Tuy nhiên, về hướng sóng lại có sự khác
biệt rõ ràng giữa các điểm. Cụ thể, các hình
dưới đây cho thấy rõ sự khác biệt về hướng
sóng và độ cao sóng trong các mùa.
Các hình minh họa sự biến đổi về hướng
sóng và độ cao sóng ở trên cho thấy quy luật
biến đổi có tính chất theo mùa rõ nét. Quy
luật này cho thấy sự bất đối xứng về trường
sóng ven bờ trong các mùa gió Đông Bắc và
Tây Nam.
KẾT LUẬN
Mô hình tính sóng được kiểm nghiệm với
số liệu phòng thí nghiệm và thực tế cho kết quả
tin cậy. Tuy nhiên, mô hình sóng ở đây là mô
hình sóng dừng nên các kết quả chỉ tin cậy với
những vùng có địa hình đáy ít biến đổi. Các kết
quả nghiên cứu này có thể được tham khảo cho
các nghiên cứu tiếp theo về các quá trình thủy
động lực của khu vực này.
9 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 1 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đặc trưng trường sóng khu vực cửa đại tỉnh Quảng Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
141
Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển; Tập 18, Số 2; 2018: 141-149
DOI: 10.15625/1859-3097/18/2/12970
ĐẶC TRƯNG TRƯỜNG SÓNG KHU VỰC CỬA ĐẠI TỈNH QUẢNG NAM
Vũ Công Hữu1*, Lê Xuân Hoàn2
1Trường Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội
2
Viện Cơ học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
*
E-mail: vuconghuu80@gmail.com
Ngày nhận bài: 2-2-2017 / Ngày chấp nhận đăng: 29-4-2017
TÓM TẮT: Việc tính toán các đặc trưng sóng có vai trò quan trọng trong nghiên cứu các quá
trình ven bờ. Khu vực Cửa Đại, Quảng Nam đã và đang diễn ra các quá trình biến đổi bờ biển
nghiêm trọng, gây thiệt thại cho các hoạt động kinh tế xã hội và dân sinh tại khu vực này. Nghiên
cứu này đã tính toán các đặc trưng trường sóng khu vực Cửa Đại bằng mô hình phổ sóng dừng - mô
hình EBED cho khoảng thời gian từ năm 2002 đến năm 2016. Mô hình đã được kiểm chứng bởi dữ
liệu thí nghiệm trong bể sóng, số liệu sóng thực đo tại vịnh Nha Trang, Khánh Hòa cho 2 thời đoạn
đặc trưng của mùa hè và mùa đông. Tại khu vực biển Quảng Nam, mô hình được kiểm chứng với
chuỗi số liệu đo sóng trong mùa hè. Do vậy, kết quả trường sóng nhận được đáng tin cậy và có thể
tham khảo cho các nghiên cứu khác của khu vực này.
Từ khóa: Chế độ sóng, Cửa Đại, mô hình sóng EBED.
MỞ ĐẦU
Khi sóng truyền từ vùng nước sâu vào vùng
ven bờ, các quá trình biến đổi sóng thường biến
đổi đáng kể do sự biến đổi của địa hình đáy
như hiệu ứng nước nông, khúc xạ và sóng vỡ,
kết quả dẫn đến sự biến đổi các đặc trưng sóng.
Trường hợp phức tạp hơn nữa là xung quanh
các công trình ven bờ. Trong những thập kỷ
gần đây, mô hình sóng đã được nghiên cứu và
phát triển mạnh mẽ. Sự hạn chế về thuật toán
giải số và công nghệ máy tính dẫn đến các xu
hướng phát triển khác nhau trong các nghiên
cứu tính toán sóng. Do vậy, mỗi một mô hình
đều có những ưu và nhược điểm riêng. Cho đến
nay, có thể phân chia các mô hình thành 2 loại
là ‘các mô hình trung bình pha (phase-averaged
models)’ và ‘các mô hình xét theo pha thực
(phase-resolving models)’.
Các mô hình xử lý theo pha tính toán các
đặc trưng sóng chi tiết trong miền thời gian
bằng cách giải phương trình bảo toàn khối
lượng và động lượng. Các mô hình được phát
triển theo phương pháp này thường gọi là mô
hình Boussinesq và có thể kể đến các tác giả
như Peregrine (1967), Madsen và nnk., (1991),
Wei và nnk., (1995), Veeramony và Svendsen
(2000) [1-4]. Một số cơ quan nghiên cứu đã
phát triển thành các phần mềm chuyên dụng
như DHI [5], Tuy nhiên, các mô hình loại
này yêu cầu số lượng tính toán rất lớn và
thường chỉ áp dụng với quy mô không gian nhỏ
trong vùng nước nông.
Các mô hình trung bình pha bỏ qua những
biến đổi của sóng trong pha sóng, chỉ xét đến
biến đổi trung bình của sóng trong miền tần số
dựa trên quan hệ cân bằng năng lượng hoặc cân
bằng tác động. Loại mô hình này đặc biệt thích
hợp với biến đổi hướng sóng trên quy mô
không gian lớn do giảm khó khăn về mặt tính
toán. Loại mô hình này có thể kể đến như
SWAN model [6], STWAVE model [7] và
WABED model [8] đã được áp dụng phổ biến
ở cả vùng nước sâu và nước nông. Panchang và
Demirbilek (1998) [9] chỉ ra là các loại mô
hình dự báo sóng áp dụng trong vùng ven bờ sử
dụng phương trình cân bằng năng lượng hay
Vũ Công Hữu, Lê Xuân Hoàn
142
cân bằng tác động không trực tiếp mô tả được
hiệu ứng nhiễu xạ và phản xạ. Tuy vậy, các quá
trình này được bổ sung bằng phương pháp gần
đúng [10]. Các phương pháp khác nhau được
nghiên cứu để xét đến hiệu ứng khúc xạ và
phản xạ trong các mô hình trung bình pha, có
thể kể đến các tác giả như Rivero và nnk.,
(1997), Holthuijsen và nnk., (2004).
Nghiên cứu này sử dụng mô hình EBED để
tính toán các đặc trưng trường sóng ven bờ khu
vực hai bên Cửa Đại của tỉnh Quảng Nam.
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA MÔ HÌNH
EBED
Trong nghiên cứu này, sử dụng mô hình
EBED tính lan truyền sóng của Mase (2001).
Mô hình này được phát triển dựa trên phương
trình cân bằng năng lượng phổ sóng ngẫu nhiên
đa hướng, có tính đến các hiệu ứng, khúc xạ,
nhiễu xạ và thành phần tiêu tán năng lượng do
sóng vỡ [11]. Phương trình có dạng:
2 21cos cos
2 2
yx
g y g yy g stab
y
v Sv S v S K
CC S CC S C S S
x y h
(1)
S là mật độ phổ tần số và góc hướng; (x, y) là
toạ độ phương ngang; θ là hướng sóng tính từ
trục x ngược chiều kim đồng; ω là tần số; C là
tốc độ; Cg là tốc độ nhóm; h mực nước tĩnh; Ƙ,
K là các tham số tự do để tối ưu hóa tác động
của quá trình nhiễu xạ, khúc xạ và tiêu tán năng
lượng; Sstab là mật độ phổ sóng ổn định.
Với vx, vy và v là vận tốc lan truyền theo
hướng tọa độ tương ứng:
, , cos , sin , sin cosgx y g g
C C C
v v v C C
C x y
(2)
Nếu giả thiết mật độ phổ S và mật độ phổ
Sstab là hàm của Hs
2
và Hstab
2
thì số hạng tán xạ
năng lượng trong phương trình (1) có thể viết:
2
1diss g
s
K h
D C S
h H
(3)
Với:
3
0, 45, 0,3 19, 2 : 0
8
3
0, 45 1,5 , 0,3 0,5 : 0
8
K s s
s K s s
(4)
Ứng suất bức xạ được xác định bởi:
2
2
2 1 cos 1
2
2 1 sin 1
2
sin 2
2
xx
yy
xy yx
E
S n
E
S n
E
S S n
(5)
TÍNH TOÁN TRƯỜNG SÓNG KHU VỰC
CỬA ĐẠI TỈNH QUẢNG NAM
Đặc trưng trường sóng nước sâu. Mặc dù
không có số liệu thực đo về trường sóng của
khu vực biển lân cận nhưng có thể thấy chế độ
sóng nơi đây bị chi phối bởi 2 mùa gió là Đông
Bắc và Đông Nam. Dữ liệu tái phân tích sóng
ngoài nước sâu (
el.noaa.gov/java/ncBrowse/data) cho thấy
trường sóng chủ yếu là Đông Bắc và Đông
Nam, sóng Tây Nam thường có biên độ nhỏ.
Hình dưới đây cho thấy rõ chế độ sóng nước
sâu vùng biển Quảng Nam - Đà Nẵng.
Thời kỳ gió mùa Đông Bắc: Hướng sóng
chủ yếu là NE - E; độ cao sóng trung bình Hs =
2 - 3 m; chu kỳ sóng trung bình T = 8 - 10 s.
Thời kỳ gió mùa Tây Nam: Hướng sóng chủ
yếu S - SW; độ cao sóng hữu hiệu trung bình Hs
= 1 - 2 m; chu kỳ sóng trung bình T = 6 - 8 s.
Tháng 4 và tháng 9 là hai tháng chuyển tiếp
có độ cao và hướng không ổn định.
Tháng 12 và tháng 1 là hai tháng các đặc
trưng gió và sóng có cường độ mạnh và hướng
ổn định nhất.
Đặc trưng trường sóng khu vực Cửa Đại
143
Các hướng sóng chủ yếu từ ngoài khơi vào
vùng bờ tức là các hướng từ bắc đến đông nam,
chiếm đến 85%. Tần suất sóng từ các hướng
đông bắc và đông nam cân bằng nhau (khoảng
43% từ hướng đông nam, 42% từ hướng đông
bắc). Tuy nhiên, độ cao sóng lớn hơn 1 m chủ
yếu từ các hướng đông bắc, các hướng thuộc
đông nam, độ cao sóng chủ yếu nhỏ hơn 1 m.
Như vậy, tồn tại sự bất đối xứng về độ cao sóng
giữa hai hướng chính là đông bắc và đông nam.
Điểm nước sâu được xét ở đây nằm khá xa
bờ, do vậy tồn tại các sóng có hướng từ bờ ra.
Tần suất các sóng lớn hơn 0,5 m có hướng từ
bờ ra chiếm đến 7,7%.
Hình 1. Hoa sóng nước sâu khu vực biển Hội An và độ sâu của khu vực
Thiết lập mô hình truyền sóng. Miền quan
tâm là khu vực biển ven bờ xung quanh Cửa
Đại, Quảng Nam. Tuy nhiên, miền tính được
mở rộng về cả hai phía bắc và nam của Cửa
Đại, Quảng Nam nhằm mục đích giảm sai số
của bài toán ở các biên và đánh giá ảnh hưởng
của các đảo phía đông nam (đảo Cù Lao Chàm
và các đảo nhỏ xung quanh).
Độ sâu của miền tính toán được chiết xuất
từ địa hình ngoài khơi và vùng ven bờ cho toàn
dải bờ biển Quảng Nam - Đà Nẵng, được thực
hiện lấy theo những hải đồ ở các tỷ lệ khá nhau
như: 1:2.500.000, 1:1.000.000, 1:500.000,
1:400.000, 1:200.000, 1:100.000 và 1:25.000
do Bộ tư lệnh Hải Quân xuất bản. Các số liệu
được quy chuẩn về cùng cao độ mực nước
trung bình, số hóa và lưu trên các file miền lựa
chọn. Số liệu địa hình đo đạc trong các đề tài,
Cửa Đại - Quảng Nam vùng ven bờ Cửa Đại,
địa hình đo của Cửa Đại - Quảng Nam trong
đợt khảo sát từ ngày 4/6/2016 đến ngày
9/6/2016 do Viện Khoa học Thủy lợi tiến hành
đo trong khuôn khổ của dự án DTM xây dựng
công viên Sơn Trà.
Số liệu sóng 6 giờ một lần được lấy từ
Trung tâm Quốc gia Dự báo môi trường
‘NCEP/NCAR’ cho toàn Biển Đông.
Vũ Công Hữu, Lê Xuân Hoàn
144
Hình 2. Phạm vi và độ sâu miền tính
Kiểm nghiệm mô hình sóng. Mô hình được
kiểm chứng với bộ dữ liệu thí nghiệm mô hình
vật lý của Coastal and Hydraulics Laboratory’s
(CHL) Large-Scale Sediment Transport
Facility (LSTF). Kết quả kiểm nghiệm mô hình
cho thấy sự phù hợp khá tốt giữa độ cao sóng
tính toán và thực đo.
Hình 3. So sánh độ cao sóng tính toán và thực đo tại mặt cắt Y26 của thí nghiệm
Trong nghiên cứu này, mô hình đã được
kiểm chứng với số liệu đo đạc trong thực tế tại
bãi biển Nha Trang cho 2 mùa đặc trưng. Kết
quả được trình bày trong nội dung bài báo [12].
Tại khu vực nghiên cứu, mô hình được
kiểm chứng với số liệu đo sóng ven bờ của dự
án xây dựng công viên Đại dương Sơn Trà.
Số liệu sóng tại biên được trích xuất từ kết
quả mô hình WAVEWATH 3 với ốp là 6 h. Do
vậy, khó có thể được khớp về pha giữa tính
toán và thực đo cho từng giờ đo đạc. Đây cũng
là lý do dẫn đến tồn tại các sai số tại các giá trị
độ cao sóng lớn. Tuy nhiên, về mặt định lượng
thể hiện qua chỉ số Nash đạt 0,84 (giá trị 0,75 là
đạt yêu cầu).
Đặc trưng trường sóng khu vực Cửa Đại
145
Hình 4. Vị trí đo sóng (wave) tại vị trí gần công viên Sơn Trà
Hình 5. Kết quả so sánh độ cao sóng tính toán và thực đo (từ ngày 4/6/2016 đến 9/6/2016)
Đặc trưng trường sóng khu vực biển ven bờ
Quảng Nam. Sau khi kiểm nghiệm mô hình,
đã tiến hành tính toán trường sóng khu vực biển
ven bờ Quảng Nam với chuỗi thời gian từ 2002
đến 2016. Kết quả cho thấy, mặc dù trường
sóng ngoài khơi có hướng đông bắc nhưng do
ảnh hưởng của bán đảo Sơn Trà và đảo Cù Lao
Tràm thì sóng vùng ven bờ có hướng biến đổi
phức tạp hơn. Khu vực hai bên Cửa Đại, do có
sự chắn của đảo Cù Lao Tràm nên độ cao sóng
khá nhỏ so với khu vực xa hơn ở 2 bên.
Hình 6. Phân bố trường sóng trong gió mùa đông bắc và gió mùa tây nam
Vũ Công Hữu, Lê Xuân Hoàn
146
Để đánh giá được sự biến đổi của sóng dọc
theo phương dọc bờ, hình dưới đây minh họa
các vị trí trích số liệu sóng tính toán.
Thời kỳ gió mùa Đông Bắc trong khu vực
được xác định từ tháng 9 cho đến tháng 3 năm
sau. Thời kỳ gió mùa Tây Nam là các tháng 5
cho đến hết tháng 8. Kết quả so sánh độ cao
sóng tại các vị trí dọc bờ cho thấy cùng quy lật
biến đổi theo mùa, sự khác nhau về độ cao sóng
không đáng kể trên cùng đường đẳng sâu. Chỉ
riêng 2 điểm sát của sông P6 và P7 độ cao sóng
nhỏ hơn rõ nét. Vào các tháng mùa hè, độ cao
sóng hầu như nhỏ hơn 1 m.
Hình 7. Vị trí dọc đường đẳng sâu
để trích kết quả sóng
Hình 8. Phân bố độ cao sóng tại các điểm P1 đến P6 của các tháng trong năm
Hình 9. Phân bố độ cao sóng tại các điểm P1 đến P6 của các tháng trong năm
Tuy nhiên, về hướng sóng lại có sự khác
biệt rõ ràng giữa các điểm. Cụ thể, các hình
dưới đây cho thấy rõ sự khác biệt về hướng
sóng và độ cao sóng trong các mùa.
Các hình minh họa sự biến đổi về hướng
sóng và độ cao sóng ở trên cho thấy quy luật
biến đổi có tính chất theo mùa rõ nét. Quy
luật này cho thấy sự bất đối xứng về trường
sóng ven bờ trong các mùa gió Đông Bắc và
Tây Nam.
Đặc trưng trường sóng khu vực Cửa Đại
147
Hoa sóng tại vị trí P1 (Mùa hè) Hoa sóng tại vị trí P1 (Mùa đông)
Hoa sóng tại vị trí P2 (Mùa hè) Hoa sóng tại vị trí P2 (Mùa đông)
Hoa sóng tại vị trí P3 (Mùa hè) Hoa sóng tại vị trí P3 (Mùa đông)
Hoa sóng tại vị trí P4 (Mùa hè) Hoa sóng tại vị trí P4 (Mùa đông)
Hoa sóng tại vị trí P5 (Mùa hè) Hoa sóng tại vị trí P5 (Mùa đông)
Hoa sóng tại vị trí P6 (Mùa hè) Hoa sóng tại vị trí P6 (Mùa đông)
Hoa sóng tại vị trí P7 (Mùa hè) Hoa sóng tại vị trí P7 (Mùa đông)
Hoa sóng tại vị trí P8 (Mùa hè) Hoa sóng tại vị trí P8 (Mùa đông)
Hình 10. Hoa sóng tại các vị trí dọc đường đẳng sâu 12 m
Vũ Công Hữu, Lê Xuân Hoàn
148
Hoa sóng tại vị trí P9 (Mùa hè) Hoa sóng tại vị trí P9 (Mùa đông)
Hoa sóng tại vị trí P10 (Mùa hè) Hoa sóng tại vị trí P10 (Mùa đông)
Hình 10. Hoa sóng tại các vị trí dọc đường đẳng sâu 12 m (tiếp)
KẾT LUẬN
Mô hình tính sóng được kiểm nghiệm với
số liệu phòng thí nghiệm và thực tế cho kết quả
tin cậy. Tuy nhiên, mô hình sóng ở đây là mô
hình sóng dừng nên các kết quả chỉ tin cậy với
những vùng có địa hình đáy ít biến đổi. Các kết
quả nghiên cứu này có thể được tham khảo cho
các nghiên cứu tiếp theo về các quá trình thủy
động lực của khu vực này.
Lời cảm ơn: Nội dung thực hiện của bài báo
này được tài trợ bởi trường Đại học Khoa học
Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội thông qua
đề tài mã số TN.16-21. Nhóm tác giả xin cảm
ơn sự tài trợ này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Peregrine, D. H., 1967. Long waves on a
beach. Journal of Fluid Mechanics, 27(4),
815-827.
2. Madsen, P. A., Murray, R., and Sørensen,
O. R., 1991. A new form of the Boussinesq
equations with improved linear dispersion
characteristics. Coastal Engineering, 15(4),
371-388.
3. Wei, G., Kirby, J. T., Grilli, S. T., and
Subramanya, R., 1995. A fully nonlinear
Boussinesq model for surface waves. Part
1. Highly nonlinear unsteady waves.
Journal of Fluid Mechanics, 294, 71-92.
4. Veeramony, J., and Svendsen, I. A., 2000.
The flow in surf-zone waves. Coastal
Engineering, 39(2-4), 93-122.
5. DHI manual, 2008. Mike 21 Boussinesq
wave module scientific documentation.
6. Booij, N. R. R. C., Ris, R. C., and
Holthuijsen, L. H., 1999. A
third‐generation wave model for coastal
regions: 1. Model description and
validation. Journal of Geophysical
Research: Oceans, 104(C4), 7649-7666.
7. Smith, J. M., Resio, D. T., and Zundel, A.
K., 1999. STWAVE: Steady-state spectral
wave model. Report 1. User's Manual For
STWAVE Version 2.0 (No. CHL-99-1).
Army Engineer Waterways Experiment
Station Vicksburg MS Coastal and
Hydraulics Lab.
8. Lin, L., Demirbilek, Z., Mase, H., Zheng,
J., and Yamada, F., 2008. CMS-Wave: A
nearshore spectral wave processes model
for coastal inlets and navigation projects
(No. ERDC/CHL-TR-08-13). Engineer
Research And Development Center
Vicksburg MS Coastal and Hydraulics Lab.
9. Panchang, V., and Demirbilek, Z., 1998.
Wave prediction models for coastal
engineering applications. Wave Phenomena
and Offshore Topics, 163-194.
10. Mase, H., Oki, K., Hedges, T. S., and Li, H.
J., 2005. Extended energy-balance-equation
wave model for multidirectional random
wave transformation. Ocean Engineering,
32(8-9), 961-985.
11. Nam, P. T., Larson, M., and Hanson, H.,
2009. A numerical model of nearshore
waves, currents, and sediment transport.
Coastal Engineering, 56(11-12), 1084-1096.
12. Vũ Công Hữu và nnk., 2015. Đặc trưng
trường sóng và diễn biến đường bờ bãi tắm
khu vực vịnh Nha Trang. Tạp chí Khoa
Đặc trưng trường sóng khu vực Cửa Đại
149
học: Khoa học tự nhiên và Công nghệ,
31(3S).
13. Larson, M., Le Xuan, H., and Hanson, H.,
2010. Direct Formula to Compute Wave
Height and Angle at Incipient Breaking.
Journal of Waterway, Port, Coastal and
Ocean Engineering, 136(2), 119-122.
WAVE REGIME IN THE COASTAL AREA OF DAI RIVER MOUTH
AT QUANG NAM PROVINCE
Vu Cong Huu
1
, Le Xuan Hoan
2
1
VNU University of Science
2
Institute of Mechanics, VAST
ABSTRACT: The calculations of wave characteristics have an important role in the study of
coastal processes. The coastal area of Dai river mouth (Cua Dai) at Quang Nam province has been
experiencing serious shoreline and beach changes that have effected on the socio-economic
activities and people's lives. This research has calculated the characteristics of wave field in Cua
Dai, Quang Nam by steady-spectrum wave model for the time period from 2002 to 2016 years. The
model was verified by experimental data in the wave tank, measured wave data in Nha Trang -
Khanh Hoa for 2 periods characteristic of summer and winter. At the coastal area of Quang Nam,
the model is verified with measured wave data series in the summer period. Therefore, the results of
the characteristics of wave field are great reliable and can be referred by other researches of this
coastal area.
Keywords: Wave regime, Dai river mouth, wave spectrum model (EBED).
Các file đính kèm theo tài liệu này:
dac_trung_truong_song_khu_vuc_cua_dai_tinh_quang_nam.pdf