Giá trị của CHT trong chẩn đoán bất thường
kênh chung mật tụy
Sự tồn tại bất thường kênh mật tụy chung đã ủng
hộ cho cơ chế hình thành nang ông mật chủ, khi ống
mật tụy chung dài thường là do ống tụy đổ vào đường
mật cao hơn bình thường phía trên cỏ thắt Oddi đã
cho phép dịch tụy trào ngược tự do vào đường mật.
Dịch tụy được dịch mật hoạt hóa đã phá hủy dần thành
đường mật làm cho thành đường mật mỏng và dãn ra.
Cắt bỏ toàn bộ nang phẫu tích sát đầu xa của ống
mật chủ tránh làm tổn thương ống tụy chính là một một
tiêu chuẩn bắt buộc trong phẫu thuật. Nếu phát hiện được
bất thường này trước mổ, các nhà ngoại khoa sẽ phẫu
tích sát vị trí hợp lưu với ống tụy và được khuyết cáo cẩn
trọng hơn để tránh làm tổn thương ống tụy. Trong tuyệt
đại đa số các trường hợp việc khảo sát trước mổ bằng
siêu âm đã cung cấp phần lớn các thông tin trước mổ
như: đặc điểm nang, kích thước nang và sự lan rộng của
nang. Tuy nhiên trường thăm khám trên siêu âm hạn chế
đối với đầu xa của OMC, ống mật tuỵ chung. Vấn đề này
thì CHT mật tụy đã tỏ ra ưu thế rõ rệt.
Gần đây đã có rất nhiều nghiên cứu được báo cáo
giá trị của CHT mật tụy đối với các bệnh lí đường mật tụy
ở trẻ em. H. Irie[9] và cộng sự thông báo chụp CHT mật
tụy có thể xác định được 83.3% (5/6) các trường hợp có
bất thường KCTM với độ tuổi trung bình 7.8 tuổi khi sử
dụng chuỗi xung đa lát cắt nhanh multislice half-Fourier
acquisition single-shot turbo spin-echo (HASTE).
Miyazaki và cộng sự[10] cũng thông báo sử dụng
chuỗi xung HASTE sử dụng kỹ thuật không nín thở
(nonbreath-hold technique) phát hiện được 3/6 (50%)
trẻ em có bất thường KCTM kết hợp với MOMC. H.
Irie[9] và cộng sự, cũng thông báo phát hiện chính
xác bất thường KCTM có sự dụng chuỗi xung HASTE
được 4/10 (40%) trường hợp với độ tuổi trung bình là
10 tháng nhưng rất khó phát hiện những trường hợp có
nút nhày lấp đầy trong lòng đoạn thấp OMC.
5 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 36 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đặc điểm hình ảnh nang ống mật chủ ở trẻ em trên siêu âm và cộng hưởng từ 1.5T, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 19 - 03/201516
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
SCIENTIFIC RESEARCH
SUMMARY
* BV Nhi Trung Ương
** BV Việt Đức Hà Nội
ĐẶC ĐIỂM HÌNH ẢNH NANG ỐNG
MẬT CHỦ Ở TRẺ EM TRÊN SIÊU ÂM
VÀ CỘNG HƯỞNG TỪ 1.5T
Imaging characteristics of choledochal cysts in children
on ultrasound and MRI 1.5T
Lê Đình Công*, Nguyễn Duy Huề**
Purposes: The description of Imaging characteristics of
choledochal cysts in children on Ultrasound and MRI 1.5T
Material and methods: 44 patients were diagnosed choledochal
cysts on Ultrasound and/or had Ultrasound and MRCP from 7/2012 to
9/2013 in National Hospital of Pediatrics. 16 patients with choledochal
cysts underwent MRCP using a half –Fourier acquisition single-shot
turbo spin-echo sequence. MRCP findings were compared with
intraoperative cholangiography.
Result: In 44 patients choledochal cysts including 34 girls and
10 boys:age range, 2 months -16 years; mean age 3.4 years. Clinical
presentation: abdominal pain is the most common symptom (72.72%),
vomiting (63.18%), fever (15.90%), jaundice (13.63%). The type of
choledochal cysts (according to Todani): type I (93%), type IVa (7%);
Type of dilatation: cystic dilatation (77.27%), fusiform dilatation
(22.73%); mean measurement: 39.47mm; stone in cyst (29.5%);
intrahepatic duct dilatation (43.18%); gallstone (6.8%). MRCP findings
(n=16): with the most common form being typeI 87.5% (14/16),
typeIVa 12.5% (2/16); cystic dialatation (93.7%), fusiform dilatation
6.3%. Cystolithiasis (75%); intrahepatic duct dilatation (56,25%).
Kappa value was good agreement (k: 0.717-0.738) when compared
Ultrasound and MRCP. The presence of the anomalous junction of
pancreaticobiliary duct was revealed by MRCP in only 10 cases of
13 cases choledochal cysts with Kappa value was good agreement
(k=0.612) when compared with intraoperative cholangiography.
Conclusion: Ultrasound and MRI showed overall good accuracy
in the detection and the classification of choledochal cysts and
revealed associated complications. MR cholangiopancreatography
provides information about anomalous pancreaticobiliary ductal
union in children with choledochal cyst.
Key words: Choledochal cyst, Ultrasound. Magnetic resonance
cholangiopancreatography (MRCP).
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 19 - 03/2015 17
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Nang ống mật chủ là một hình thái bất thường giải
phẫu bẩm sinh của đường mật, trong đó OMC giãn
thành nang hình túi hoặc hình thoi mà không có tắc ở
phần cuối của OMC.
Bệnh gặp với tỉ lệ 3-4 nữ/1 nam. Ở Mỹ tỉ lệ mắc
bệnh là 1/100.000 trẻ đẻ ra sống [1] và 1/13.000 số
bệnh nhân vào viện. Ở Nhật Bản bệnh phổ biến hơn với
tỉ lệ 1/1.000 trẻ đẻ ra sống.
Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh áp dụng để
chẩn đoán bao gồm: siêu âm, CLVT, CHT, chụp mật tuỵ
ngược dòng, chụp xạ hình và chụp mật trong mổ.
Siêu âm là phương pháp dễ thăm khám, không xâm
nhập, rẻ tiền và dễ thực hiện. Phương pháp có tỉ lệ chẩn
đoán đúng rất cao đối với nang ống mật chủ. CLVT có
thể cung cấp khá đầy đủ, chi tiết về vị trí, kích thước và
đặc điểm của nang ống chủ, nhưng còn nhiều mặt hạn
chế vì có nguy cơ phơi nhiễm với tia X và chưa cung cấp
được đầy đủ hình ảnh toàn bộ cây đường mật - tuỵ.
CHT mật tuỵ có nhiều ưu điểm vượt trội như: không
xâm nhập cơ thể, không dùng tia X, cho hình ảnh cây
đường mật 2 chiều hay 3 chiều, tái tạo trên các mặt phẳng
khác nhau, bộc lộ rõ nét hình ảnh giải phẫu của toàn bộ
cây đường mật, ống tụy cũng như đoạn chung mật tụy
và các tổn thương đi kèm. Việc phát hiện có bất thường
kênh chung mật tụy trước mổ là rất quan trọng trong bệnh
lý nang ống mật chủ vì nó liên quan đến cơ chế bệnh sinh,
chỉ định và cách thức phẫu thuật. Từ những lý do trên
chúng tôi nghiên cứu áp dụng cả hai phương pháp SA kết
hợp với CHT trong bệnh lý nang ống mật chủ ở trẻ em với
một mục tiêu là: Mô tả đặc điểm hình ảnh nang ống chủ ở
trẻ em trên siêu âm và cộng hưởng từ 1.5T.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu: 44 bệnh nhân được siêu
âm trước mổ (trong đó có 16 BN tiến cứu được siêu
âm, chụp CHT 1.5T và chụp mật trong mổ) từ 7/2012
đến 9/2013 tại BV Nhi Trung Ương.
Phương tiện nghiên cứu: máy cộng hưởng từ 1,5
Tesla Avanto, Essenza, máy siêu âm: Philips HD11.
Phương pháp nghiên cứu: hồi cứu và tiên cứu mô
tả cắt ngang.
Xử lí số liệu: sử dụng phần mềm SPSS 16.0.
III. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Trong số 44 BN được chẩn đoán NOMC có 34 là nữ
và 10 là nam, tuổi trung bình: 3.4±3.41 tuổi, nhỏ nhất là 2
tháng, lớn nhất là 16 tuổi. Đa số gặp BN ở nhóm tuổi 1-5
tuổi (59%). Triệu chứng lâm sàng phổ biến là đau bụng
(72.72%), nôn (63.81%), sốt (15.90%), vàng mắt vàng
da (13.63%). Trong đó triệu chứng đau bụng là chủ yếu
và là lý do BN được đưa đến khám và chẩn đoán.
2. Đặc điếm hình ảnh NOMC trên siêu âm
Phân tích đặc điểm hình ảnh của 44 BN NOMC
chúng tôi thấy có các đặc điểm hình ảnh sau:
2.1. Đặc điểm về hình dạng nang
Bảng 1. Hình dạng nang
Hình dạng nang Số bệnh nhân Tỉ lệ %
Giãn hình nang 34 77,27
Giãn hình thoi 10 22,73
Tổng số 44 100%
Giãn dạng nang là chủ yếu (77.27%), giãn dạng
thoi (22.73%) kết quả này cũng gần tương đồng với
nghiên cứu của Trường Nguyễn Uyên Linh[2] với hình
nang là 76.07%, dạng thoi là 23.93%.
Hình 1. Sỏi trong nang
(BN Nguyễn Quyền A 5t MS 28971 NOMC
có sỏi trong nang)
2.2. Đặc điểm về kích thước nang
Trong nhóm nghiên cứu cuả chúng tôi kích thước
nang trung bình 39.47±3.07 mm, nang nhỏ nhất 14mm,
nang lớn nhất 106mm. Kết quả này cũng gần đúng với
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 19 - 03/201518
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
tác giả Phạm Duy Hiền[3] kích thước nang trung bình
là 43.8±2.3mm.
2.3. Đặc điểm dịch mật trong nang và sỏi đường
mật trong gan
Có 13/44 (29.5%) có biến chứng sỏi trong nang, kèm
theo dày thành nang, gần phù hợp với kết quả Atkinson
HDE (37.5%) [4]. Chúng tôi không gặp trường hợp nào có
sỏi đường mật trong gan trên mẫu nghiên cứu.
2.4. Giãn đường mật trong gan
19/44 trường hợp có giãn nhẹ đường mật trong
gan chiếm tỉ lệ 43.18%, phù hợp với kết quả nghiên cứu
B.K Han, D.S.Babcock (45.9%)[6], không có trường
hợp nào giãn đường mật trong gan vùng ngoại vi.
2.5. Đặc điểm phân loại NOMC theo Todani
Với typ I là 93%, typ IVa 7%, chúng tôi không gặp
các typ còn lại trong mẫu nghiên cứu. Phù hợp với kết
quả nghiên cứu của Wendy W.M.Lam (typ I: 90.9%, typ
IVa: 9.1%)[7].
2.6. Các đặc điểm khác
Trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi có 3/44 trường
hợp có sỏi túi mật và thành dày túi mật, có 5 trường hợp
dày thành nang đều thuộc nhóm có sỏi trong nang.
3. Đặc điểm hình ảnh NOMC trên CHT 1.5T
Trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi chỉ thực hiện
được 16 BN được chụp CHT 1.5T, số BN này được làm
siêu âm trước đó và được chụp đường mật trong mổ.
3.1. Hình dạng nang và phân loại nang trên CHT
Trong số 16 BN NOMC có 15/16 trường hợp là
giãn hình nang, chỉ có 1 trường hợp là giãn hình thoi.
Như vậy hình thái giãn dạng nang là phổ biến hơn,
hiếm gặp giãn dạng thoi.
Có 14/16 BN là typ I chiếm 87.5%, 2/16 BN là typ
IVa chiếm 12.5% phù hợp với nghiên cứu trước đây của
Wendy W, Lam Tina[7] typ I là 90.9%, typ IVa là 9.1%.
3.2. Đặc điểm tín hiệu dịch mật trong nang
Có 12/16 (75%) trường hợp tín hiệu dịch mật trong
nang với đặc điểm trống tín hiệu hoặc tín hiệu dạng
khảm do sỏi và điều này được khẳng định đúng với
kết quả sau mổ. Biến chứng hình thành sỏi trong nang
trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi cao hơn so với
tác giả Muyng-Joong Kim (38.45%)[8] là do có sự khác
biệt về cỡ mẫu nghiên cứu.
3.3. Các dấu hiệu khác phát hiện trên CHT
Trong số 16 BN chúng tôi phát hiện có 9/16 BN có
giãn đường mật trong gan gần rốn gan chiếm 56.25%,
không có trường hợp nào giãn đường mật trong gan
vùng ngoại vi và chít hẹp đường mật trong gan, nhưng
thực tế có một trường hợp chít hẹp đường mật trong
gan khi quan sát kết quả chụp mật trong mổ.
Đối với sỏi trong kênh mật tụy chung và sỏi ống
tụy chính chúng tôi không gặp một trường hợp nào trên
CHT, ngược lại trong nghiên cứu Wendy W.Lam tỉ lệ
này là khoảng 38-43%[7] chúng tôi lý giải là do trong
nhóm nghiên cứu của tác giả chủ yếu là người lớn tuổi.
3.4. Giá trị của CHT trong chẩn đoán bất thường
kênh chung mật tụy
Sự tồn tại bất thường kênh mật tụy chung đã ủng
hộ cho cơ chế hình thành nang ông mật chủ, khi ống
mật tụy chung dài thường là do ống tụy đổ vào đường
mật cao hơn bình thường phía trên cỏ thắt Oddi đã
cho phép dịch tụy trào ngược tự do vào đường mật.
Dịch tụy được dịch mật hoạt hóa đã phá hủy dần thành
đường mật làm cho thành đường mật mỏng và dãn ra.
Cắt bỏ toàn bộ nang phẫu tích sát đầu xa của ống
mật chủ tránh làm tổn thương ống tụy chính là một một
tiêu chuẩn bắt buộc trong phẫu thuật. Nếu phát hiện được
bất thường này trước mổ, các nhà ngoại khoa sẽ phẫu
tích sát vị trí hợp lưu với ống tụy và được khuyết cáo cẩn
trọng hơn để tránh làm tổn thương ống tụy. Trong tuyệt
đại đa số các trường hợp việc khảo sát trước mổ bằng
siêu âm đã cung cấp phần lớn các thông tin trước mổ
như: đặc điểm nang, kích thước nang và sự lan rộng của
nang. Tuy nhiên trường thăm khám trên siêu âm hạn chế
đối với đầu xa của OMC, ống mật tuỵ chung. Vấn đề này
thì CHT mật tụy đã tỏ ra ưu thế rõ rệt.
Gần đây đã có rất nhiều nghiên cứu được báo cáo
giá trị của CHT mật tụy đối với các bệnh lí đường mật tụy
ở trẻ em. H. Irie[9] và cộng sự thông báo chụp CHT mật
tụy có thể xác định được 83.3% (5/6) các trường hợp có
bất thường KCTM với độ tuổi trung bình 7.8 tuổi khi sử
dụng chuỗi xung đa lát cắt nhanh multislice half-Fourier
acquisition single-shot turbo spin-echo (HASTE).
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 19 - 03/2015 19
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Miyazaki và cộng sự[10] cũng thông báo sử dụng
chuỗi xung HASTE sử dụng kỹ thuật không nín thở
(nonbreath-hold technique) phát hiện được 3/6 (50%)
trẻ em có bất thường KCTM kết hợp với MOMC. H.
Irie[9] và cộng sự, cũng thông báo phát hiện chính
xác bất thường KCTM có sự dụng chuỗi xung HASTE
được 4/10 (40%) trường hợp với độ tuổi trung bình là
10 tháng nhưng rất khó phát hiện những trường hợp có
nút nhày lấp đầy trong lòng đoạn thấp OMC.
Bảng 2. Đối chiếu kết quả của chụp CHT so với chụp
mật trong mổ
Bệnh Không bệnh Tổng số
Dương tính 10 0 10
Âm tính 3 3 6
Tổng số 13 3 16
Trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi có 10/16
(62.5%) trường hợp bất thường KCTM trên CHT, chụp
mật trong mổ phát hiện được 13/16 trường hợp có bất
thường KCMT, khi so sánh với kết quả chụp mật trong
mổ, lấy kết quả chụp mật trong mổ làm tiêu chuẩn vàng
chúng tôi tính được chỉ số Kappa, kết quả là có sự phù
hợp cao giữa hai phương pháp với k=0.612. Kết quả này
cũng này cũng tương đương với tác giả Myung-Joon
Kim [8] khi nghiên cứu 20 trường hợp NOMC, CHT phát
hiện được 12 trường hợp, chụp mật trong mổ phát hiện
được 16 trường hợp có bất thường KCMT, như vậy có
sự phù hợp cao giữa hai phương pháp với k=0.704.
Hình 2. NOMC giãn hình thoi trên CHT và bất thường KCTM
BN Nguyễn Gia L 17 th MS 32571, NOMC giãn hình
thoi, có bất thường KCTM.
Hình 3. Bất thường KCTM trên phim chụp mật trong
mổ và CHT chuỗi xung Thin- HASTE
(BN Nguyễn Gia L 17th MS 85626)
3.5. Sự phù hợp giữa siêu âm và CHT trong chẩn
đoán NOMC
Cả hai phương pháp này đều chẩn đoán chính
xác 100% các trường hợp là NOMC, tuy nhiên có sự
khác biệt về kết quả giãn OGP và OGT trên siêu âm
và CHT, siêu âm phát hiện 11/16 trường hợp có giãn
OGP và OGT, trong khi đó CHT phát hiện 9/16 trường
hợp có giãn OGP và OGT, sau khi chúng tôi xem lại
hình ảnh trên CHT thì nhận thấy cả hai trường hợp này
đều thuộc typ IVa, nhưng khi so sánh giữa hai phương
pháp thì chúng tôi nhận thấy có sự đồng thuận cao giữa
hai phương pháp với chỉ số Kappa (k=0.714). Như vậy,
theo chúng tôi giá trị chẩn đoán NOMC của hai phương
pháp là gần tương đương nhau.
IV. KẾT LUẬN
Nghiên cứu cho thấy rằng siêu âm và CHT có giá
trị cao trong chẩn đoán nang ống mật chủ, có khả năng
tiếp cận tốt với phân loại tổn thương. Sự phù hợp trong
chẩn đoán giữa siêu âm và CHT ở mức cao (hệ số
Kappa = 0,714). Tuy nhiên, CHT có khả năng phát hiện
bất thường kênh chung mật tụy giúp cho việc xác định
cơ chế bệnh sinh, chỉ định và phương pháp phẫu thuật,
khả năng này không thực hiện được bằng siêu âm.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. T. Miyano, A. Yamataka, Y. Kato, O. Segawa,
G. Lane, S. Takamizawa, S. Kohno T. Fujiwara (1996),
“Hepaticoenterostomy after excision of choledochal
cyst in children: a 30-year experience with 180 cases”,
J Pediatr Surg, 31(10), p.1417-21.
2. Truong Nguyen Uy Linh, Nguyen Kinh
Bang, Dao Trung Hieu (2008), “Choledochal cyst in
children: the results of complete cyst exision with high
hepaticojejunostomy”, Y Hoc TP. Ho Chi Minh Vol. 12
(Supplement of No 1 - 2008), p.131 - 140.
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 19 - 03/201520
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
3. Phạm Duy Hiền (2012), “Nghiên cứu ứng dụng
phẫu thuật nội soi nang ống mật chủ ở trẻ em”, Luận án
tiến sĩ khoa học Y học. Học viện quân Y.
4. CP Fischer HDE Atkinson, CHC De Jong, KK
Madhavan, RW Parks, OJ Garden (2003), “Choledochal
cysts in adults and their complications”, International
Hepato-Pancreato-Biliary Association, 5(2), p.105-110.
5. M. Suzuki, T. Shimizu, T. Kudo, R. Suzuki, Y.
Ohtsuka, Y. Yamashiro, A. Shimotakahara A. Yamataka
(2006), “Usefulness of nonbreath-hold 1-shot magnetic
resonance cholangiopancreatography for the evaluation
of choledochal cyst in children”, J Pediatr Gastroenterol
Nutr, 42(5), p.539-44.
6. B. K. Han, D. S. Babcock M. H. Gelfand (1981),
“Choledochal cyst with bile duct dilatation: sonography
and 99mTc IDA cholescintigraphy”, AJR Am J
Roentgenol, 136(6), p.1075-9.
7. Wendy W. Lam, T. P. Lam, H. Saing, F. L. Chan
K. L. Chan (1999), “MR cholangiography and CT
cholangiography of pediatric patients with choledochal
cysts”, AJR Am J Roentgenol, 173(2), p.401-5.
8. Seok Joo Han Myung-Joon Kim, Choon Sik Yoon,
Joo Hee Kim, Jung-Tak Oh, Ki Sup Chung and Hyung
Sik Yoo (2002), “Using MR Cholangiopancreatography
to Reveal Anomalous Pancreaticobiliary Ductal Union in
Infants and Children with Choledochal Cysts”, American
Journal of Roentgenology, 179(1), p.209-214.
9. H. Irie, H. Honda, T. Kuroiwa, K. Yoshimitsu,
H. Aibe, K. Shinozaki K. Masuda (2001), “Pitfalls
in MR cholangiopancreatographic interpretation”,
Radiographics, 21(1), p.23-37.
10. T. Miyazaki, Y. Yamashita, T. Tsuchigame,
H. Yamamoto, J. Urata M. Takahashi (1996), “MR
cholangiopancreatography using HASTE (half-Fourier
acquisition single-shot turbo spin-echo) sequences”,
AJR Am J Roentgenol, 166(6), p.1297-303.
TÓM TẮT
Mục đích: mô tả đặc điểm hình ảnh nang ống mật chủ ở trẻ em trên siêu âm và CHT 1.5T.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 44 BN được chẩn đoán là nang OMC trên siêu âm và hoăc trên siêu
âm và CHT thời gian từ 7/2012 đến 9/2013 tại BV Nhi Trung Ương. Trong đó có 16 BN được chụp CHT mật tụy sử
dụng chuỗi xung HASTE trên máy có công suất 1.5T. Kết quả chụp CHT được so sánh với kết quả chụp mật trong mổ.
Kết quả: trong số 44 BN NOMC có 34 trẻ gái và 10 trẻ trái, tuổi trung bình 3.4 tuổi, nhỏ nhất là 2 tháng, lớn nhất
16 tuổi. Dấu hiệu lâm sàng: đau bụng 72,72%, nôn 63,18%, sốt 15,90%, vàng da 13,63%. Phân loại của Todani:
typ I 93%, typ IVa 7%. Giãn dạng nang 77,27%, dạng thoi 22,73%. Kích thước nang trung bình 39,47 mm: sỏi trong
nang trên siêu âm 29,5% (13/44); giãn đường mật trong gan 43,18%, sỏi túi mật 6,8%. Kết quả trên CHT (n=16)
chủ yếu typ I 87,5% (4/16), type IVa 12,5% (2/16); giãn dạng nang 93,75% (15/16), giãn dạng thoi 6,25% (1/16);
sỏi trong nang 75%, giãn đường mật trong gan 56,25%, có sự phù hợp cao giữa hai phương pháp siêu âm và CHT
trong chẩn đoán NOMC với chỉ số Kappa là: 0.714-0.738. CHT phát hiện bất thường kênh chung mật tụy được 10
BN trong tổng số 13 BN có bất thường, có sự phù hợp cao khi so sánh với kết quả chụp mật trong mổ (k=0.614).
Kết luận: siêu âm và CHT có kết quả chẩn đoán chính xác trong việc phát hiện, phân loại nang và các biến
chứng kết hợp trong bệnh lí NOMC ở trẻ em. CHT đường mật tụy cung cấp các thông tin hữu ích về bất thường kênh
chung mật tụy đối với NOMC ở trẻ em.
Từ khóa: nang ống mật chủ; siêu âm, CHT đường mật tụy.
Người liên hệ: Lê Đình Công, Khoa Chẩn đoán hình ảnh BV Nhi Trung ương
Email: congnhp@gmail.com
- Ngày nhận bài: 22/2/2015
- Ngày chấp nhận đăng: tháng 3/2015
NGƯỜI THẨM ĐỊNH: PGS. TS. Lâm Khánh
Các file đính kèm theo tài liệu này:
dac_diem_hinh_anh_nang_ong_mat_chu_o_tre_em_tren_sieu_am_va.pdf