Bao hàm trên và bao hàm dưới có cấu trúc
tương tự nhau. Mép các bao hàm có răng cưa hình
nón cụt khá dày, hơi cong và hướng vào trong.
Răng sừng ở môi trên và môi dưới có cấu trúc
giống nhau. Ngoại trừ hàng A1, các hàng răng
sừng còn lại được gắn trên các nếp thịt nhô ra từ
môi. Răng sừng trên mỗi hàng răng tách rời nhau,
có dạng hình cái thìa, cong và hướng vào trong
miệng, viền các răng sừng có răng cưa nhọn (Hình
5).
Bảng 3 thể hiện các nghiên cứu về các loài
trong giống Quasipaa Dubois [1] được nhiều nhà
nghiên cứu trên thế giới thực hiện, trong đó có
những nghiên cứu về nòng nọc của Inthara và cộng
sự [18]; Fei và cộng sự [19], v.v. Riêng loài Q.
delacouri mới chỉ có mô tả gốc của Angel [3] và các
ghi nhận về phân bố cũng như tu chỉnh mặt phân
loại học của Dubois, Bourret, Guibé, Stuart, và Che
và cộng sự [1], [4-7]. Nòng nọc loài Q. delacouri với
đặc điểm hình thái và cấu tạo miệng riêng cho loài,
khác biệt với các loài trong cùng giống. Miệng
nòng nọc Q. delacouri có 11 hàng răng sừng (tám
hàng răng sừng ở môi trên, ba hàng răng sừng ở
môi dưới, số hàng răng sừng nhiều hơn so với
những loài trong giống đã được nghiên cứu mô tả
nòng nọc. Đây là nghiên cứu đầu tiên về nòng nọc
loài Q. delacouri, đồng thời ghi nhận mở rộng vùng
phân bố của loài ở tỉnh Nghệ An.
Kết luận
Nòng nọc loài Quasipaa delacouri có thân
màu vàng xám nhạt, phía trên lưng và đuôi sẫm
màu hơn phía dưới bụng. Chiều dài thân trung
bình là 11,11 mm; chiều dài mút mõm – mút đuôi
trung binh là 26,91 mm. Thân nòng nọc hình bầu
dục khi nhìn từ mặt trên, hình e-líp khi nhìn từ mặt
bên. Phía trên đuôi nòng nọc có các đốm kích thước
không đều, màu đen.
Nòng nọc có 11 hàng răng sừng: Môi trên
gồm ba hàng nguyên phía ngoài, năm hàng chia
phía trong; môi dưới có một hàng chia phía trong,
hai hàng nguyên phía ngoài. Các hàng răng
nguyên dài và uốn cong. Bao phía ngoài miệng là
hàng gai thịt không hoàn toàn, gai thịt ở môi trên
chỉ có ở hai bên mép. Bên trong miệng nòng nọc có
nhiều gai thịt dài – ngắn khác nhau; một số gai thịt
hình có hình rễ. Thềm miệng có giới hạn phía sau
là một nếp da, rìa nếp da có răng cưa thưa. Răng
sừng và bao hàm có cấu trúc với các viền răng cưa
ở phía ngoài, răng sừng cong và hướng vào phía
trong miệng.
9 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 2 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đặc điểm hình thái nòng nọc loài ếch vạch (quasipaa delacouri) ở vườn quốc gia Pù Mát, tỉnh Nghệ An, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Khoa học Tự nhiên
Tập 128, Số 1C, 25–33, 2019
pISSN 1859-1388
eISSN 2615-9678
DOI: 10.26459/hueuni-jns.v128i1C.5330 25
ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI NÒNG NỌC LOÀI ẾCH VẠCH (Quasipaa
delacouri) Ở VƯỜN QUỐC GIA PÙ MÁT, TỈNH NGHỆ AN
Đỗ Văn Thoại1, Cao Tiến Trung2, Nguyễn Thị Thảo3, Ngô Văn Bình4*
1 Học viện Khoa học và Công nghệ, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 18 Hoàng Quốc Việt,
Hà Nội, Việt Nam
2 Viện Công nghệ Hóa sinh – Môi trường, Đại học Vinh, 182 Lê Duẩn, Vinh, Việt Nam
3 Viện Sư phạm Tự nhiên, Đại học Vinh, 182 Lê Duẩn, Vinh, Việt Nam
4 Đại học Sư phạm, Đại học Huế, 34 Lê Lợi, Huế, Việt Nam
* Tác giả liên hệ Ngô Văn Bình
(Ngày nhận bài: 14-7-2019; Ngày chấp nhận đăng: 11-9-2019)
Tóm tắt. Kết quả phân tích sinh học phân tử dựa trên trình tự gen ti thể 16S rRNA lấy từ mẫu cơ đuôi
của nòng nọc Quasipaa delacouri ở Vườn Quốc gia Pù Mát, tỉnh Nghệ An có sự tương đồng 100% khi so
sánh với trình tự gen của loài Q. delacouri đã được công bố trên GenBank, qua đó mở rộng sự phân bố
của loài này ở miền Trung nước ta. Nòng nọc loài Q. delacuori ở Nghệ An có thân hình bầu dục, chiều
dài mút mõm – mút đuôi ở giai đoạn 25 từ 22,89 đến 32,44 mm. Nòng nọc có màu vàng xám nhạt, phía
trên mặt lưng sẫm màu hơn phía dưới mặt bụng. Nòng nọc có 11 hàng răng sừng nằm ở phía trong
miệng, bên trong hàng gai thịt ở ngoài môi, công thức răng sừng (LTRF): III(5+5)/(1+1)II. Bên trong các
hàng răng sừng là bao hàm trên và bao hàm dưới của nòng nọc. Răng sừng và bao hàm của nòng nọc có
viền răng cưa bên ngoài, răng sừng cong và hướng vào phía trong miệng. Thềm miệng và vòm miệng
có nhiều gai thịt, các gai thịt có chiều dài khác nhau, một số gai thịt trong miệng có dạng hình rễ cây.
Từ khóa: Nghệ An, nòng nọc, Pù Mát, Quasipaa, Quasipaa delacouri
Morphological characteristics of Quasipaa delacouri tadpoles in Pu Mat
National Park, Nghe An province
Do Van Thoai1, Cao Tien Trung2, Nguyen Thi Thao3, Ngo Van Binh4*
1 Graduate University of Science and Technology, Vietnam Academy of Science and Technology 18 Hoang Quoc Viet
St., Ha Noi, Vietnam
2 School of Biochemical Technology – Environment, Vinh University, 182 Le Duan St., Vinh, Nghe An
3 School of Natural Sciences Education, Vinh University, 182 Le Duan St., Vinh, Nghe An
4 Department of Biology, University of Education, Hue University, 34 Le Loi St., Hue, Vietnam
* Correspondence to Ngo Van Binh
(Received: 14 July 2019; Accepted: 11 September 2019)
Abstract. An analysis of the 16S rRNA mitochondrial sequence from the tail muscle of the tadpole
Quasipaa delacouri in Pu Mat National Park, Nghe An Province, found 100% similarity with the DNA
sequence of the species on GenBank, thereby expanding the distribution of this species in central
Vietnam. The tadpole Q. delacuori in Nghe An Province has an oval body and a total length at stage 25,
Đỗ Văn Thoại và CS.
26
ranging from 22.89 to 32.44 mm. The tadpole has a light greyish-yellow colour, and the upper part of the
back is darker than the ventral surface. Q. delacuori tadpoles have 11 labial tooth rows located in the
inside of the mouth with the labial tooth row formula (LTRF): III(5 + 5)/(1 + 1)II. The upper and lower
jaws of the tadpole are inside the labial tooth rows. The labial teeth and jaws of the tadpole have serrated
edges on the outside with the horns curving into the mouth. The floor and the roof of the buccal cavity
of the tadpole have many papillae with different lengths, and some papillae in the mouth have the shape
of roots.
Keywords: Nghe An, tadpole, Pu Mat, Quasipaa, Quasipaa delacouri
1 Mở đầu
Hiện tại, giống Quasipaa Dubois trên thế giới
đã ghi nhận được 11 loài [1]. Tuy nhiên, ở Việt Nam
chỉ ghi nhận được 5 loài (Q. acanthophora, Q.
boulengeri, Q. courtoisi, Q. delacouri, Q.
verrucospinosa) [2]. Trong đó, loài Ếch vạch (Q.
delacouri) được Angel mô tả lần đầu, sau đó được
Bourret, Guibé, Stuart và Che và cộng sự tu chỉnh
về mặt phân loại nhiều lần [3-7]. Ếch vạch là một
loài ếch có kích thước cơ thể lớn, có vùng phân bố
hẹp và hiếm gặp [8]. Mặt khác, những nghiên cứu
trước đây về loài này chủ yếu tập trung vào phân
loại học và ghi nhận sự phân bố [2, 8].
Vườn Quốc gia Pù Mát được thành lập năm
2001 theo Quyết định 174/2001/QĐ-TTg ngày 08
tháng 11 năm 2001 với diện tích vùng lõi 91.113 ha,
nằm trong Khu dự trữ Sinh quyển Tây Nghệ An
với mức độ đa dạng sinh học cao. Các nghiên cứu
trước đây ở Pù Mát có liên quan đến khu hệ lưỡng
cư được nhiều tác giả: Stuart, Lê Nguyên Ngật và
Hoàng Xuân Quang, Hoàng Xuân Quang và cộng
sự, Orlov và cộng sự thực hiện [9-12]. Tuy nhiên,
đến nay chưa có ghi nhận nào về sự phân bố của
loài Q. delacouri ở đây.
2 Vật liệu và phương pháp
Sáu cá thể nòng nọc Q. delacouri ở giai đoạn
25 Gosner [13] được thu thập từ ngày 04 đến ngày
07 tháng 3 năm 2018 tại Vườn Quốc gia Pù Mát,
tỉnh Nghệ An. Nòng nọc được thu bằng vợt lưới,
sau đó chụp ảnh, đo các số đo hình thái và lấy mẫu
cơ ở phần đuôi để phân tích ADN. Các mẫu mô
được bảo quản trong lọ chứa 2 mL cồn tinh khiết.
Các mẫu vật khác được bảo quản trong hỗn hợp
dung dịch formalin 10% và cồn 70% pha theo tỉ lệ
1:1. Mỗi mẫu vật được ghi nhãn riêng biệt để thuận
tiện cho việc quản lý và phân tích về sau.
Phân tích sinh học phân tử (ADN) được thực
hiện tại Phòng thí nghiệm Công nghệ sinh học,
Trung tâm Thực hành Thí nghiệm, Trường Đại học
Vinh. Gen 16S rRNA ti thể được tách chiết bằng Kit
DNeasy Blood & Tissue (Hãng Qiagen, Đức) theo
hướng dẫn của hãng. Sử dụng cặp mồi xuôi
16SAR-L: 5'-CGCCTGTTTATCAAAAACA T-3' và
mồi ngược 16SBR-H: 5'-CCGGTCT GAA
CTCAGATCACGT-3' để thực hiện PCR sản phẩm
tách chiết ADN hệ gen. Quy trình PCR đoạn gen
được thực hiện trong hỗn hợp phản ứng gồm 12,5
micro lít MyTaq Mix 2× (Bioline, Mỹ), 1,5 micro lít
các mồi (nồng độ 10 micro mol), nước và 50 nano
gam ADN mẫu. Quy trình gồm sáu bước 1: 95 °C,
4 phút; 2: 94 °C, 45 giây; 3: 55 °C, 30 giây; 4: 72 °C,
1,5 phút; 5: 72 °C, 6 phút; 6: 4 °C, 60 phút; bước 2, 3
và 4 lặp lại 35 chu kỳ. Trộn sản phẩm PCR với đệm
tải Gelred DNA tricolor 6X rồi điện di trên bản gel
agarose 1,2% bằng dòng điện một chiều 100 V
trong 40 phút. Sản phẩm được quan sát dưới ánh
sáng tử ngoại bước sóng 302 nm. Đoạn ADN của
gen 16S rRNA của mẫu vật được giải trình tự
nucleotide tự động (Hãng AIBiotchch, Công ty
Macroge, Hàn Quốc, để giải trình tự, 10F, 254
Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Khoa học Tự nhiên
Tập 128, Số 1C, 25–33, 2019
pISSN 1859-1388
eISSN 2615-9678
DOI: 10.26459/hueuni-jns.v128i1C.5330 27
Beotkkot-ro Geumcheongu, Seoul 08511, Korea).
Trình tự các nucleotide được so sánh với các trình tự
gen tương ứng trên cơ sở dữ liệu của GenBank bằng
chương trình BlastN.
Các số đo hình thái ngoài của nòng nọc được
đo dưới kính hiển vi soi nổi Meiji EMZ-5 kết hợp
với thước kẹp điện tử, độ chính xác 0,01 mm theo
Altig [14]. Các số đo hình thái gồm bl: Dài thân (đo
chiều dài từ mút mõm đến gốc đuôi); bh: Cao thân
(đo ở vị trí cao nhất của thân); bw: Rộng thân (đo
ở vị trí rộng nhất của thân); ed: Đường kính mắt
(đo chiều dài lớn nhất của mắt); ht: Cao đuôi (đo ở
vị trí cao nhất của đuôi); lf: Chiều cao lớn nhất nếp
dưới vây đuôi (đo ở vị trí cao nhất nếp dưới vây
đuôi từ mép dưới của cơ vây đuôi); nn: Khoảng
cách 2 mũi (đo khoảng cách giữa hai lỗ mũi); np:
Khoảng cách mắt – mũi (đo khoảng cách từ mũi
đến giữa mắt); odw: Rộng miệng (đo chiều rộng
lớn nhất của đĩa miệng, kể cả viền miệng); pp:
Khoảng cách giữa hai mắt (đo khoảng cách giữa
hai bờ của mắt); rn: Khoảng cách từ mũi đến mõm
(đo khoảng cách từ mút mõm đến mũi); ss: Khoảng
cách từ lỗ thở đến mõm (đo khoảng cách từ mút
mõm đến mép trong lỗ thở); su: Khoảng cách mút
mõm – nếp trên vây đuôi (đo khoảng cách từ mút
mõm đến khởi điểm nếp trên vây đuôi); tl: Chiều
dài từ mút mõm – đuôi (đo chiều dài từ mút mõm
đến mút đuôi); tail: Chiều dài đuôi (đo chiều dài từ
gốc vây lưng đến mút đuôi); uf: Chiều cao lớn nhất
nếp trên vây đuôi (đo ở vị trí cao nhất nếp trên vây
đuôi kể từ mép trên của cơ vây đuôi); vt: Chiều dài
bụng – mút đuôi (đo chiều dài từ lỗ hậu môn đến
mút đuôi); tmh: Chiều cao cơ đuôi (đo ở vị trí cao
nhất của cơ đuôi); tmw: Dày đuôi (đo ở vị trí rộng
nhất tại gốc đuôi); fl: Dài chi trước (đo chiều dài từ
gốc chi trước đến mút ngón tay dài nhất); hl: Dài
chi sau (đo chiều dài từ gốc đùi đến mút ngón chân
dài nhất); svl: chiều dài mõm – bụng (từ mút mõm
đến lỗ mở của ống hậu môn); LTRF: Công thức
răng. Đơn vị đo: mm. Các thuật ngữ về hình thái
nòng nọc theo Altig và Macdiarmid [15], công thức
răng sừng của nòng nọc theo Dubois [16]. Xác định
giai đoạn phát triển của nòng nọc và mô tả theo
Gosner [13].
3 Kết quả và thảo luận
3.1 Kết quả phân tích sinh học phân tử
Kết quả phân tích sinh học phân tử của mẫu
vật xác định đây là loài Quasipaa delacouri [3]. Trình
tự nucleotide của gen 16S rRNA của mẫu vật thu ở
Pù Mát (TDVT0043) tương đồng 100% khi so sánh
với trình tự nucleotide của mẫu vật loài Quasipaa
delacouri (FMNH258619) đã công bố trên GenBank
(Bảng 1).
Hình 1. Trình tự gen 16S rRNA của mẫu nòng nọc
(TDVT0043) thu ở Vườn Quốc gia Pù Mát, tỉnh Nghệ
An
Bảng 1. Tóm tắt sự liên kết của chuỗi ADN 501-bp (sau
khi cắt) của gen 16S rRNA từ mẫu nòng nọc TDVT0043
và các chuỗi tương ứng trên GenBank.
Loài Tham
khảo
Nguồn Tỉ lệ %
được so
sánh
của
mẫu
TDVT0
043
Tỉ lệ %
tương
đồng
của
mẫu
TDVT
0043
Quasipaa
delacouri
EU9798
12
Che và
CS. [7];
Trung
Quốc
100 100
Quasipaa
cf. spinosa
AY3222
84
Roelants
và CS.
[17]; Bỉ
100 97,42
Quasipaa
sp.
EU9798
09
Che và
CS. [7];
Trung
Quốc
100 97,21
Quasipaa
spinosa
EU9798
07
Che và
CS. [7];
Trung
Quốc
100 97,22
Đỗ Văn Thoại và CS.
28
Loài Tham
khảo
Nguồn Tỉ lệ %
được so
sánh
của
mẫu
TDVT0
043
Tỉ lệ %
tương
đồng
của
mẫu
TDVT
0043
Quasipaa
verrucospi
nosa
EU9798
06.1
Che và
CS. [7];
Trung
Quốc
100 97,22
3.2 Đặc điểm hình thái nòng nọc
Mô tả nòng nọc loài Quasipaa delacouri dựa
vào sáu mẫu vật ở giai đoạn 25 Gosner [13]. Nòng
nọc có kích thước: chiều dài thân (bl) từ 9,91 đến
11,84 mm (trung bình (TB) = 11,11 ± 0,64 mm),
chiều dài từ mút mõm đến mút đuôi (tl) từ 22,89
đến 32,44 mm (TB = 26,91 ± 3,33 mm). Khi nhìn từ
trên xuống, thân nòng nọc có hình bầu dục, chiều
rộng thân bằng 0,54 lần chiều dài thân (bw/bl: 0,51–
0,56). Khi nhìn từ mặt bên, thân nòng nọc có dạng
hình e-líp, phần đầu và mút mõm hơi dẹp, chiều
cao thân bằng 0,49 lần chiều dài thân (bh/bl: 0,43–
0,52).
Đuôi nòng nọc có bản rộng, các nếp vây đuôi
bao phủ phía bên ngoài cơ đuôi, chiều cao đuôi lớn
hơn chiều cao thân (ht/bh: 1,16–1,42) và nhỏ hơn
1/2 lần chiều dài đuôi (ht/tail: 0,32–0,39). Nếp trên
vây đuôi kéo dài từ phía trước gốc đuôi đến mút
đuôi, vị trí cao nhất của nếp trên vây đuôi nằm ở
gần giữa đuôi. Chiều cao lớn nhất nếp trên vây
đuôi bằng 0,36 lần chiều cao thân (uf/bh: 0,27–0,48)
và bằng 0,3 lần cao đuôi (uf/ht: 0,23–0,36). Nếp
dưới vây đuôi kéo dài từ phía sau bụng tới mút
đuôi, vị trí cao nhất của nếp dưới vây đuôi nằm ở
gần 1/3 phía mút đuôi. Chiều cao nếp dưới vây
đuôi lớn hơn chiều cao nếp trên vây đuôi một chút
(lf/uf: 0,83–1,45), bằng 0,37 lần chiều cao thân (0,31–
0,43) và bằng 0,31 lần chiều cao đuôi (lf/ht: 0,27–
0,33). Cơ đuôi hình chữ V, đáy nhọn hướng về phía
trước, chiều cao lớn nhất của cơ đuôi (đo tại vị trí
gốc đuôi) bằng 0,59 lần chiều cao thân (tmh/bh:
0,50–0,73) và bằng 0,49 lần chiều cao đuôi (tmh/ht:
0,37–0,62). Ống hậu môn gắn liền với gốc của nếp
dưới vây đuôi, lỗ mở của ống hậu môn nằm về phía
bên phải, lỗ mở có dạng hình e-líp.
Mắt nòng nọc có kích thước nhỏ, nằm ở phía
bên và hướng lên trên, chiều dài lớn nhất của mắt
nòng nọc (ed) là 1,83 mm, bằng 0,31 lần chiều rộng
thân (ed/bw: 0,27–0,31) và bằng 0,16 lần chiều dài
thân (ed/bl: 0,15–0,16). Khoảng cách giữa hai mắt
lớn, bằng 0,65 lần chiều rộng thân nòng nọc
(pp/bw: 0,61–0,73).
Mũi nòng nọc nhỏ, nằm ở phía trên, hướng
về phía trước và chếch sang hai bên, khoảng cách
từ mũi đến mút mõm lớn hơn khoảng cách từ mũi
đến mắt (rn/np: 0,94–1,17). Gian mũi hẹp, khoảng
cách giữa hai lỗ mũi lớn hơn 1/2 lần khoảng cách
giữa hai mắt (nn/pp: 0,53–0,61). Lỗ thở đơn, ở bên
trái thân nòng nọc, hướng về phía sau. Vị trí mở
của lỗ thở gần lỗ huyệt hơn mút mõm, khoảng cách
từ lỗ thở đến mút mõm bằng 0,59 lần khoảng cách
từ mút mõm đến lỗ huyệt (ss/svl: 0,41–0,65).
Miệng nòng nọc trung bình, hình e-líp, nằm
ở mặt dưới, chiều rộng miệng bằng 0,78 lần chiều
rộng thân (odw/bw: 0,69–0,83) và nhỏ hơn 1/2 lần
chiều dài thân (odw/bl: 0,38–0,46). Gai thịt hình
nón bao quanh viền môi dưới và hai bên mép của
môi trên. Hàng gai thịt ở hai mép của môi trên
ngắn và nhỏ, rải rác phía bên trong có các gai thịt
khác, kích thước lớn hơn. Gai thịt ở viền môi dưới
dạng hình nón kéo dài, sắp xếp thành hai hàng, gai
thịt ở hàng bên ngoài dài hơn và nhỏ hơn so với gai
thịt ở hàng bên trong, gai thịt ở phía giữa môi dài
hơn gai thịt ở hai bên mép của môi. Chi tiết các số
đo hình thái nòng nọc xem Bảng 2.
Hình 2. Nòng nọc loài Quasipaa delacouri
(TDVT0046; Giai đoạn 25 Gosner [13]
Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Khoa học Tự nhiên
Tập 128, Số 1C, 25–33, 2019
pISSN 1859-1388
eISSN 2615-9678
DOI: 10.26459/hueuni-jns.v128i1C.5330 29
Bảng 2. Các số đo hình thái nòng nọc Quasipaa delacouri ở Pù Mát, Nghệ An
Kí hiệu
TDVT
0043
TDVT
0044
TDVT
0045
TDVT
0046
TDVT
0047
TDVT
0048
Min Max Average
bl 11,22 11,84 10,82 11,14 9,91 11,74 9,91 11,84 11,11
su 9,37 9,64 8,83 11,22 10,01 10,08 8,83 11,22 9,86
tail 17,58 18,34 21,11 17,13 15,58 21,75 15,58 21,75 18,58
svl 12,65 12,86 11,95 11,77 10,34 14,81 10,34 14,81 12,41
vt 9,71 9,68 18,03 15,12 15,43 19,31 9,68 19,31 14,55
ss 8,11 8,13 4,76 7,47 6,71 8,24 4,76 8,24 7,24
tl 22,89 23,91 29,88 26,91 25,47 32,44 22,89 32,44 26,91
bh 5,87 6,06 4,94 5,55 4,25 6,16 4,25 6,16 5,47
ht 6,94 7,04 7,02 6,64 4,98 7,24 4,98 7,24 6,64
uf 1,58 1,62 2,38 2,25 1,44 2,61 1,44 2,61 1,98
lf 2,21 2,35 2,14 1,87 1,33 2,37 1,33 2,37 2,04
tmh 3,66 3,93 2,63 2,78 3,11 3,21 2,63 3,93 3,22
bw 6,25 6,62 5,86 6,06 5,03 6,48 5,03 6,62 6,05
tmw 2,17 2,38 1,92 2,02 2,16 2,38 1,92 2,38 2,17
pp 3,99 4,29 3,86 3,69 3,66 4,08 3,66 4,29 3,93
nn 2,18 2,29 2,31 2,07 2,04 2,32 2,04 2,32 2,21
ed 1,83 1,83 1,69 1,75 1,55 1,72 1,55 1,83 1,73
np 2,29 2,49 2,28 2,51 2,47 2,62 2,28 2,62 2,44
rn 2,58 2,91 2,23 2,34 2,34 2,91 2,23 2,91 2,55
odw 5,14 5,51 4,12 4,19 4,05 5,24 4,05 5,51 4,71
Ghi chú: Các ký hiệu xem ở phần phương pháp, đơn vị đo mm.
Đỗ Văn Thoại và CS.
30
Phía trong các hàng gai thịt là răng sừng của
nòng nọc. Môi trên nòng nọc có tám hàng răng
sừng, môi dưới có ba hàng răng sừng, công thức
răng sừng là (LTRF) III(5+5)/(1+1)/II. Các hàng răng
sừng A1–A3 nguyên, dài và uốn cong ở nhiều
đoạn, nằm sát nhau và sát với môi trên, hàng răng
sừng A1 nằm ở viền môi trên. Các hàng răng sừng
A4–A8 chia, phân tách nhau ở giữa bao hàm trên,
các hàng răng sừng phía trong ngắn hơn và thưa
hơn các hàng răng ở phía ngoài. Hàng răng sừng
P1 ở môi dưới là hàng chia, phân tách nhau bởi một
khoảng rất nhỏ ở chính giữa, ngay phía dưới bao
hàm dưới. Răng sừng ở hàng P1 dài hơn so với
răng sừng ở các hàng còn lại. Hàng P2 và P3
nguyên, uốn cong nhiều đoạn, tách biệt với hàng
P1, mút các hàng răng ở môi dưới gần chạm nhau.
Bao hàm nhỏ, màu đen sẫm, nằm sâu phía bên
trong miệng, bao hàm trên phủ phía ngoài bao hàm
dưới. Bao hàm trên hình chữ V ngược, dày, khuyết
một phần nhỏ ở chính giữa. Bao hàm dưới hình
chữ V thuận, mảnh, nằm hoàn toàn phía bên trong
bao hàm trên (Hình 3).
Màu sắc của nòng nọc: Thân nòng nọc màu
vàng – xám nhạt, phía dưới bụng thẫm màu hơn so
với phía trên lưng, xung quanh lỗ mũi có nhiều
chấm đen tập trung tạo thành đốm. Da dưới bụng
mỏng, có thể quan sát thấy ruột cuộn lại ở phía
trong, các chấm li ti màu bạc do các hạt cát trong
thức ăn của nòng nọc ánh xạ ra phía ngoài. Đuôi
nòng nọc có màu xám nhạt ở gốc đuôi, chuyển dần
thành vàng chanh ở nửa phía sau của đuôi. Bề mặt
đuôi có các đốm màu đen. Các đốm ở phía trước
đuôi có lớn hơn và màu sẫm hơn các đốm ở phía
sau của đuôi.
3.3 Đặc điểm giải phẫu miệng nòng nọc
Vòm miệng: Không gian bên trong vòm
miệng hẹp. Phía trong bao hàm trên, ở hai bên có
các gai thịt ngắn, hình dạng không đồng nhất, ở
chính giữa, sâu hơn vào bên trong có một gờ nằm
ngang, ngắn, mép có dạng hình răng cưa cùn. Sâu
hơn vào phía trong vòm miệng có rất nhiều nhú và
gai thịt, ở phía trong ngắn nhiều hơn, ở phía ngoài
dài và thưa hơn. Ở chính giữa vòm miệng có một
nếp da, nằm phía trước các nhú thịt.
Thềm miệng: Phía trong bao hàm dưới, ở hai
bên có các gai thịt tương tự như ở bao hàm trên, các
gai thịt ở bao hàm dưới dài hơn và dày hơn, hướng
vào phía trong miệng. Bên trong thềm miệng, các
gai thịt có hình dạng và độ dài ngắn khác nhau, các
gai thịt dài nằm về phía sau. Ở vị trí mầm của lưỡi
có hai gai thịt dài, hình rễ, hướng ra ngoài. Phía
trong thềm miệng được giới hạn bởi một nếp da
rộng, nằm phía trên các nếp mang, mép nếp da
hình răng cưa. Mang có cấu trúc hình hoa.
Hình 3. Miệng nòng nọc loài Quasipaa delacouri (TDVT0046; Giai đoạn 25; Gosner, 1960)
Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Khoa học Tự nhiên
Tập 128, Số 1C, 25–33, 2019
pISSN 1859-1388
eISSN 2615-9678
DOI: 10.26459/hueuni-jns.v128i1C.5330 31
Hình 4. Khoang miệng nòng nọc loài Quasipaa delacouri (Giai đoạn 25; Gosner, 1960). (A: Vòm miệng gồm: 1: Răng
sừng; 2: Bao hàm trên; 3: Nếp da phía sau bao hàm trên; 4: Gai thịt ngắn và 5: Gai thịt dài ở vòm miệng; B: Thềm
miệng gồm: 6: Gai thịt ở bao hàm dưới; 7: Gai thịt ở mầm lưỡi; 8: Gai thịt ngắn và 9: Gai thịt dài ở thềm miệng; 10:
Giới hạn phía sau của thềm miệng; 11: Nếp mang)
Bao hàm trên và bao hàm dưới có cấu trúc
tương tự nhau. Mép các bao hàm có răng cưa hình
nón cụt khá dày, hơi cong và hướng vào trong.
Răng sừng ở môi trên và môi dưới có cấu trúc
giống nhau. Ngoại trừ hàng A1, các hàng răng
sừng còn lại được gắn trên các nếp thịt nhô ra từ
môi. Răng sừng trên mỗi hàng răng tách rời nhau,
có dạng hình cái thìa, cong và hướng vào trong
miệng, viền các răng sừng có răng cưa nhọn (Hình
5).
Hình 5. Cấu trúc bao hàm và răng sừng nòng nọc loài
Quasipaa delacouri (TDVT0046; Giai đoạn 25; Gosner,
1960; A: Bao hàm; B: Răng sừng)
Bảng 3 thể hiện các nghiên cứu về các loài
trong giống Quasipaa Dubois [1] được nhiều nhà
nghiên cứu trên thế giới thực hiện, trong đó có
những nghiên cứu về nòng nọc của Inthara và cộng
sự [18]; Fei và cộng sự [19], v.v. Riêng loài Q.
delacouri mới chỉ có mô tả gốc của Angel [3] và các
ghi nhận về phân bố cũng như tu chỉnh mặt phân
loại học của Dubois, Bourret, Guibé, Stuart, và Che
và cộng sự [1], [4-7]. Nòng nọc loài Q. delacouri với
đặc điểm hình thái và cấu tạo miệng riêng cho loài,
khác biệt với các loài trong cùng giống. Miệng
nòng nọc Q. delacouri có 11 hàng răng sừng (tám
hàng răng sừng ở môi trên, ba hàng răng sừng ở
môi dưới, số hàng răng sừng nhiều hơn so với
những loài trong giống đã được nghiên cứu mô tả
nòng nọc. Đây là nghiên cứu đầu tiên về nòng nọc
loài Q. delacouri, đồng thời ghi nhận mở rộng vùng
phân bố của loài ở tỉnh Nghệ An.
Bảng 3. Công thức răng sừng (LTRF) của một số loài trong giống Quasipaa Dubois, 1992
Loài LTRF Tổng số hàng răng sừng Nguồn
Quasipaa fasciculispina II(5+5)/(1+1)II 10 Inthara và cộng sự 2009
Quasipaa spinosa I(4+4)/(1+1)II 8 Fei và cộng sự 2010
Quasipaa exilispinosa I(3+3)(4+4)/(1+1)II 7-8 Fei và cộng sự 2010
Quasipaa delacouri III(5+5)/(1+1)II 11 Nghiên cứu này
Đỗ Văn Thoại và CS.
32
4 Kết luận
Nòng nọc loài Quasipaa delacouri có thân
màu vàng xám nhạt, phía trên lưng và đuôi sẫm
màu hơn phía dưới bụng. Chiều dài thân trung
bình là 11,11 mm; chiều dài mút mõm – mút đuôi
trung binh là 26,91 mm. Thân nòng nọc hình bầu
dục khi nhìn từ mặt trên, hình e-líp khi nhìn từ mặt
bên. Phía trên đuôi nòng nọc có các đốm kích thước
không đều, màu đen.
Nòng nọc có 11 hàng răng sừng: Môi trên
gồm ba hàng nguyên phía ngoài, năm hàng chia
phía trong; môi dưới có một hàng chia phía trong,
hai hàng nguyên phía ngoài. Các hàng răng
nguyên dài và uốn cong. Bao phía ngoài miệng là
hàng gai thịt không hoàn toàn, gai thịt ở môi trên
chỉ có ở hai bên mép. Bên trong miệng nòng nọc có
nhiều gai thịt dài – ngắn khác nhau; một số gai thịt
hình có hình rễ. Thềm miệng có giới hạn phía sau
là một nếp da, rìa nếp da có răng cưa thưa. Răng
sừng và bao hàm có cấu trúc với các viền răng cưa
ở phía ngoài, răng sừng cong và hướng vào phía
trong miệng.
Lời cảm ơn
Chúng tôi xin gửi lời cảm ơn đến cán bộ Ban
quản lý Vườn Quốc gia Pù Mát, cán bộ Kiểm lâm
địa bàn và người dân địa phương hỗ trợ công tác
thực địa thu mẫu. Nghiên cứu được hỗ trợ kinh phí
từ Đề tài cấp Bộ mã số B2018-TDV-11.
Tài liệu tham khảo
1. Dubois A. Notes sur la classification des Ranidae
(Amphibiens anoures). Bulletin Mensuel de la
Société Linnéenne de Lyon. 1992;61:305-352.
2. Frost DR. Amphibian Species of the World: an
Online Reference. Version 6.0 [internet] 2019 [cited
14-07-2019]. Available from
org/herpetol-ogy/amphibia/index.htmL. New York
(USA): American Museum of Natural History.
3. Angel F. Sur une espèce nouvelle de grenouille du
Tonkin, appartenant au genre Rana. Paris (France):
Bulletin du Museum National d'Histoire Naturelle;
1928. p. 319-320.
4. Bourret R. Notes herpétologiques sur l’Indochine
française. XIV. Les batraciens de la collection du
Laboratoire des Sciences Naturelles de l’Université.
Descriptions de quinze especes ou variétés
nouvelles. Hanoi (Vietnam): Annexe au Bulletin
Général de l'Instruction Publique; 1937. p. 5-56.
5. Guibé J. Catalogue des Types d'Amphibiens du
Muséum National d'Histoire Naturelle. Paris
(France): Imprimerie Nationale; 1948.
6. Stuart BL Amphibians and reptiles. In Duckworth
JW, Salter RE and Khounboline K, Wildlife in Lao
PDR. Status Report; 1999. p. 43-67.
7. Che J, Hu JS, Zhou WW, Murphy RW, Papenfuss TJ,
Chen MY, Rao DQ, Li PP, Zhang YP. Phylogeny of
the Asian spiny frog tribe Paini (Family
Dicroglossidae) sensu Dubois. Mol Phylogenet Evol.
2009;50:59-73.
8. Nguyen SV, Ho CT, Nguyen TQ. Herpetofauna of
Vietnam. Frankfurt am Main (Germany): Edition
Chimaira; 2009.
9. Stuart BL. Chapter five: Amphibians and Reptiles.
In: Social Forestry and Nature Conservation in Nghe
An Province. Pu Mat: a biodiversity survey of a
Vietnamese Protected area. Hanoi (Vietnam): Labor
and Social Publishing House; 2001. p. 61-72.
10. Ngật LN, Quang HX. Kết quả bước đầu về thành
phần loài ếch nhái, bò sát ở Khu Bảo tồn Thiên
nhiên Pù Mát, tỉnh Nghệ An. Tạp chí Sinh học.
2001;23(3B):59-65.
11. Quang HX, Thảo HN, Tuấn HA. Đa dạng thành
phần loài và đặc điểm phân bố theo sinh cảnh
Lưỡng cư – Bò sát vùng đệm Vườn Quốc gia Pù
Mát. Những vấn đề nghiên cứu cơ bản trong khoa
học sự sống định hướng nông lâm nghiệp miền núi;
2004. p. 857-860.
12. Orlov NL, Poyarkov NA, Nguyen TT. Taxonomic
notes on Megophrys frogs (Megophryidae: Anura) of
Vietnam, with description of a new species. Russ J
Herpetol. 2015;22(3):206-218.
13. Gosner KL. A simplified table for staging anuran
embryos and larvae with notes on identification.
Herpetologica. 1960;16:183-190.
14. Altig RG. A primer for the morphology of anuran
tadpoles. Herpetol Conserv Biol. 2007;2(1):71–74.
15. Altig RG, McDiarmid RW. Bodyplan: Development
and morphology (Tadpoles: The biology of anuran
Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Khoa học Tự nhiên
Tập 128, Số 1C, 25–33, 2019
pISSN 1859-1388
eISSN 2615-9678
DOI: 10.26459/hueuni-jns.v128i1C.5330 33
larvae). Chicago and London: University of Chicago
Press; 1999. p. 24-51.
16. Dubois A. Keratodont formulae in anuran tadpoles:
proposals for a standardization. J Zool Syst Evol Res.
1995;33:1-15.
17. Roelants K, Jiang J, Bossuyt F. Endemic ranid
(Amphibia: Anura) genera in southern mountain
ranges of the Indian subcontinent represent ancient
frog lineages: evidence from molecular data. Mol
Phylogenet Evol. 2004;31(2):730-40.
18. Inthara C, Chuaynkern Y, Duengkae P, Grosjean S.
The tadpole of Quasipaa fasciculispina (Inger, 1970)
from southeastern Thailand, with the description of
its buccal anatomy. Alytes. 2009;26(1-4):86-96.
19. Fei L, Hu S, Ye C, Huang Y. Fauna Sinica. Amphibia.
Volume 3. Anura Ranidae. Beijing: Chinese
Academy of Science, Science Press; 2010.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
dac_diem_hinh_thai_nong_noc_loai_ech_vach_quasipaa_delacouri.pdf