Kết luận
Trên cơ sở đánh giá DVHST đụn cát ven
biển Sơn Trà – Tam Kỳ, nghiên cứu đưa ra một
số kết luận sau:
- Các đụn cát phôi thai và tiền tiêu là vùng
đất đầu tiên chịu ảnh hưởng bởi các nguy cơ tự
nhiên từ phía biển. Các đụn cát này có tiềm năng
dịch vụ hệ sinh thái cao, không chỉ đóng vai trò
quan trọng trong điều tiết sạt lở bờ biển mà còn
có tác dụng bảo vệ các hệ sinh thái trong đất liền
khỏi tác động của các hiện tượng thời tiết cực
đoan liên quan tới biến đổi khí hậu, nước biển
dâng.
- Do mức độ đô thị hóa và suy giảm nghiêm
trọng diện tích rừng phòng hộ trên đụn cát tại dải
ven biển, đoạn bờ Sơn Trà – Hòa Hải thuộc thành
phố Đà Nẵng có tiềm năng cung cấp DVHST
thấp hơn nhiều so với đoạn bờ Điện Dương –
Cửa Đại thuộc tỉnh Quảng Nam.
Nhằm quản lý tốt dải ven biển, cần có giải
pháp kiên quyết trong bảo vệ các hệ sinh thái và
duy trì giá trị dịch vụ hệ sinh thái đụn cát, trước
tiên là định hướng mở rộng diện tích và quản lý
chất lượng rừng phòng hộ trên các đụn cát tiền
tiêu và phôi thai cho tăng cường chức năng điều
tiết xói lở bờ biển, chống bão và nước biển dâng,
bảo vệ môi trường và tăng giá trị cảnh quan ven
biển khu vực Sơn Trà – Tam Kỳ nói riêng và
vùng bờ cát nói chung.
12 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 2 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đánh giá tiềm năng cung cấp dịch vụ hệ sinh thái đụn cát ven biển khu vực Sơn Trà (Đà Nẵng) - Tam Kỳ (Quảng Nam), để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
VNU Journal of Science: Earth and Environmental Sciences, Vol. 36, No. 3 (2020) 81-92
81
Original Article
Assessments of Sand Dune Ecosystem Service Potential
from Son Tra (Da Nang) to Tam Ky (Quang Nam)
Dang Kinh Bac, Dang Van Bao, Dang Thi Thanh Hang, Ngo Chi Cuong
VNU University of Science, 334 Nguyen Trai, Hanoi, Vietnam
Received 05 June 2020
Revised 17 August 2020; Accepted 28 August 2020
Abstract: The coastal area in the Son Tra – Tam Ky region have various kinds of sand dunes: (1)
embryo dunes; (2) foredunes; (3) yellow dunes; (4) gray dunes; (5) white dunes; (6) brown dunes.
These sand dunes play an important role in maintaining biodiversity, minimizing the damage of
natural hazards and tourism development. In last decade, the sand dunes in Son Tra (Da Nang) -
Tam Ky (Quang Nam) is strongly influenced by urbanization and tourism development. Different
resorts have been built along the beaches, narrowing protective forests on the sand dunes. It does
not only reduce the value of cultural ecosystem services; but also, the ability to regulate natural
disasters and air pollution. Therefore, the study aims to assess the unbalance in sand dune
ecosystems service supply in Son Tra - Tam Ky area. Methods used in the study include: remote
sensing and GIS, collecting statistics and specialist interviews. The results showed a clear
differentiation in the potential of the ecosystem services in different sand dune types. Lastly, the
study analyzed the values of sand dune ecosystem services in Son Tra - Cua Dai part; to assess
differences in planning and development policies between the coastal zones of Quang Nam and Da
Nang.
Keywords: Ecosystem service matrix, embryo dune, foredune, expert judgment, land use/cover.
________
Corresponding author.
E-mail address: dangkinhbac@hus.edu.vn
https://doi.org/10.25073/2588-1094/vnuees.4645
D.K. Bac et al. / VNU Journal of Science: Earth and Environmental Sciences, Vol. 36, No. 3 (2020) 81-92 82
Đánh giá tiềm năng cung cấp dịch vụ hệ sinh thái đụn cát ven
biển khu vực Sơn Trà (Đà Nẵng) - Tam Kỳ (Quảng Nam)
Đặng Kinh Bắc , Đặng Văn Bào, Đặng Thị Thanh Hằng, Ngô Chí Cường
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội, 334 Nguyễn Trãi, Hà Nội, Việt Nam
Nhận ngày 05 tháng 6 năm 2020
Chỉnh sửa ngày 17 tháng 8 năm 2020; Chấp nhận đăng ngày 28 tháng 8 năm 2020
Tóm tắt: Dải ven biển Sơn Trà – Tam Kỳ phân bố khá phổ biến các đụn cát biển từ trẻ đến trưởng
thành: (1) đụn cát phôi thai; (2) đụn cát tiền tiêu; (3) đụn cát vàng; (4) đụn cát xám; (5) đụn cát
trắng; (6) đụn cát nâu. Hệ thống đụn cát ven biển này góp phần tạo nên các hệ sinh thái có vai trò
quan trọng trong bảo vệ đa dạng sinh học, phòng tránh thiên tai, phát triển du lịch. Trong những
năm gần đây, các hệ sinh thái đụn cát từ Sơn Trà đến Tam Kỳ đã và đang chịu ảnh hưởng mạnh bởi
quá trình đô thị hóa và phát triển du lịch, một không gian khá lớn rừng phòng hộ trên các đụn cát
ven biển đã bị phá hủy. Điều này không những làm giảm giá trị dịch vụ văn hóa cuả hệ sinh thái mà
còn làm giảm khả năng điều tiết các tai biến thiên nhiên và ô nhiễm không khí ven biển. Nghiên cứu
này hướng tới làm rõ thực trạng mất cân bằng trong điều phối dịch vụ hệ sinh thái (DVHST) đụn
cát ven biển khu vực Sơn Trà – Tam Kỳ. Phương pháp sử dụng trong nghiên cứu gồm: viễn thám
và GIS, thu thập số liệu thống kê và tham vấn chuyên gia đa ngành. Kết quả nghiên cứu cho thấy có
sự phân hóa rõ rệt về tiềm năng cung cấp DVHST đụn cát ven biển. Nghiên cứu tập trung hơn vào
sự phân bố giá trị từng loại hình DVHST dọc ven biển Sơn Trà – Cửa Đại, nhằm đánh giá sự khác
biệt trong định hướng quy hoạch và phát triển vùng đụn cát ven biển Quảng Nam và Đà Nẵng.
Từ khóa: Ma trận dịch vụ hệ sinh thái, đụn cát phôi thai, đụn cát tiền tiêu, tham vấn chuyên gia, lớp phủ.
1. Mở đầu
Đụn cát ven biển là một thành tạo tự nhiên
không thể tách rời của đới bờ biển và là dạng
cảnh quan phổ biến của dải ven biển trên toàn thế
giới. Việt Nam là quốc gia ven biển với đường
bờ trải dài trên 3.260km với sự đa dạng của cảnh
quan và hệ sinh thái, trong đó hệ sinh thái đụn
cát tập trung chủ yếu ở dải ven biển miền Trung.
Dải ven biển từ Sơn Trà (Đà Nẵng) đến Tam Kỳ
(Quảng Nam) là nơi có mặt đầy đủ của hệ thống
đụn cát từ trẻ cho đến trưởng thành, đã tạo nên
hệ sinh thái đụn cát đặc trưng cho vùng. Tùy
thuộc vào độ cao, chiều rộng, hình thái và trạng
thái sinh thái của các đụn cát mà chúng có giá trị
________
Tác giả liên hệ.
Địa chỉ email: dangkinhbac@hus.edu.vn
https://doi.org/10.25073/2588-1094/vnuees.4645
khác nhau trong bảo vệ con người và cơ sở hạ
tầng ven biển khỏi các mối nguy cơ tự nhiên như
lũ lụt ven biển, tác động của sóng, nước dâng do
bão, giúp giảm thiểu xói lở bờ biển, biến đổi khí
hậu, nước biển dâng và xâm nhập mặn.
Mặc dù hệ thống đụn cát có tầm quan trọng
đặc biệt đối với việc bảo vệ con người và bờ biển,
song trong những năm gần đây, chúng đang chịu
áp lực nghiêm trọng do quá trình đô thị hóa, phát
triển du lịch, khai thác cát, mở rộng nông nghiệp
và phát triển nuôi trồng thủy sản trên cát. Những
hoạt động này dẫn đến các hình thức suy thoái
khác nhau như các đụn cát bị phân nhỏ, ngắt
đoạn, ô nhiễm môi trường, mất nơi sinh sống của
D.K. Bac et al. / VNU Journal of Science: Earth and Environmental Sciences, Vol. 36, No. 3 (2020) 81-92 83
một số loài thực động vật [1]. Nhằm góp phần
bảo vệ và duy trì giá trị dịch vụ hệ sinh thái đụn
cát ven biển, nghiên cứu này hướng tới việc phân
tích tiềm năng cung cấp dịch vụ hệ sinh thái
(DVHST) trên các dạng địa hình đụn cát, làm cơ
sở cho quản lý bờ biển Sơn Trà - Tam Kỳ.
Nghiên cứu tập trung vào hệ thống đụn cát
phân bố dọc theo ven biển từ phía nam Sơn Trà
đến thành phố Tam Kỳ. Ranh giới khu vực
nghiên cứu được giới hạn về phía biển là đường
bờ trong (đường ranh giới thảm thực vật tự
nhiên) và giới hạn trong là điểm cuối cùng phát
hiện các thành tạo đụn cát tuổi Pleistocen. Nhằm
đạt được mục tiêu đặt ra, nhóm tác giả sẽ phân
tích đặc điểm địa mạo và quy luật phân bố các
đụn cát tại khu vực nghiên cứu; đánh giá giá trị
DVHST trên các địa mạo đụn cát; từ đó đưa ra
những nhận xét, luận giải về quá trình tiến hóa
đụn cát, xu thế biến đổi sử dụng đất trên các đụn
cát trong quá khứ, hiện tại và tương lai.
2. Dịch vụ hệ sinh thái đụn cát ven biển Sơn
Trà – Tam Kỳ
2.1. Khái niệm và phân loại dịch vụ hệ sinh thái
đụn cát
Dịch vụ hệ sinh thái đã được các nhà khoa
học trên thế giới quan tâm nghiên cứu từ lâu,
song ở Việt Nam chưa thực sự phát triển. Báo
cáo đánh giá hệ sinh thái thiên niên kỷ1 đã định
nghĩa DVHST là những lợi ích thu nhận được từ
các hệ sinh thái [2]. Theo định nghĩa này, đánh
giá DVHST đụn cát là phân tích những lợi ích
của các hệ sinh thái phát triển trên các đụn cát tự
nhiên, giúp con người tồn tại và phát triển.
Những lợi ích này đến từ ba hình thức vốn khác
nhau, bao gồm vốn từ xã hội, con người và xây
dựng [3]. Vốn tự nhiên đề cập đến khả năng vốn
có của các hệ sinh thái đụn cát để cung cấp
DVHST, không bao gồm những đóng góp từ các
hoạt động con người. Trong khi đó, đầu vào của
vốn xã hội là con người để tối ưu hóa nguồn cung
của DVHST đụn cát. Các lợi ích liên quan có thể
được hữu dụng, không hữu dụng, giới hạn hoặc
không tùy thuộc vào loại DVHST đụn cát. Các
________
1 https://www.millenniumassessment.org/en/
nhà khoa học trên thế giới cơ bản thống nhất
phân chia DVHST ra ba nhóm chính: i) cung
cấp; ii) điều tiết và duy trì và iii) văn hóa, được
thể hiện qua hệ thống phân loại CICES 20172.
Cụ thể hơn, K. Van der Biest [4] và Mark
Everard [5] và một số tác giá khác đã đưa ra khái
niệm về các nhóm dịch vụ như sau:
- Dịch vụ cung cấp là những sản phẩm từ hệ
sinh thái như thực phẩm, chất xơ, nhiên liệu,
nguồn gen, hóa sinh, thuốc thiên nhiên, dược liệu
và nước ngọt. Độ phì nhiêu của đất trong đụn cát
khá kém và do đó các nhà khoa học thường
không chú ý nhiều đến DVHST cung cấp của
đụn cát như cung cấp lương thực, thực phẩm.
- Dịch vụ điều tiết và duy trì là những lợi ích
từ các quá trình điều tiết và duy trì giá trị của hệ
sinh thái như điều hòa khí hậu và chất lượng
không khí, hấp thụ và lưu trữ carbon, hạn chế tác
động của các hiện tượng cực đoan (lũ lụt, hạn
hán, bão,), lọc sạch nước, chống xói lở và duy
trì độ màu của đất, thụ phấn và kiếm soát sinh
học. Các DVHST điều tiết của đụn cát phổ biến
như điều tiết khí hậu hoặc chất lượng không khí,
đặc biệt là nguy cơ tự nhiên và chống xói mòn
hệ sinh thái đụn cát đã thu hút sự chú ý của nhiều
nhà khoa học [6].
- Dịch vụ văn hóa là lợi ích phi vật chất từ hệ
sinh thái như bảo đảm sức khỏe thể chất, làm
giàu đời sống tinh thần, phát triển nhận thức, sự
suy nghĩ, giá trị giải trí, du lịch sinh thái, giá trị
thẩm mĩ, cảm hứng văn hóa, nghệ thuật và thiết
kế, trải nghiệm tâm linh và bản sắc địa phương.
Trong hệ sinh thái đụn cát, sáu loại DVHST văn
hóa thường được chú ý: (1) giải trí và du lịch, (2)
thẩm mỹ cảnh quan, (3) hệ thống tri thức, (4) di
sản văn hóa, (5) bản sắc khu vực và (6) di sản
thiên nhiên [7].
2.2. Phân loại đụn cát ven biển Sơn Trà-Tam Kỳ
Phân loại đụn cát thường dựa trên sự khác
biệt về đặc điểm môi trường, màu cát, tuổi địa
chất và độ che phủ của đất [8,9]. Trong nghiên
cứu này, đặc điểm môi trường và tuổi địa chất
được phân tích, nhận dạng qua đặc điểm địa mạo
đụn cát. Cấu trúc ngang của dải ven biển Sơn Trà
2 https://cices.eu/
D.K. Bac et al. / VNU Journal of Science: Earth and Environmental Sciences, Vol. 36, No. 3 (2020) 81-92 84
– Tam Kỳ theo hướng từ bờ vào đất liền gồm 6
kiểu đụn cát từ phôi thai đến trưởng thành: (1)
đụn cát phôi thai; (2) đụn cát tiền tiêu; (3) đụn
cát vàng; (4) đụn cát xám; (5) đụn cát trắng; (6)
đụn cát nâu (Hình 1). Các đụn cát đều có nguồn
gốc từ biển, được gió tái tạo, có tuổi cổ dần từ
phía bờ (Holocen muộn) về phía lục địa
(Holocen giữa, Pleistocen muộn). Có sự phân
hóa các thế hệ đụn cát ở phía bắc và nam sông
Thu Bồn. Trên dải ven biển từ thành phố Hội An
đến phía nam Sơn Trà chỉ có bốn loại hình đụn
cát từ (1) đến (4); trên dải ven biển từ Duy Xuyên
đến Tam Kỳ thì có đầy đủ sáu loại hình đụn cát
từ (1) đến (6).
Hình 1. Sơ đồ khu vực nghiên cứu dải ven biển nam Sơn Trà (Đà Nẵng) đến Tam Kỳ (Quảng Nam).
Các đụn cát phôi thai và đụn cát tiền tiêu
được phân bố không đồng nhất dọc theo các bãi
biển. Trong khi các đụn cát phôi thai thường
được hình thành và phá hủy hàng năm do ảnh
hưởng của sóng và gió thì các đụn cát tiền tiêu
đã được liên kết với nhau, kéo dài liên tục từ vài
trăm đến vài nghìn mét dọc theo bờ biển, có thể
gọi chúng là các “đê cát thiên nhiên”. Các đụn
cát tiền tiêu có độ cao từ 5 - 20m, rộng 50 - 150m,
khi được phủ bởi thực vật sẽ đóng vai trò quan
trọng trong bảo vệ bờ biển. Ngoài thảm thực vật
tự nhiên như cây bụi, ở một số nơi, trên đụn cát
này đã được trồng rừng, chủ yếu là phi lao. Trong
các chiến lược quốc gia và địa phương đối với
việc quản lý bền vững các khu vực ven biển, phôi
(đụn cát phôi thai) và phôi trước (đụn cát tiền
tiêu) đóng vai trò quan trọng để ngăn chặn bão,
nước biển dâng và xói lở bờ biển [1] và cần được
bảo vệ để duy trì giá trị dịch vụ hệ sinh thái. Do
các bãi biển, đụn cát phôi thai và đụn cát tiền tiêu
có chiều ngang khá nhỏ (thường không quá
200m) nên trong nghiên cứu này, chúng được
hợp nhất để đánh giá.
Đụn cát vàng được hình thành trong thời kỳ
biển thoái Holocen muộn. Những đụn cát này
thường không chịu tác động của sóng biển,
nhưng bị ảnh hưởng mạnh bởi gió. Độ cao tuyệt
đối của đụn cát vàng dao động từ 10 đến 40 m và
chiều rộng của chúng dao động từ 2 đến 7 km.
Trong gần 20 năm qua, các tỉnh ven biển đã nhận
D.K. Bac et al. / VNU Journal of Science: Earth and Environmental Sciences, Vol. 36, No. 3 (2020) 81-92 85
được khá nhiều kinh phí từ các dự án quốc gia để
trồng mới và bảo vệ rừng (gần 3 triệu ha kể từ
năm 2002) ở đụn cát vàng [10]. Tuy nhiên, do
điều kiện khí hậu nóng và khô, thiếu nước và tác
động mạnh từ các cơn bão nhiệt đới, mật độ che
phủ của rừng phòng hộ không đồng nhất. Do đó,
các nhà quản lý đã phân biệt giữa rừng sản xuất
được chứng nhận và được đặc trưng bởi mật độ
che phủ cao với rừng bảo vệ không chắc chắn,
có đặc điểm là mật độ che phủ thấp hơn. Tuy
nhiên, hệ sinh thái đụn vàng có thể cung cấp một
lượng lớn giá trị thẩm mỹ cảnh quan và phù hợp
cho phát triển du lịch.
Đụn cát xám có diện phân bố khá rộng rãi
dọc ven biển Sơn Trà – Tam Kỳ, trầm tích của
đụn cát được hình thành trong thời kỳ biển tiến
Flandrian, cực đại vào Holocen giữa. Đụn cát
này hiện không chịu tác động bởi sóng và ít bị
ảnh hưởng bởi gió. Đụn cát xám có độ cao trung
bình từ 4 đến 8m, chiều rộng trung bình từ 2 đến
5 km và kéo dài hàng chục kilomet, điển hình là
đụn cát kéo dài từ phía nam bán đảo Sơn Trà, qua
Ngũ Hành Sơn tới thành phố Hội An. Các khu
đô thị mới ở Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn, thành phố
Hội An có quy mô khác nhau đã được phát triển
trên các đụn cát này. Người dân bản địa đã định
cư lâu đời trên các đụn cát xám với các hoạt động
nông nghiệp như trồng cây ăn quả và rau, màu.
Những dải trũng giữa các đụn cát xám được sử
dụng để trồng lúa nước.
Đụn cát trắng tuổi cuối Pleistocene muộn
phân bố chủ yếu ở phía tây sông Trường Giang,
có độ cao trung bình 8-12m, kéo dài hàng chục
kilomet từ nam sông Thu Bồn tới đông Tam Kỳ.
Bảng 1. Phân loại các đụn cát ven biển (Nguồn: theo các tác giả)
Tuổi địa
chất
[11] [12] [13] [14]
Thuật ngữ được
dùng trong bài báo
Hiện đại
Đụn trẻ nhất (The
Strand Line)
-
Bãi biển và đụn
cát hiện đại
-
Bãi biển và đụn
phôi thai
Holocen
muộn
Đụn phôi thai (Embryo
Dunes) Đụn cát
vàng nhạt
Đụn cát vàng
pha
-
Đụn cát tiền tiêu
Đụn di động (Fore
Dunes)
Đụn cát vàng
Holocen
giữa
Đụn cát
trắng
Đụn cát trắng
Đụn cát
vàng nhạt
Đụn cát xám
Holocen
sớm
Đụn cát bán cố định
(Semi-stabilised dunes)
- -
Đụn cát xám
nâu
-
Pleistocen
muộn
Đụn cát ổn định
(Stabilised dunes)
Đụn cát
vàng nghệ
Đụn cát vàng
Đụn cát
trắng
Đụn cát trắng
Pleistocen
giữa –
muộn
Đoạn đụn trũng (Dune
Slack)
- -
Đụn cát đỏ
rượu vang
Đụn cát nâu
Đụn cây bụi (Dune
Scrub)
- Đụn cát đỏ
Đụn cát đỏ
đậm
Đụn cát đỏ
Đụn cây Thạch nam
(Dune Heath)
- - - -
Đụn cây Thạch nam
(Dune Heath)
- - - -
Trầm tích cát biển được hình thành trong thời
kỳ biển tiến Pleistocen muộn bị tác động mạnh
trong thời kỳ biển thoái cuối Pleistocen muộn,
khi mực nước biển thấp hơn ngày nay khoảng
100m và điều kiện khí hậu khô, tạo nên màu
trắng tinh khiết. Gốc xói mòn hạ thấp khiến các
đụn cát bị xâm thực, tạo các máng trũng sâu. Các
máng này bị chìm ngập trong thời kỳ biển tiến
cực đại vào Holocen giữa với cảnh quan đầm lầy,
vũng vịnh hẹp, hiện được sử dụng cho trồng lúa,
D.K. Bac et al. / VNU Journal of Science: Earth and Environmental Sciences, Vol. 36, No. 3 (2020) 81-92 86
màu. Các đụn cát trắng có địa hình cao, khá
phẳng, song hiện chưa được sử dụng cho phát
triển nông lâm nghiệp. Các rừng trồng với cây
phi lao, cây điều đều kém phát triển do dinh
dưỡng và kém ẩm của trầm tích. Ngoài việc sử
dụng đất nông nghiệp và lâm nghiệp, cát trắng
tinh khiết trên các đụn cát này còn được sử dụng
làm vật liệu xây dựng, đặc biệt là nguyên liệu
cho sản xuất thủy tinh.
Các đụn cát nâu phân bố trên diện tích không
lớn ở phía đông nam Tam Kỳ tỉnh Quảng Nam.
Sự hình thành trầm tích cát của hệ sinh thái này
có khoảng thời gian cổ hơn đụn cát trắng và đã
tạo ra những đụn cát có chiều cao 20 - 30 m.
Người dân bản địa khó có thể định cư ở khu vực
đụn cát nâu, vì nước ngầm chỉ có thể được khai
thác ở các lớp đất sâu. Hầu hết các khu vực đã
được sử dụng để phát triển rừng phòng hộ, mặc
dù hiện tại diện tích rừng vẫn còn thưa thớt.
Các đụn cát đỏ phân bố chủ yếu ở dải ven
biển Bình Thuận – Ninh Thuận, trong phạm vi
khu vực có điều kiện khí hậu khô nóng nhất Việt
Nam. Trong phạm vi vùng bờ Sơn Trà – Tam Kỳ
chưa phát hiện thành tạo này.
3. Phương pháp đánh giá dịch vụ hệ sinh thái
đụn cát
3.1. Phương pháp kế thừa, phân tích, đánh giá
tổng hợp tài liệu, điều tra và khảo sát thực địa
Đây là phương pháp truyền thống và cũng
bắt buộc đối với các cuộc nghiên cứu địa mạo
nhằm phát hiện các đặc trưng địa mạo của vùng,
kiểm tra và bổ sung thêm các tài liệu đã có hoặc
đi sâu nghiên cứu thêm một số vấn đề hay ý
tưởng mới. Đồng thời, toàn bộ tài liệu thống kê
cấp quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (Hội An)
trong khu vực nghiên cứu được cập nhật đến năm
2019. Nhóm nghiên cứu đã tiến hành 02 đợt khảo
sát thực địa tại 3 khu vực trọng điểm trong khu
vực nghiên cứu gồm: khu vực Sơn Trà, Cửa Đại
và Tam Kỳ từ 2019 đến 2/2020. Kết quả của các
đợt khảo sát thực địa là những tài liệu, ảnh chụp,
mô tả, cấu tạo địa hình, đặc điểm thành phần vật
chất và động lực phát triển địa hình, hiện trạng
sử dụng đất trên các đụn cát khác nhau. Khảo sát
thực địa cũng có mục tiêu kiểm chứng kết quả
đánh giá, làm rõ hiện trạng xói lở bờ biển và vai
trò của các hệ sinh thái đụn cát trong giảm thiểu
thiệt hại của tác động này. Các kết quả khảo sát
cũng cung cấp tài liệu cho việc tìm hiểu, đánh
giá sự bền vững theo thời gian của hoạt động sử
dụng đất trên các đụn cát tại khu vực nghiên cứu.
3.2. Phương pháp phân tích hệ thông tin địa lý
Trong những năm gần đây, áp dụng công
nghệ viễn thám và GIS đã giải quyết được nhiều
vấn đề về địa mạo. Phương pháp này sử dụng
loại bản đồ chuyên đề và phần mềm ArcGIS để
tính toán, phân tích và quản lý số liệu.
3.3. Phương pháp định lượng DVHST trên cơ sở
tham vấn chuyên gia
Dựa trên phương pháp phân tích bán định
lượng DVHST được đề xuất bởi B. Burkhard và
F. Müller [15,16], một ma trận DVHST mới
được thành lập bao gồm 5 loại dịch vụ cung cấp,
5 loại dịch vụ điều tiết và duy trì, và 6 loại dịch
vụ văn hóa trong hệ sinh thái đụn cát. Ma trận
đánh giá giá trị DVHST được nhóm tác giả đánh
giá sơ bộ trước khi gửi tới 21 chuyên gia liên
ngành để xem xét. Trong đó, 22 loại hình sử
dụng đất (được đặt tên bởi MONRE) được đặt ở
trục đứng, trong khi các loại hình DVHST được
đặt trên trục hoành (Bảng 2). Tiềm năng DVHST
thu được từ các loại hình sử dụng đất trên các
đơn vị địa mạo đụn cát được các tác giả đánh giá
tại các điểm giao cắt dao động theo thang điểm
từ 0 (không cung cấp DVHST) đến 100 (cung
cấp DVHST tối đa). Việc chuẩn hóa các giá trị
DVHST theo một thang đo chuẩn giúp công tác
so sánh giá trị DVHST dễ dàng hơn các phương
pháp định lượng khác.
Trong quá trình xem xét, ma trận ban đầu
được tách thành các ma trận nhỏ và gửi đến sáu
nhóm chuyên gia. Tùy thuộc từng lĩnh vực
chuyên môn, các ma trận nhỏ được phân chia
theo các nhóm: đô thị, nông nghiệp, lâm nghiệp,
địa mạo, văn hóa và sinh thái. Ví dụ, một ma trận
bao gồm sáu DVHST văn hóa đã được gửi cho
các nhà khoa học có kinh nghiệm trong các lĩnh
vực khoa học xã hội và nhân văn; trong khi ma
trận bao gồm tất cả DVHST thu được từ đất nông
D.K. Bac et al. / VNU Journal of Science: Earth and Environmental Sciences, Vol. 36, No. 3 (2020) 81-92 87
nghiệp được gửi đến các nhà khoa học trong lĩnh
vực nông nghiệp. Các nhà khoa học thuộc Đại
học Khoa học Tự nhiên (Hà Nội), Đại học Kiel
(CHLB Đức), Viện Hàn lâm Khoa học Việt Nam
(VASS), Viện Việt Nam học và Khoa học Phát
triển (IVIDES), Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc
tế (IRRI) là những người tham gia chính trong
bước này. Các nhà khoa học được yêu cầu kiểm
tra toàn ma trận được gửi. Họ có thể bổ sung
thêm hoặc thay đổi các loại hình sử dụng đất và
DVHST ven biển còn thiếu hoặc sai. Ở cuối
bước này, tất cả các thay đổi từ người đánh giá
được kết hợp vào một ma trận để tính toán các
giá trị cuối cùng. Nếu chênh lệch giữa các giá trị
từ người đánh giá là từ 20 đến 40 thì giá trị trung
bình được lấy làm giá trị cuối cùng. Nếu chênh
lệch cao hơn 40, phản hồi tiếp theo từ các nhà
khoa học tương ứng sẽ là cơ sở để chọn giá trị
cuối cùng. Giá trị DVHST sẽ được tính toán trên
toàn khu vực nghiên cứu và tại từng loại đơn vị
địa mạo đụn cát khác nhau trong các năm 2010
và 2020 theo công thức: ESV = ∑ 𝑊𝑖. 𝑆𝑗;
trong đó, “ESV” là giá trị DVHST, “Wi” là trọng
số tiềm năng cung cấp DVHST “i”, và “Sj” là
diện tích của loại hình sử dụng đất “j”. Đây là kết
quả quan trọng để đánh giá sự biến đổi chất
lượng hệ sinh thái trong thời đoạn 10 năm.
4. Kết quả và thảo luận
4.1. Ma trận đánh giá tiềm năng cung cấp
DVHST đụn cát ven biển
Với sự tham vấn của 21 chuyên gia trong và
ngoài nước, ma trận đánh giá tiềm năng cung cấp
DVHST đụn cát ven biển Sơn Trà – Tam Kỳ
được trình bày ở bảng 2, 3 và 4. Các giá trị
DVHST của các hệ sinh thái này được đánh giá
từ mức thấp đến cao; tương ứng với giá trị từ 5
đến 95 (Bảng 3 và 4). Ma trận được thành lập với
quan điểm là không có hệ sinh thái nào hoàn toàn
không cung cấp (giá trị 0) hoặc hoàn toàn cung
cấp (giá trị 100) cho bất kỳ DVHST nào. Ma trận
này là nền tảng quan trọng để phân tích tiềm
năng cung cấp DVHST đụn cát ven biển khác
nhau ở các bước sau.
Trong nghiên cứu này, ma trận dựa trên các
chuyên gia mới đã kế thừa ý tưởng từ các ma trận
DVHST hiện có được phát triển trước đó bởi
Burkhard và Kandziora [15,17], và được điều
chỉnh phù hợp với điều kiện thực tế ở Việt Nam,
cũng như cụ thể tại khu vực nghiên cứu. Thay vì
sử dụng một dải từ 0 đến 5 như trong các nghiên
cứu trước, một dải điểm từ 0 - 100 đã được sử
dụng. Một mặt, các chuyên gia có nhiều lựa chọn
hơn để cung cấp điểm số tương ứng với các
DVHST. Mặt khác, lợi ích từ hệ sinh thái sẽ được
hiểu chi tiết hơn.
Bảng 2. Các hệ sinh thái được đưa vào đánh giá chất lượng DVHST đụn cát
STT Tên hệ sinh thái STT Tên hệ sinh thái STT Tên hệ sinh thái
1 Đất ở đô thị 8 Cây công nghiệp lâu năm 15 Đất trồng lúa khác ("còn lại")
2 Đất ở nông thôn 9 Cây lâu năm khác 16 Đất trống chưa sử dụng
3 Đất chuyên dụng 10 Đất trồng rừng sản xuất 17 Đất làm muối
4 Đất nghĩa địa, nghĩa trang 11 Đất có trồng rừng sản xuất 18 Đụn cát tiền tiêu
5 Đất trống 12 Rừng trồng phòng hộ 19 Bãi biển tự nhiên
6 Đất trồng cây hàng năm 13
Đất có rừng trồng phòng
hộ
20 Nuôi trồng thủy sản
7 Đất trồng cây ăn quả 14 Chuyên canh lúa 21 Sông, kênh rạch, hồ nước
D.K. Bac et al. / VNU Journal of Science: Earth and Environmental Sciences, Vol. 36, No. 3 (2020) 81-92 88
Bảng 3. Kết quả đánh giá tiềm năng cung cấp DVHST cho các hệ sinh thái đất ở và đất rừng
với sự tham gia của 21 nhà khoa học trong nước và quốc tế*
DV
HST
Hệ sinh thái
Đất ở và sinh hoạt
Đất rừng
(1) (2) (3) (4) (5) (6) (7) (8) (9) (10) (11) (12) (13)
C
u
n
g
c
ấp
Cây trồng 30 50 5 5 5 70 70 5 5 5 5 5 5
Chăn nuôi 20 40 5 5 20 10 20 20 20 30 20 10 10
Lấy gỗ 20 20 10 5 5 5 10 30 70 50 90 5 5
Cá và thủy – hải sản 5 10 5 5 5 5 5 5 5 5 5 5 5
Khai thác khoáng sản 5 5 5 5 5 5 5 5 5 5 5 5 5
Đ
iề
u
t
iế
t
v
à
d
u
y
t
rì
Tái tạo nước ngầm 10 10 10 10 10 40 50 70 90 50 90 50 90
Khí hậu địa phương 20 30 5 30 10 20 30 60 70 20 80 40 90
Khí hậu toàn cầu 20 30 10 20 5 20 30 60 70 30 80 50 90
Chất lượng không khí 10 30 5 30 20 20 40 60 70 10 80 30 90
Quá trình thổi mòn 10 10 5 10 5 20 40 40 80 10 90 30 90
Sạt lở bờ biển 20 10 10 10 5 20 40 60 80 10 90 30 90
V
ăn
h
ó
a
Du lịch và giải trí 30 50 5 5 5 50 50 60 90 40 90 50 90
Cảnh quan đặc sắc 30 40 5 10 5 50 50 50 70 40 80 50 90
Hệ kiến thức 40 40 10 20 5 60 60 50 80 30 80 40 90
Di sản văn hóa 40 60 10 30 5 50 50 50 70 30 70 40 70
Đặc trưng vùng miền 50 60 10 40 10 60 60 50 80 30 80 40 90
Di sản tự nhiên 20 40 5 30 5 30 40 70 70 70 80 80 90
*Giá trị từ (1) đến (13) là các hệ sinh thái được giải thích trong Bảng 2.
Việc sử dụng dữ liệu lớp phủ/sử dụng đất
làm đại diện cho đánh giá DVHST sẽ làm đơn
giản hóa việc phân tích giá trị của từng hệ sinh
thái. Với một số loại DVHST cung cấp, việc sử
dụng dữ liệu lớp phủ/sử dụng đất làm cho mối
quan hệ của loại dịch vụ trở nên đơn giản và
chính xác, ví dụ lương thực/chất xơ được cung
cấp bởi các khu vực nông nghiệp, gỗ từ rừng,
nước từ các vùng nước. Mặc dù vậy, bằng dữ liệu
này, việc đánh giá những DVHST khác như điều
tiết và văn hóa thường phức tạp hơn và cần phải
dựa trên sự tương tác của các loại hệ sinh thái/sử
dụng đất/lớp phủ đất khác nhau.
4.2. Mức độ cung cấp DVHST đụn cát dải ven
biển Sơn Trà – Tam Kỳ
Khả năng cung cấp DVHST khác nhau giữa
bảy loại hệ sinh thái đụn cát được thể hiện ở Hình
2. Các đụn cát xám có giá trị DVHST điều tiết,
duy trì và văn hóa thấp nhất so với các đụn cát
còn lại. Đặc biệt, giá trị của các DVHST điều tiết
và duy trì tại các đụn cát vàng và nâu đạt rất cao,
hơn 36.000. Giá trị này cao hơn hẳn giá trị
DVHST của bốn nhóm đụn cát phôi thai, tiền
tiêu, xám và trắng. Liên quan tới DVHST văn
hóa, các đụn cát phôi thai/tiền tiêu, trắng và vàng
có giá trị gần như nhau, dao động từ 29.000 đến
32.000. Liên quan tới DVHST cung cấp, các hệ
sinh thái đụn cát cung cấp ở mức đồng đều,
khoảng từ 10.000 đến 12.000; trong khi riêng
đụn cát tiền tiêu/phôi thai có giá trị cao nhất, đạt
gần 18.000. Những phân tích trên phản ánh rõ
nét tầm quan trọng trong cung cấp DVHST của
các đụn cát ngoài cùng, giáp biển.
Việc thiếu đi bất kỳ hệ sinh thái tự nhiên nào
trên các đụn cát chưa trưởng thành đều sẽ dẫn
đến sự suy giảm giá trị DVHST của các đụn cát
bên trong đất liền.
D.K. Bac et al. / VNU Journal of Science: Earth and Environmental Sciences, Vol. 36, No. 3 (2020) 81-92 89
Bảng 4. Kết quả đánh giá tiềm năng cung cấp DVHST cho hệ sinh thái nông nghiệp và đất ven biển
với sự tham gia của 21 nhà khoa học trong nước và quốc tế*
DV
HST
Hệ sinh thái
Đất nông nghiệp Đất ven biển
(14) (15) (16) (17) (18) (19) (20) (21)
C
u
n
g
c
ấp
Cây trồng 90 80 40 5 5 5 10 5
Chăn nuôi 5 50 80 5 5 5 5 5
Lấy gỗ 5 20 5 5 5 5 5 5
Cá và thủy – hải sản 5 5 5 30 5 5 90 30
Khai thác khoáng sản 5 5 5 90 5 10 5 10
Đ
iề
u
t
iế
t
v
à
d
u
y
t
rì
Tái tạo nước ngầm 60 50 70 60 60 10 30 90
Khí hậu địa phương 40 40 40 10 20 5 30 70
Khí hậu toàn cầu 40 50 80 5 30 20 20 40
Chất lượng không khí 20 30 20 30 10 5 10 10
Quá trình thổi mòn 20 50 70 5 10 5 5 5
Sạt lở bờ biển 20 50 70 5 5 5 5 20
V
ăn
h
ó
a
Du lịch và giải trí 40 60 30 30 70 80 50 90
Cảnh quan đặc sắc 50 50 30 20 70 70 40 90
Hệ kiến thức 40 50 20 40 60 60 30 70
Di sản văn hóa 70 50 50 40 60 70 40 80
Đặc trưng vùng miền 70 50 20 70 60 70 30 80
Di sản tự nhiên 30 60 40 20 80 70 20 80
*Giá trị từ (14) đến (21) là các hệ sinh thái được giải thích trong Bảng 2.
Hình 2. Đánh giá tổng thể phân phối DVHST giữa các đụn cát khu vực nghiên cứu dựa trên
bảng ma trận cung cấp DVHST.
D.K. Bac et al. / VNU Journal of Science: Earth and Environmental Sciences, Vol. 36, No. 3 (2020) 81-92 90
Chức năng điều tiết sạt lở bờ biển, nước biển
dâng của các đụn cát này được gia tăng nếu có
sự mở rộng của hệ thống rừng phòng hộ dọc bờ
biển, đặc biệt là các vùng bờ bồi tụ ở Duy Xuyên,
tỉnh Quảng Nam. Ngược lại, đối với các bờ biển
bị sạt lở, chẳng hạn như ở khu vực Cửa Đại
(thành phố Hội An), Cửa ở (Tam Kỳ), các cồn
cát và bãi biển bị thu hẹp đáng kể, thậm chí nhiều
nơi không còn bãi biển, sóng biển trong bão, gió
mùa đông bắc kết hợp triều cường đã tác động
tới các công trình xây dựng, cụm cư dân ở phía
trong, gây thiệt hại nặng nề. Cồn cát phôi thai và
tiền tiêu là vùng đất đầu tiên chịu ảnh hưởng của
các tai biến tự nhiên ven biển. Việc duy trì trạng
thái tự nhiên của bãi biển, cồn cát phôi thai và
tiền tiêu không chỉ đóng vai trò quan trọng trong
điều tiết xói lở hàng năm, mà còn bảo vệ các hệ
sinh thái trong đất liền khỏi tác động tiêu cực của
các hiện tượng cực đoan. Các hoạt động phát
triển du lịch (xây dựng cơ sở hạ tầng du lịch) ở
dải ven biển Sơn Trà – Tam Kỳ cũng như nhiều
khu vực ven biển khác ở Việt Nam có xu hướng
mở rộng ra phía biển, dẫn đến sự suy giảm giá trị
DVHST tự nhiên, chẳng hạn như khả năng
chống xói lở bờ và lọc không khí [18].
Để giảm thiểu thiệt hại do sạt lở bờ biển, ứng
phó biến đổi khí hậu, nước biển dâng, cần có giải
pháp bảo vệ các hệ sinh thái đụn cát sát biển, như
đã được nhiều quốc gia thực hiện. Một ví dụ điển
hình đã được nhóm tác giả tiếp cận tại thành phố
Lacanau, Pháp. Tại bờ biển có nguy cơ sạt lở bờ
biển cao này, chính quyền đã chọn các giải pháp
tự nhiên để ổn định bờ biển bằng cách tránh tác
động của con người và nước biển dâng. Tiếp cận
của người dân từ phía trong ra bãi biển được giới
hạn bằng các lối mòn có trải các thanh gỗ nhỏ để
không trực tiếp bước chân trên đụn cát [19]. Các
giải pháp ở các nước phát triển đã giúp tối ưu hóa
các quá trình bồi tụ ven biển và tránh quá trình
đô thị hóa quá nhanh tác động tới hệ sinh thái
đụn cát ven biển.
4.3. Tiền năng cung cấp DVHST đụn cát tại dải
ven biển Sơn Trà – Cửa Đại
Sau khi phân tích tiềm năng cung cấp
DVHST tại khu vực Sơn Trà – Cửa Đại, giá trị
DVHST tại các quận ven biển TP. Đà Nẵng
thường thấp hơn hẳn so với các xã/phường ven
biển Quảng Nam, đặc biệt là các DVHST điều
tiết, duy trì và văn hóa. Đối với các loại hình
DVHST cung cấp, sự chênh lệch này không rõ
rệt.
Tại dải ven biển từ quận Sơn Trà đến quận
Ngũ Hành Sơn (Đà Nẵng), các khu vực đất ven
biển hầu hết được phân lô, xây dựng kín ra sát
bãi biển, khiến tiềm năng cung cấp DVHST bị
suy giảm nhiều. Khu vực dân cư thuộc các
phường Phước Mỹ và Khuê Mỹ được lùi vào sâu
từ tuyến đường ven biển, một số nơi được che
chắn bởi dải rừng phòng hộ đã giúp giá trị
DVHST điều tiết và duy trì được cải thiện hơn
so với phường Hải Hòa.
Tại khu vực phường Hòa Hải (quận Ngũ
Hành Sơn, Đà Nẵng) và phường Điện Ngọc (thị
xã Điện Bàn, Quảng Nam), nhiều khu du lịch
được xây dựng sát biển khiến khả năng phòng
chống tai biến thiên nhiên bị suy giảm. Thêm vào
đó, việc quy hoạch các khu du lịch ven biển sát
nhau khiến người dân địa phương và khách du
lịch gặp khó khăn trong việc tiếp cận biển, kéo
theo sự suy giảm về giá trị văn hóa, phá vỡ cảnh
quan tự nhiên. Mặc dù các khu du lịch được xây
dựng nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu của khách
trong và ngoài nước, nhưng đó là lượng khách
giới hạn và phải trả tiền. Thay vào đó, các giá trị
văn hóa, cảnh quan và nhu cầu thư giãn của
người dân địa phương ven biển và cộng đồng nói
chung đã bị suy giảm đáng kể. Nhìn chung, khu
vực này được đánh giá có giá trị DVHST văn hóa
thấp nhất trong toàn khu vực nghiên cứu.
Kết quả đánh giá tiềm năng cung cấp
DVHST được thể hiện trên Hình 3 cho thấy đoạn
ven biển Điện Dương – Cửa Đại khả quan hơn
nhiều so với đoạn Sơn Trà – Hòa Hải. Mặc dù
phần phía bắc thị xã Điện Bàn (phường Điện
Ngọc) có mật độ xây dựng hạ tầng du lịch khá
lớn, song các phương án quy hoạch vẫn có sự hài
hòa giữa thực phủ và khu xây dựng. Đoạn phía
nam thị xã Điện Bàn (phường Điện Dương) hiện
vẫn còn nhiều dải rừng phòng hộ trên đụn cát
được bảo vệ, phía trong là quần cư nông thôn và
đất nông nghiệp. Điều đó giúp giá trị DVHST
khu vực này ổn định và cao hơn đáng kể đoạn
phía Sơn Trà – Hải Hòa.
D.K. Bac et al. / VNU Journal of Science: Earth and Environmental Sciences, Vol. 36, No. 3 (2020) 81-92 91
Hình 3. Chi tiết giá trị 16 loại DVHST cho 2 khu vực Sơn Trà – Hòa Hải và Điện Dương-Cửa Đại.
Kết quả so sánh tiềm năng cung cấp DVHST
đụn cát ven biển giữa thành phố Đà Nẵng và tỉnh
Quảng Nam cũng cho thấy các đụn cát ở Quảng
Nam, đặc biệt là phía nam Cửa Đại có giá trị cao
hơn. Việc bảo vệ rừng phòng hộ ven biển trên
các đụn cát vàng và đụn cát tiền tiêu là hết sức
cần thiết để ngăn chặn, giảm thiểu tác hại của các
tai biến thiên nhiên. Việc phát triển các khu du
lịch, khu dân cư trên các đụn cát ven biển sẽ làm
giảm khả năng cung cấp các DVHST khác, đặc
biệt là các dịch vụ gắn với quyền tiếp cận tới biển
của người dân. Điều này cần được phân tích sâu
hơn trong các nghiên cứu sau này. Việc phân
phối sử dụng đất trong các hệ sinh thái đụn cát là
cơ sở hữu ích cho các nhà quản lý hiểu hơn giá
trị của DVHST ở cấp độ khu vực, qua đó có thể
lựa chọn giải pháp sử dụng đất phù hợp, đạt được
sự cân bằng trong cung cấp DVHST dài hạn.
5. Kết luận
Trên cơ sở đánh giá DVHST đụn cát ven
biển Sơn Trà – Tam Kỳ, nghiên cứu đưa ra một
số kết luận sau:
- Các đụn cát phôi thai và tiền tiêu là vùng
đất đầu tiên chịu ảnh hưởng bởi các nguy cơ tự
nhiên từ phía biển. Các đụn cát này có tiềm năng
dịch vụ hệ sinh thái cao, không chỉ đóng vai trò
quan trọng trong điều tiết sạt lở bờ biển mà còn
có tác dụng bảo vệ các hệ sinh thái trong đất liền
khỏi tác động của các hiện tượng thời tiết cực
đoan liên quan tới biến đổi khí hậu, nước biển
dâng.
- Do mức độ đô thị hóa và suy giảm nghiêm
trọng diện tích rừng phòng hộ trên đụn cát tại dải
ven biển, đoạn bờ Sơn Trà – Hòa Hải thuộc thành
phố Đà Nẵng có tiềm năng cung cấp DVHST
thấp hơn nhiều so với đoạn bờ Điện Dương –
Cửa Đại thuộc tỉnh Quảng Nam.
Nhằm quản lý tốt dải ven biển, cần có giải
pháp kiên quyết trong bảo vệ các hệ sinh thái và
duy trì giá trị dịch vụ hệ sinh thái đụn cát, trước
tiên là định hướng mở rộng diện tích và quản lý
chất lượng rừng phòng hộ trên các đụn cát tiền
tiêu và phôi thai cho tăng cường chức năng điều
tiết xói lở bờ biển, chống bão và nước biển dâng,
bảo vệ môi trường và tăng giá trị cảnh quan ven
biển khu vực Sơn Trà – Tam Kỳ nói riêng và
vùng bờ cát nói chung.
Lời cảm ơn
Bài báo này được hoàn thành trong khuôn
khổ đề tài NCKH cấp nhà nước mã số
KC.09.17/16-20. Tập thể tác giả xin chân thành
cảm ơn.
Tài liệu tham khảo
[1] H.N.T. Do, Quaternary geological characteristics
and underground sources in coastal lands of
Quang Nam province, Hanoi University of
Mining and Geology, 2016.
D.K. Bac et al. / VNU Journal of Science: Earth and Environmental Sciences, Vol. 36, No. 3 (2020) 81-92 92
[2] Millennium Ecosystem Assessment, Ecosystems
and human well-being, 5/281, 2005. https://
doi.org/10.1016/B978-0-12-409548-9.09206-X.
[3] M. Potschin, R. Haines-Young, R. Fish, R. K.
Turner, Routledge handbook of ecosystem
services. Routledge, 2016. https://doi.org/10.4324/
9781315775302.
[4] K. Van der Biest, L. De Nocker, S. Provoost, A.
Boerema, J. Staes, P. Meire, Dune dynamics
safeguard ecosystem services, Ocean Coast.
Manag. 149 (2017) 148–158. https://doi.org/
10.1016/j.ocecoaman.2017.10.005.
[5] M. Everard, L. Jones, B. Watts, Have we
neglected the societal importance of sand dunes?
An ecosystem services perspective, Aquat.
Conserv. Mar. Freshw. Ecosyst. 20 (4) (2010)
476–487. https://doi.org/10.1002/aqc.1114.
[6] M. S. Meixler, Assessment of Hurricane Sandy
damage and resulting loss in ecosystem services
in a coastal-urban setting, Ecosyst. Serv. 24 (2017)
28-46. https://doi.org/10.1016/j.ecoser. 2016.12.009.
[7] U.M. Nehren, H. Thai, H. Dac, C. Raedig, S.
Patricia, A. De Nehren, Chapter 18: Ecosystem
Services of Coastal Dune Systems for Hazard
Mitigation: Case Studies from Vietnam, Indonesia,
and Chile, in: Ecosystem Services of Coastal
Dune Systems for Hazard Mitigation, 2016.
https://doi.org/10.1007/978-3-319-43633-318.
[8] R.G. Biel, S.D. Hacker, P. Ruggiero, N. Cohn, E.
W. Seabloom, Coastal protection and
conservation on sandy beaches and dunes:
Context-dependent tradeoffs in ecosystem service
supply, Ecosphere, 8/4, 2017. https://doi.org/10.
1002/ecs2.1791.
[9] A. Urbis, R. Povilanskas, A. Newton, Valuation
of aesthetic ecosystem services of protected
coastal dunes and forests, Ocean Coast. Manag.,
179, 2019. https://doi.org/10.1016/j.ocecoaman.
2019.104832.
[10] L.T. Tam, Solution for tourism development in
Binh Thuan province in the period of 2015-2020,
J. Dev. Integr. 32 (05)(2015) 78–81.
[11] D. Holmes, The Geography of Coastal Sand
Dunes. Geo Factsheet, Birmingham, 119, 2001.
[12] T. Nghi, Evolution to form coastal sand system in
Central Vietnam in the interaction relationship
with sea level changes in Quaternary, Proceeding
of Marine Geological and Geophysical
Researches, 2, 1996, pp. 130-138.
[13] L.D. An, U.D. Khanh, Geomorphology in
Vietnam: Structure – Resources – Environment,
Publishing of Natural and Technological
Sciences, 2012.
[14] N.V. Tuan, T. Nghi, T.T. Van, N.X. Khien,
Provenance, Characteristics and Paleogeographic
Conditions of the Quaternary Sandy Formations
in Coastal Area of Binh Thuan Province, VNU
Journal of Science: Earth and Environmental
Sciences 34(3) (2018) 55-70. https://doi.org/
10.25073/2588-1094/vnuees.4267.
[15] B. Burkhard, M. Kandziora, Y. Hou, F. Müller,
Ecosystem service potentials, flows and demands-
concepts for spatial localization, indication and
quantification, Landscape Online, 34 (1) (2014)
1–32. https://doi.org/10.3097/LO.201434.
[16] F. Müller, Assessing ecosystem service potentials
to evaluate terrestrial, coastal and marine
ecosystem types in Northern Germany – An
expert-based matrix approach, Ecol. Indic., 112,
2020, p. 106116. https://doi.org/10.1016/j.
ecolind.2020.106116.
[17] M. Kandziora, B. Burkhard, F. Müller,
Interactions of ecosystem properties, ecosystem
integrity and ecosystem service indicators-A
theoretical matrix exercise, Ecol. Indic. 28 (2013)
54–78. https://doi.org/10.1016/j.ecolind.2012.09.006.
[18] T. Nghi, Solutions to minimize hazards and to
reform littoral sandy bars aimed to sustainable
economic development in Quang Binh province,
VNU J. Sci., 2 (2006) 10.
[19] C. Vinchon, Response of the Coastline to Climate
Change. Specific Report for the RESPONSE
Project LIFE-Environment program: Evolution of
coastal risk (erosion and marine flooding) on the
Aquitaine and Languedoc- Roussillon pilot
regions. Final report. BRGM/RP-54718-, 2006.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
danh_gia_tiem_nang_cung_cap_dich_vu_he_sinh_thai_dun_cat_ven.pdf