Những nguồn thông tin nêu trên
cần được lưu trữ theo một hệ thống cơ
sở dữ liệu nhất quán để tạo điều kiện
cho các nhà khoa học sử dụng trong
nghiên cứu, các đơn vị chức năng sử
dụng cho mục tiêu quản lý và khai
thác hiệu quả. Trên thế giới, hệ thống
cơ sở dữ liệu về nguồn tài nguyên đa
dạng sinh học đang là một chủ đề
được nhiều quốc gia quan tâm, và
Hệ thống thông tin đa dạng sinh học
toàn cầu (GBIF) là tiên phong trong
khía cạnh tập hợp và lưu trữ thông tin
về sinh vật trên toàn cầu, tạo thành
một hệ thống dữ liệu vô cùng lớn với
hơn 1,3 tỷ ghi nhận của hơn 1,8 triệu
loài. Nguồn dữ liệu lớn về loài đã
được sử dụng để xây dựng bản đồ đa
dạng sinh học nhưng cũng cần cẩn
trọng trong việc sử dụng nguồn dữ
liệu mở như trên [12, 13].
Bên cạnh đó, sự tác động lên môi
trường tự nhiên của các hoạt động
phát triển kinh tế đã có những ảnh
hưởng đến nguồn tài nguyên sinh vật
của Việt Nam cũng đòi hỏi phải có
được cơ sở dữ liệu nền tảng và các
hoạt động giám sát trong thời gian
dài để phục vụ công tác quy hoạch
và quản lý tài nguyên thiên nhiên
3 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 9 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đa dạng sinh học ở Việt Nam và những thành tựu mới, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
32
Khoa học - Công nghệ và đổi mới sáng tạo
Số 3 năm 2020
Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 được thông
qua ngày 31/7/2013 với những định
hướng mục tiêu cụ thể. Chiến lược
được phê duyệt đã đảm bảo được
nguồn kinh phí thường xuyên cho các
hoạt động điều tra, kiểm kê đa dạng
sinh học; đồng thời là tiền đề để các
địa phương xác định điều tra đa dạng
sinh học là một hành động cấp thiết;
tạo điều kiện cho các tổ chức nghiên
cứu và bảo tồn về đa dạng sinh học
được triển khai công tác thực địa.
Bên cạnh đó, định hướng mục tiêu
rõ ràng ở cấp quốc gia cũng giúp
các nhà khoa học đẩy mạnh hơn các
nghiên cứu về nguồn tài nguyên đa
dạng sinh học. Nhiều thành tựu trong
lĩnh vực nghiên cứu nguồn tài nguyên
đa dạng sinh học đã được các nhà
khoa học trong nước và quốc tế công
bố, góp phần phát triển nền khoa học
của Việt Nam trong những năm gần
đây.
những thành tựu trong nghiên cứu về đa
dạng sinh học
Cùng với sự hỗ trợ từ phân tích di
truyền, nhiều loài động thực vật mới
cho khoa học đã được các nhà khoa
học trong nước và quốc tế công bố
trong những năm gần đây. Một thống
kê đơn giản là trong giai đoạn từ năm
2013 đến cuối năm 2019, Việt Nam
đã có thêm 99 loài thực vật và 165
loài động vật mới cho khoa học, với
trung bình mỗi năm sẽ có thêm 14,1
loài thực vật và 23,5 loài động vật
mới được mô tả và đặt tên (hình 1).
Trong đó, không chỉ giới hạn ở
các loài được mô tả mới cho khoa học
mà còn có 6 chi (genus) thực vật, và
6 chi (genus) động vật mới cho khoa
học cũng được công bố. Ví dụ như
vào năm 2014, một chi thực vật mới
cho khoa học được mô tả là chi Lưu
hoa (Billolivia) cùng với 5 loài mới
được mô tả [1], hay một chi mới thuộc
Phân họ Tre (Bambusoidae) cùng
với một loài mới được mô tả và là đặc
hữu cho khu vực cao nguyên Đà Lạt
[2]. Về động vật, trong tổng số 165
loài được mô tả mới thì có đến 91 loài
động vật có xương sống, trong khi
chỉ có 74 loài động vật không xương
Đa DạNG SiNh họC ở ViệT NaM
Và NhữNG ThàNh TựU Mới
Trần Văn Bằng
Viện Sinh thái học miền Nam, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam
Việt Nam thông qua Luật Đa dạng sinh học vào năm 2008, tiếp đó chiến lược tầm quốc gia về đa dạng
sinh học được phê duyệt vào tháng 7/2013. Sự ra đời của chiến lược với những tầm nhìn, định hướng
rõ ràng đã thúc đẩy công tác nghiên cứu về bảo tồn đa dạng sinh học. Nhiều hoạt động điều tra, kiểm
kê đã được thực hiện, nhiều thành tựu trong nghiên cứu về đa dạng sinh học đã được công bố, góp
phần củng cố giá trị đa dạng sinh học của Việt Nam, là tiền đề cho sự phát triển bền vững sau này.
hình 1. Thống kê số loài thực vật và động vật mới cho khoa học thu được ở Việt Nam
trong giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2019.
33
khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo
Số 3 năm 2020
sống (hình 2). Nổi bật là năm 2017,
Cassistrellus - một chi động vật mới
đã được mô tả cho khoa học, và loài
Cassistrellus yokdonensis - loài thú
mới đã được bổ sung vào khu hệ thú
của Việt Nam [3]. Những nghiên cứu
về động vật không xương sống trong
những năm gần đây đã giúp tăng
thêm sự hiểu biết về hệ động vật của
Việt Nam với nhiều phát hiện mới như
mô tả 1 chi bọ que cùng với 3 loài
mới ở Việt Nam [4], 1 giống cua với
1 loài mới được mô tả vào năm 2015
[5]. Như vậy có thể thấy rằng, nguồn
tài nguyên đa dạng sinh học ở Việt
Nam rất cao và giá trị của chúng cần
được cập nhật, bổ sung vào cơ sở dữ
liệu hiện có. Khi đó, vai trò của một
hệ thống cơ sở dữ liệu về nguồn tài
nguyên đa dạng sinh học là rất cần
thiết để giúp công tác quản lý, theo
dõi và định hướng khai thác được
hiệu quả, bền vững.
thành tựu trong tìm kiếm loài quý hiếm
bằng kỹ thuật hiện đại
Bên cạnh các nghiên cứu để cung
cấp thêm chứng cứ thuyết phục về
giá trị đa dạng sinh học của Việt
Nam, nhiều nghiên cứu chuyên sâu
với việc áp dụng tiến bộ khoa học và
công nghệ (KH&CN) đã giúp ngành
khoa học của Việt Nam trong lĩnh
vực đa dạng sinh học, sinh thái và
tài nguyên sinh vật ghi nhận thêm
nhiều thành công mới. Trên cơ sở
mỗi một cá thể sẽ để lại dấu vết về
di truyền ra ngoài môi trường sống
của chúng, từ đó các nhà nghiên
cứu có thể tách và thu thập thông tin
di truyền một cách gián tiếp thông
qua phân tích mẫu thu từ môi trường
sống của loài (công nghệ này được
gọi là eDNA - environmental DNA)
[6, 7]. Ở Việt Nam, công nghệ phân
tích eDNA từ những mẫu nước thu
thập tại các hồ tự nhiên đã giúp xác
định thêm cá thể mới của loài rùa Hồ
Gươm (Rafetus swinhoei), một trong
những loài rùa hiếm nhất trên thế
giới, tại hồ Đồng Mô Hà Nội [8]. Hiện
nay, kỹ thuật phân tích eDNA cũng
đã và đang được áp dụng thông qua
phân tích DNA từ mẫu máu của các
loài vắt (họ Haemadipsidae) nhằm
tìm kiếm thêm bằng chứng về sự
tồn tại của loài Sao la (Pseudoryx
nghetinhensis) cũng như nhiều loài
động vật khác ở các vùng rừng núi
hiểm trở của miền Trung Việt Nam.
Công cụ eDNA thực sự là một giải
pháp hữu dụng trong việc tìm kiếm
dấu vết của các loài nguy cấp, quý
hiếm đang tồn tại trong điều kiện tự
nhiên với số lượng cực thấp mà thông
qua các phương pháp truyền thống
không thể xác định được. Mặc dù vậy,
công cụ này chỉ có thể xác định được
loài khi cơ sở dữ liệu về di truyền của
loài đã được biết. Đối với những loài
chưa có dữ liệu về di truyền thì sẽ rất
khó xác định được rằng kết quả phân
tích đã đủ để kết luận có loài cần tìm
kiếm hay chưa.
Mới đây nhất, với sự kết hợp kiến
thức của người địa phương và trang
thiết bị hiện đại, các nhà nghiên cứu
thuộc Viện Sinh thái học miền Nam
(Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam)
cùng với tổ chức Global Wildlife
Conservation và Viện Nghiên cứu
vườn thú và động vật hoang dã
Lebniz (Cộng hòa Liên bang Đức)
vừa phát hiện lại loài Cheo cheo lưng
bạc (hay Cheo cheo Việt Nam, tên
khoa học: Tragulus versicolor)* trong
thiên nhiên hoang dã ở Việt Nam
sau hơn 100 năm loài này được mô
tả (hình 3). Phát hiện này đã được
công bố trên tạp chí khoa học uy tín
Nature Ecology & Evolution, ngày
11/11/2019. Năm 1910, loài Cheo
leo lưng bạc được công bố mới cho
khoa học từ 4 mẫu vật thu thập ở ven
thành phố Nha Trang vào năm 1906
[9], và mãi 80 năm sau mới có một
mẫu khác được mua lại từ thợ săn
vào năm 1990 [10]. Kể từ đó, loài
móng guốc nhỏ nhất này thêm một
lần nữa biệt tích khỏi các báo cáo và
phát hiện khoa học. Lượng thông tin
hiếm hoi về loài thú này đã dấy lên
nhiều nghi vấn rằng liệu chúng có
còn tồn tại ngoài thiên nhiên hoang
dã của Việt Nam nữa hay không?
Nhờ những nỗ lực tìm kiếm và nghiên
cứu, hình ảnh của loài được chụp
lại bằng bẫy ảnh là một minh chứng
thuyết phục cho sự tồn tại của loài và
cũng mở ra được nhiều hướng nghiên
cứu trong tương lai.
*Đây là loài thú móng guốc nhỏ nhất thế
giới, với hình dáng cơ thể của loài nai,
nhưng kích thước chỉ bằng một con thỏ. Cơ
thể dài 50 cm và cân nặng 2,6 kg. Đây là
1 trong 25 loài động vật mà tổ chức Global
Wildlife Conservation xem là đã biến mất và
cần được tìm lại cho thế giới.
hình 2. Thống kê số loài động vật có xương sống và không xương sống được mô tả mới cho khoa
học qua các năm.
34
Khoa học - Công nghệ và đổi mới sáng tạo
Số 3 năm 2020
Trước đó vào năm 2014, một loài
thú khác cũng được phát hiện lại tại
Thanh Hóa sau hơn 80 năm kể từ khi
công bố loài là loài Mang Roosevelt
(Muntiacus rooseveltorum) [11].
Những kết quả nghiên cứu nêu trên
cho niềm hy vọng rằng trong tương
lai, nhiều loài động vật quý hiếm
khác của Việt Nam sẽ tiếp tục được
phát hiện hoặc tái phát hiện.
Việc mô tả một loài mới cho khoa
học hay phát hiện lại một loài từ tự
nhiên đòi hỏi phải có được một cơ sở
để so sánh, đối chiếu. Một loài động
thực vật được mô tả mới sẽ được so
sánh với mẫu vật của loài tương tự để
xem xét sự giống nhau và khác biệt
giữa hai hay nhiều loài. Một bộ mẫu
vật được lưu trữ và bảo quản là cơ
sở cho các so sánh về hình thái nêu
trên. Bên cạnh đó, cơ sở dữ liệu về di
truyền của loài là nguồn gen cần lưu
trữ không chỉ đơn giản phục vụ cho
việc nghiên cứu về di truyền học của
loài, quần thể mà còn giúp tìm kiếm
lại loài trong tương lai như đối với áp
dụng kỹ thuật eDNA.
Những nguồn thông tin nêu trên
cần được lưu trữ theo một hệ thống cơ
sở dữ liệu nhất quán để tạo điều kiện
cho các nhà khoa học sử dụng trong
nghiên cứu, các đơn vị chức năng sử
dụng cho mục tiêu quản lý và khai
thác hiệu quả. Trên thế giới, hệ thống
cơ sở dữ liệu về nguồn tài nguyên đa
dạng sinh học đang là một chủ đề
được nhiều quốc gia quan tâm, và
Hệ thống thông tin đa dạng sinh học
toàn cầu (GBIF) là tiên phong trong
khía cạnh tập hợp và lưu trữ thông tin
về sinh vật trên toàn cầu, tạo thành
một hệ thống dữ liệu vô cùng lớn với
hơn 1,3 tỷ ghi nhận của hơn 1,8 triệu
loài. Nguồn dữ liệu lớn về loài đã
được sử dụng để xây dựng bản đồ đa
dạng sinh học nhưng cũng cần cẩn
trọng trong việc sử dụng nguồn dữ
liệu mở như trên [12, 13].
Bên cạnh đó, sự tác động lên môi
trường tự nhiên của các hoạt động
phát triển kinh tế đã có những ảnh
hưởng đến nguồn tài nguyên sinh vật
của Việt Nam cũng đòi hỏi phải có
được cơ sở dữ liệu nền tảng và các
hoạt động giám sát trong thời gian
dài để phục vụ công tác quy hoạch
và quản lý tài nguyên thiên nhiên ?
tài LiỆu thaM Khảo
[1] D.J. Middleton, H. Atkins, Luu Hong
Truong, K. Nishi and M. Moller (2014),
“Billolivia, a new genus of Gesneriaceae from
Vietnam with five new species”, Phytotaxa,
161(4), pp.241-269.
[2] H.N. Nguyen and V.T. Tran (2016),
“Yersinochloa gen. nov. (Gramineae:
Bambusoideae-Bambusineae) endemic to
the Lam Vien Plateau, southern Vietnam”,
Nordic Journal of Botany, Doi: 10.1111/
njb.01048.
[3] M. Ruedi, J.L. Eger, B.K. Lim and G.
Csorba (2018), “A new genus and species
of vespertilionid bat from the Indomalayan
Region”, Journal of Mammalogy, 99(1),
pp.209-222.
[4] Joachim Bresseel, Jérome Constant
(2015), “The New Genus of Stick Insect
Lobofemora from Vietnam, with the
Description of Three New Species (Phasmida:
Phasmatidae: Clitumnini)”, European Journal
of Taxonomy, 115, pp.1-25, Doi: 10.5852/
ejt.2015.115.
[5] V.T. Do, V.T. Le, and D.D. Phan (2015),
“Binhthuanomom vinhtan a new genus and
new species of semi-terrestrial freshwater
crab (Crustaceae: Decapoda: Brachyura:
Potamidae) form south central Vietnam”,
Zootaxa, 4052(1), pp.117-126.
[6] G.F. Ficetola, C. Miaud, F. Pompanon,
and P. Taberlet (2008), “Species detection
using environmental DNA from water
samples”, Biology Letters, 4(4), pp.423-425.
[7] J.C. Venter, K. Remington, J.F.
Heidelberg, A.L. Halpern, D. Rusch, J.A.
Eisen, D. Wu, I. Paulsen, K.E. Nelson, W.
Nelson, D.E. Fouts, S. Levy, A.H. Knap, M.W.
Lomas, K. Nealson, O. White, J. Peterson,
J. Hoffman, R. Parsons, H. Baden-Tillson,
C. Pfannkoch, Y.-H. Rogers, and H.O. Smith
(2004), “Environmental Genome Shotgun
Sequencing of the Sargasso Sea”, Science,
304(5667), pp.66-74.
[8] Asian Turtle Program (2018),
Environmental DNA helps confirm a new
individual of the world’s rarest turtle in the wild
- 4 animals now know.
[9] O. Thomas (1910), “Three new Asiatic
Mammals”, The Annals and Magazine of
Natural History, 5(8), pp.534-536.
[10] G.V. Kuznetsov and A.V. Borissenko
(2004), “A new record of Tragulus versicolor
(Artiodactyla, Tragulidae) from Vietnam, and
its sympatric occurence with T. kanchil”,
Russian Journal of Theriology, 3(1), pp.9-13.
[11] Le Duc Minh, T.V. Nguyen, H.T.
Duong, H.M. Nguyen, L.D. Dinh, T. Do,
H.D. Nguyen, G. Amato (2014), “Discovery
of the Roosevelt’s Barking Deer (Muntiacus
rooseveltorum) in Vietnam”, Conserv Genetic,
15(4), pp.993-999.
[12] V. Devictor and B.B. Vincent (2016),
“From ecological records to big data: The
invention of Global Biodiversity”, History and
Philosophy of Life Sciences, 38, p.13, Doi:
10.1007/s40656-016-0113-2.
[13] C. Maldonado, C.I. Molina, A.
Zizka, C. Persson, C.M. Taylor, J. Albán, E.
Chilquillo, N. Rønste, and A. Antonelli (2015),
“Estimating species diversity and distribution
in the era of Big Data: to what extent can
we trust public databases?”, Glob. Ecol.
Biogeogr., 24(8), pp.973-984.
hình 3. hình ảnh của loài Cheo cheo lưng bạc được bẫy ảnh chụp lại từ tự nhiên.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
da_dang_sinh_hoc_o_viet_nam_va_nhung_thanh_tuu_moi.pdf