xít amin có trong FeM A xít amin Gà Gà tây Arg 84,2* 89,5 Ser 76,4* 89,3 His 84,2 74,4 Ile 82,3 86,8 Leu 76,8* 85,0 Lys 73,3 76,2 Met 77,5 80,3 Cys 58,8* 86,8 Phe 79,6 85,8 Tyr 79,8 85,9 Thr 72,9* 84,9 Trp 77,0* 87,4 131 Val 77,5* 85,3 Asp 58,0* 74,0 Glu 71,8* 82,4 Pro 63,1* 88,5 Ala 72,3 80,0 Trung bình 73,6 83,7 A Tỷ lệ tiêu hóa bình quân * Sai khác đáng kể so với ở gà tây Sử dụng phốt pho Phốt pho là một trong những thành phần dinh dưỡng có giá trị nhất trong sản phẩm protein của ngành công nghiệp chế biến phụ phẩm giết mổ. Trong nhiều trường hợp, hàm lượng phốt pho khả dụng cao là yếu tố làm cho sản phẩm có giá trị về kinh tế cao hơn so với các nguồn protein khác. Các nghiên cứu trước đây về sử dụng phốt pho cho thấy phốt pho từ các sản phẩm động vật có tính khả dụng cao (Wandroup và cộng sự., 1965). Orban và Roland (1992) cho biết phốt pho trong bột xương có tính khả dụng chỉ kém một chút so với phốt pho có trong dicalcium phốt phát. Tuy nhiên, các số liệu gần đây hơn lại cho rằng không có sự khác biệt giữa sử dụng phốt pho có trong sản phẩm động vật và trong dicalcium phốt phát (Waldroup và Adams, 1994). Ngày nay đa số các nhà dinh dưỡng học đều cho rằng 100% là mức độ khả dụng của phốt pho có trong các phụ phẩm giết mổ đã qua chế biến. Sử dụng protein động vật trong khẩu phần Các sản phẩm của ngành công nghiệp chế biến phụ phẩm giết mổ Hoa Kỳ được sử dụng trong hầu hết các khẩu phần nuôi gà thịt và gà tây. Trong khi các sản phẩm có thể được sử dụng một cách đơn lẻ thì trong hầu hết các trường hợp việc bổ sung có hiệu quả nhất là khi để máy tính tự lựa chọn từ rất nhiều loại sản phẩm sẵn có. MBM xuất xứ từ gia súc nhai lại nói chung là nguồn có hiệu quả về kinh tế cao nhất, tiếp sau đó là PBM loại dùng làm thức ăn chăn nuôi, sau cùng là FeM. Người ta thường bổ sung FeM ở mức rất thấp nhằm bù đắp giá thành của các a xít amin chứa lưu huỳnh. MBM và PBM đóng vai trò là nguồn bổ sung protein và phốt pho trong đó PBM có hàm lượng năng lượng cao hơn và vì thế có giá trị cao hơn. FeM thường được bổ sung ở mức nhỏ hơn 2% khẩu phần trong khi MBM và PBM có thể được bổ sung ở mức cao hơn nhiều. Nếu dựa vào tỷ lệ tiêu hóa để lập công thức thì giới hạn trên của mức bổ sung có thể vượt quá 10% khi xét từ quan điểm sinh trưởng, nhưng thường thì việc lập khẩu phần hay dựa trên cơ sở hiệu quả kinh tế hơn. Nếu việc lập khẩu phần không dựa trên cơ sở a xít amin tiêu hóa, thì người chăn nuôi vẫn nên lưu ý đến tỷ lệ tiêu hóa của sản phẩm và đưa mức bổ sung tối đa nếu thấy có sự khác biệt đáng kể về tỷ lệ tiêu hóa so với bột đậu tương. Với lượng dữ liệu sẵn có thì, trong tương lai, tất cả các khẩu phần cho gia cầm nên được xây dựng dựa trên cơ sở tỷ lệ tiêu hóa. Vấn đề vướng mắc nhất trong việc sử dụng các sản phẩm của ngành chế biến phụ phẩm giết mổ là sự biến động của chất lượng sản phẩm. Người ta khuyến khích các nhà lập khẩu phần duy trì số liệu phân tích sản phẩm và cố gắng sử dụng các nguồn cung cấp giống nhau để hạn chế sự biến động của sản phẩm. Tài liệu tham khảo Firman, J.D. 1995. Protein and energy utilization by the turkey. Proceedings of the “Maximizing profits for the poultry and swine industries,” conference, Cincinnati, OH, Griffin Industries. 132 Firman, J.D. 1992. Amino acid digestibilities of soybean meal and meat meal in male and female turkeys of different ages. J. Appl. Poultry Res. 1:350-354. Firman, J.D., and J.C. Remus. 1994. Fat additions increase digestibility of meat and bone meal. J. Appl. Poultry Res. 3:80-82. Firman, J.D., and J.C. Remus. 1993. Amino acid digestibilities of feedstuffs in female turkeys. J. Appl. Poultry Res. 2:171-176. Fuller, H.L. 1956. The value of poultry by-products as sources of protein and unidentified growth factors in broiler rations. Poultry Sci. 35:1143-1144. Fuller, H.L., and M. Rendon. 1977. Energetic efficiency of different dietary fats for growth of young chicks. Poultry Sci. 56:549-557. Fuller, H.L. and M. Rendon. 1979. Energetic efficiency of corn oil and poultry fat at different levels in broiler diets. Poultry Sci. 58:1234-1238. Gerry, R.W., and J.R. Smyth. 1954. The value of feather meal in rations for poultry. Poultry Sci. 33:1089. Gerry, R.W. 1956. The use of poultry by-products in poultry rations. Poultry Sci. 35:1144. Han, Y., and C.M. Parsons. 1991. Protein and amino acid quality of feather meals. Poultry Sci. 70:812-822. Harms, R.H., and O.E. Goff. 1957. Feather meal in hen nutrition. Poultry Sci. 36:358-361. Horani, F. and J.L. Sell. 1977. Effect of feed grade animal fat on laying hen performance and on metabolizable energy of rations. Poultry Sci. 56:1972-1980. Jensen, L.S. 1983. Feedstuffs 55(25):15. Jensen, L.S., G.W. Schumaier, and J.D. Latshaw. 1970. Extra caloric effect of dietary fat for developing turkeys as influenced by calorie-protein ratio. Poultry Sci. 49:1697-1704. Johns, D.C., C.K. Low, J.R. Sedcole, M.P. Gurnsey, and K.A.C. James. 1987. Comparison of several in vivo digestibility procedures to determine lysine digestibility in poultry diets containing heat treated meat and bone meals. Br. Poultry Sci. 28:397-406. Johnson, M.L., C.M. Parsons, G.C. Fahey Jr., N.R. Merchen, and C.G. Aldrich. 1998. Effects of species raw material source, ash content, and processing temperature on amino acid digestibility of animal by-product meals by cecectomized roosters and ileally cannulated dogs. J. Anim. Sci. 76:1112-1122. Karakas, P., H.A.J. Versteegh, Y. van der Honing, J. Kogut, and A.W. Jongbloed. 2001. Nutritive value of the meat and bone meals from cattle or pigs in broiler diets. Poultry Sci. 80:1180-1189. Leeson, S., and J.O Atteh. 1995. Utilization of fats and fatty acids by turkey poults. Poultry Sci. 74:2003-2010. Leigh, H., and Firman, J.D. 2005. Comparison of fat sources in diets of broilers. Unpublished. Lillie, R.J., J.R. Sizemore, and C.A. Denton. 1956. Feather meal in chick nutrition. Poultry Sci. 35:316-318. Martosiswoyo, A.W., and L.S. Jensen. 1988a. Available energy in meat and bone meal as measured by different methods. Poultry Sci. 67:280-293. 133 Martosiswoyo, A.W., and L.S. Jensen. 1988b. Effect of formulating diets using differing meat and bone meal energy data on broiler performance and abdominal fat content. Poultry Sci. 67:294-299. McKerns, K.W., and E. Rittersporn. 1958. The nutritional significance of processed keratin in poultry feeding. Poultry Sci. 37:433-436. Mendez, A., and N. Dale. 1998. Rapid assay to estimate calcium and phosphorus in meat and bone meal. J. Appl. Poultry Res. 7:309-312. Moran, E.T., Jr., J.D. Summers, and S.J. Slinger. 1966. Keratin as a source of protein for the growing chick. Poultry Sci. 45:1257-1266. Moritz, J.S., and J.D. Latshaw. 2001. Indicators of nutritional value of hydrolyzed feather meal. Poultry Sci. 80:79-86. Morris, W.C., and S.L. Balloun. 1971. Effect of processing methods on the utilization of hydrolyzed feather meal by broilers. Poultry Sci. 50:1609-1610. National Research Council. 1994. Nutrient Requirements of Poultry. 9th rev ed. National Academy Press, Washington, DC. Orban, J.I., and D.A. Roland Sr. 1992. The effect of varying bone meal sources on phosphorus utilization by 3-week old broilers. J. Appl. Poultry Res. 1:75-83. Orr, H.L., E.S. Snyder, and S.J. Slinger. 1958. Effect of animal fat, arsonic acid and range vs. confinement rearing on egg quality. Poultry Sci. 37:212-214. Parsons, C.M., F. Castanon, and Y. Han. 1997. Protein and amino acid quality of meat and bone meal. Poultry Sci. 76:361-368. Pesti, G.M., L.O. Faust, H.L. Fuller, N.M. Dale, and F.H. Benoff. 1986. Nutritive value of poultry by-product meal. 1. Metabolizable energy values as influenced by method of determination and level of substitution. Poultry Sci. 65:2258-2267. Pesti, G.M., R.I. Bakalli, M. Qiao, and K.G. Sterling. 2002. A comparison of eight grades of fat as broiler feed ingredients. Poultry Sci. 81:382-390. Quart, M.D., B.L. Damron, F.G. Martin, R.B. Christmas and D.R. Sloan. 1992. Effects of poultry fat and yellow grease on broiler performance and profitability. Poultry Sci. 71:821-828. Reid, B.L., and C.W. Weber. 1975. S upplemental dietary fat and laying hen performance. Poultry Sci. 54:422-428. Renner, R., and F.W. Hill. 1960. The utilization of corn oil, lard and tallow by chickens of various ages. Poultry Sci. 39:849-854. Rivas, F, and J.D.0 Firman. 1994. Performance and carcass traits of turkeys fed diets varying energy and protein content during a three week finisher period. J. Appl. Poultry Res. 4:327-335. Robbins, D.H., and Firman, J.D. 2005. Evaluation of the metabolizable energy of meat and bone meal for chickens and turkeys by various methods. International J. Poultry Sci. 4 (9): 633-638. Salmon, R.E., and J.B. O’Neil. 1971. The effect of the level and source of dietary fat on the growth, feed efficiency, grade and carcass composition of turkeys. Poultry Sci. 50:1456-1467. Sell, J.L. 1996. Influence of dietary concentration and source of meat and bone meal on performance of turkeys. Poultry Sci. 75:1076-1079. 134 Sell, J.L., and M.J. Jeffrey. 1996. Availability for poults of phosphorus from meat and bone meals of different particle sizes. Poultry Sci. 75:232-239. Sell, J.L., A. Krogdahl, and N. Hanyu. 1986. Influence of age on utilization of supplemental fats by young turkeys. Poultry Sci. 65:546-554. Seidler, A.J., H.E. Scheid, and B.S. Schweigert. 1955. Effects of different grades of animal fats on the performance of chicks. Poultry Sci. 34:411-414. Shirley, R.B., and C.M. Parsons. 2000. Effect of pressure processing on amino acid digestibility of meat and bone meal for poultry. Poultry Sci. 79:1775-1781. Shirley, R.B., and C.M. Parsons. 2001. Effect of ash content on protein quality of meat and bone meal. Poultry Sci. 80:626-632. Sullivan, T.W., and E.L. Stephenson. 1957. Effect of processing methods on the utilization of hydrolyzed poultry feathers by growing chicks. Poultry Sci. 36:361-365. Waldroup, P.W., C.B. Ammerman, and R.H. Harms. 1965. The utilization of phosphorus from animal protein sources for chicks. Poultry Sci. 44:1302-1306. Waldroup, P.W., and M.H. Adams. 1994. Evaluation of the phosphorus provided by animal proteins in the diet of broiler chickens. J. Appl. Poultry Res. 3:209-218. Waldroup, P.W., S.E. Watkins, and E.A. Saleh. 1995. Comparison of two blended animalvegetable fats having low or high free fatty acid content. J. Appl. Poultry Res. 4:41-48. Wang, X., and C.M. Parsons. 1998a. Bioavailability of digestible lysine and total sulfur amino acids in meat and bone meals varying in protein quality. Poultry Sci. 77:1003-1009. Wang, X., and C.M. Parsons. 1997. Effect of processing systems on protein quality of feather meals and hog hair meals. Poultry Sci. 76:491-496. Wang, X., and C.M. Parsons. 1998b. Dietary formulation with meat and bone meal on a total versus a digestible or bioavailable amino acid basis. Poultry Sci. 77:1010-1015. Wang, X., F. Castanon, and C.M. Parsons. 1997. Order of amino acid limitation in meat and bone meal. Poultry Sci. 76:54-58. Waring, J.J. 1969. The nutritive value of fish meal, meat and bone meal and field bean meal as measured by digestibility experiments on the adult colostomised fowl. Br. Poultry Sci. 10:155- 163. Wessels, J.P.H. 1972. A study of the protein quality of different feather meals. Poultry Sci. 51:537-541. Wilder, O.H.M., P.C. Ostby, and B.R. Gregory. 1955. The use of chicken feather meal in feeds. Poultry Sci. 34:518-524. Young, R.J. 1961. The energy value of fats and fatty acids for chicks. I. Metabolizable energy. Poultry Sci 40:1225-1233.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfcac_san_pham_che_bien_tu_phu_pham_giet_mo_trong_dinh_duong_g.pdf
Tài liệu liên quan