Đánh giá tình trạng co mạch não ở bệnh nhân xuất huyết dưới nhện bằng siêu âm Doppler xuyên sọ
Về tương quan giữa vận tốc dòng chảy tối đa của
động mạch não giữa và thời điểm làm tiến hành siêu
âm Doppler xuyên sọ: chỉ có 01 trường hợp xảy ra co
mạch trên siêu âm vào ngày thứ 3 - 4 sau xuất huyết và
tăng lên 02 BN vào ngày thứ 8 - 9. Đây là tỉ lệ khá thấp
so với một số nghiên cứu: Vũ Quỳnh Hương (62,5%),
Lê Văn Thính (47%), Gonzalez NR. et al (81%). Lí do
là trong nghiên cứu của chúng tôi, lượng bệnh ít, được
lấy trong thời gian ngắn kèm với những khó khăn trong
quá trình thực hiện.
Về tương quan giữa phân độ Hunt - Hess trên lâm
sàng với vận tốc dòng chảy tối đa của động mạch não
giữa, các BN có co mạch trên TCD thuộc nhóm II và III,
phù hợp với kết quả của Frontanella [9]. Tuy nhiên, nhìn
chung mức độ lâm sàng có mối tương quan không chặt
chẽ với kết quả siêu âm. Điều này được giải thích bởi
đa phần BN vào viện với bệnh cảnh chấn thương sọ
não, phối hợp với những tổn thương nội sọ khác ngoài
xuất huyết dưới nhện gây ra bệnh cảnh lâm sàng đa
dạng. BN được phẫu thuật cũng ảnh hưởng tới kết quả
nghiên cứu, nhất là phẫu thuật trước thời điểm ngày
thứ 8 - 9 sau xuất huyết, thời điểm mà co mạch xảy ra
mạnh nhất [4] [6].
Với lí giải như trên, kết quả tương tự cũng được
ghi nhận khi xét mối tương quan giữa phân độ xuất
huyết dưới nhện theo FISHER trên CLVT sọ não với
vận tốc dòng chảy tối đa của động mạch não giữa. Tuy
nhiên, với những trường hợp được chẩn đoán co mạch
trên siêu âm Doppler xuyên sọ thì triệu chứng lâm sàng
và hình ảnh CLVT lại khá phù hợp. Điều này cho thấy
giá trị nhất định của TCD trong việc xác định sớm co
mạch, ở những BN xuất huyết dưới nhện đơn thuần,
không có tiền sử chấn thương sọ não nặng và chưa
can thiệp phẫu thuật sọ não [6] [7].
5 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 15 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đánh giá tình trạng co mạch não ở bệnh nhân xuất huyết dưới nhện bằng siêu âm Doppler xuyên sọ, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 12 - 12 / 2013 237
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
SCIENTIfIC RESEARCH
SUMMARy
ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG CO MẠCH NÃO
Ở BỆNH NHÂN XUẤT HUYẾT DƯỚI NHỆN
BẰNG SIÊU ÂM DOPPLER XUYÊN SỌ
Nguyễn Hoàng Minh*, Nguyễn Phước Bảo Quân**
* Bộ môn CĐHA Trường ĐHY
Huế
**Khoa Thăm dò chức năng
BVTW Huế
Subarachnoid hemorrage (SAH) is common emergency
in patients who got the congenital or acquaired cranio-vascular
diseases. This results from some reasons such as: aneurysm
ruption, AVM or trauma. Vasospasm increases disability and
mortality in patients who have SAH. Transcranial Doppler
Ultrasound (TCD) is the good method to diagnose early this stage
with many advantages as non-invasive, cheaply, the sensitivity and
specification is rather high.
Purpose: 1. Evaluating the vasospasm after SAH by TCD; 2.
Researching the correlation between the level SAH as well as the
clinical state of patients and the velocity blood flow of the middle
cerebral artery recorded by TCD.
Subjects and methods: We have prospected 20 patients
who were diagnosed SAH on Computed tomography. TCD was
performed 2 times: the 3rd – 4th day and the 8th – 9th day after getting
SAH. Those whose peak systolic velocity in middle cerebral artery
was ≥ 120cm/s considered vasospasm. Their clinical states were
also recorded at the same times.
Results: 2 patients (10%) got vasospasm of MCA at the 8th
– 9th day after SAH. The correlation between the level SAH as well
as the clinical state of patients and the velocity blood flow of MCA
is unclosed.
Conclusion: TCD can detect early the vasospasm but the
accuracy of this method is higher in the patients whose SAH is
primary and non - operated.
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 14 - 12 / 2013238
ngHiên CỨU KHoA HỌC
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngày nay, xuất huyết dưới nhện vẫn còn là một
thách thức trong chẩn đoán và điều trị. Các nguyên
nhân dẫn đến xuất huyết dưới nhện có thể là vỡ phình
động mạch não, dị dạng động tĩnh mạch, chấn thương
sọ não hoặc bóc tách động mạch não [3][4]. Sau khi
xuất huyết xảy ra, tình trạng BN không chỉ nặng lên
do xuất huyết não, mà còn do tình trạng co mạch não
có ở 30 - 50% các trường hợp và thường xuất hiện từ
ngày thứ 3 đến ngày thứ 21 sau khi xuất huyết [6][8]. Có
nhiều phương tiện được phát triển trong đánh giá mạch
não như cắt lớp vi tính mạch máu (CTA), cộng hưởng
từ mạch máu (MRA), chụp mạch não số hóa xóa nền
(DSA) tuy nhiên vẫn không thay thế được vai trò của
siêu âm Doppler xuyên sọ (TCD). TCD có ưu điểm là
đánh giá được tình trạng chức năng của các mạch máu
não; hơn nữa đây là phương pháp không nguy hại, rẻ
tiền, có thể tiến hành để theo dõi BN nhiều lần, có thể
làm ngay tại giường cho BN (đặc biệt là BN cấp cứu và
BN phẫu thuật) [3] [9].
Trên thế giới, siêu âm Doppler xuyên sọ trong đánh
giá co mạch ở BN XHDN đã được ứng dụng từ lâu và
mang lại hiệu quả khá cao. Ở Việt Nam, tuy đã được
biết đến kỹ thuật này nhưng số lượng tiến hành nghiên
cứu và ứng dụng là chưa nhiều.
Với những lý do như trên, chúng tôi thực hiện đề
tài: “Đánh giá tình trạng co mạch não ở BN xuất huyết
dưới nhện bằng siêu âm Doppler xuyên sọ” với hai
mục tiêu:
1. Tìm hiểu và đánh giá tình trạng co mạch ở BN sau
xuất huyết dưới nhện bằng siêu âm Doppler xuyên sọ.
2. So sánh mối tương quan giữa mức độ xuất huyết
dưới nhện trên CLVT và triệu chứng lâm sàng với các
chỉ số huyết động nội sọ ghi nhận được trên TCD.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng nghiên cứu
20 BN được chẩn đoán xuất huyết dưới nhện trên
cắt lớp vi tính sọ não được điều trị tại Khoa Hồi sức cấp
cứu và Khoa Ngoại Thần kinh Bệnh viện Trung ương
Huế từ 02/2013 đến 05/ 2013.
Tiêu chuẩn loại trừ: Xuất huyết trong u não,
xuất huyết trong ổ nhồi máu, xuất huyết não thất
nguyên phát.
2. Phương pháp nghiên cứu
a. Đánh giá lâm sàng XHDN theo phân độ
Hunt - Hess
Độ 1: Không có triệu chứng hoặc có nhức đầu nhẹ,
cứng gáy nhẹ.
Độ 2: Nhức đầu từ vừa đến nặng, cứng gáy nhưng
không liệt vận động hoặc chỉ liệt 1 dây thần kinh sọ não.
Độ 3: Liệt nhẹ nửa người, ý thức lú lẫn.
Độ 4: Hôn mê, liệt nửa người vừa đến nặng có thể
có co cứng não sớm và rối loạn thần kinh thực vật.
Độ 5: Hôn mê sâu, co cứng mất não, dọa tử vong.
b. Phân độ XHDN trên CLVT sọ não theo phân
loại của Fisher
Độ1: Không có máu trong khoang dưới nhện.
Độ 2: Độ dày của máu lan tỏa trong khoang DN
<1mm đường kính.
Độ 3: Độ dày của máu lan tỏa trong khoang DN >
1mm đường kính.
Độ 4: Máu tràn vào tổ chức não hoặc vào hệ thống
não thất lan tỏa.
c. Siêu âm Doppler xuyên sọ
BN được siêu âm Doppler xuyên sọ đánh giá động
mạch não giữa, ghi nhận vận tốc dòng chảy tối đa vào
hai thời điểm:
- Ngày thứ 3 - 4 sau xuất huyết dưới nhện (co
mạch bắt đầu xảy ra).
- Ngày thứ 9 - 10 sau xuất huyết dưới nhện (co
mạch nặng nhất).
BN được chẩn đoán có co mạch nếu Vmax ≥ 120
cm/s.
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 14 - 12 / 2013 239
ngHiên CỨU KHoA HỌC
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Tuổi
0%
5%
10%
15%
20%
25%
30%
<20 20 - 30 31 - 40 41 - 50 51 - 60 61 - 70 71 - 80
Biểu đồ 1
Giới: Nguyên nhân:
N�
Nam
Chấn
thương
Nguyên
nhân khác
Biểu đồ 2 Biểu đồ 3
Hình ảnh minh họa
BN 78t, XHDN TCD ngày thứ 3
Vmax # 124cm/s
TCD ngày thứ 9
Vmax # 170cm/s
Bảng 1. Vận tốc tối đa động mạch não giữa ở các thời điểm
Vmax
Thời điểm
<120cm/s ≥120cm/s Tổng số
Ngày thứ 3 – 4 19 1
20
Ngày thứ 9 - 10 18 2
Bảng 2. Tương quan giữa mức độ xuất huyết trên CLVT (Fisher) lúc vào viện
với Vmax động mạch não giữa tại thời điểm ngày thứ 8 - 9 sau xuất huyết
Độ
Vmax
I II III IV Tổng số p
<120cm/s 1 3 7 7 18
>0,05≥120cm/s 0 1 1 0 2
Tổng số 1 4 8 7 20
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 14 - 12 / 2013240
ngHiên CỨU KHoA HỌC
IV. BÀN LUẬN
Theo nghiên cứu của chúng tôi, xuất huyết dưới
nhện có độ tuổi trung bình là 49,25 ± 17,36, tuổi thấp
nhất là 15, lớn nhất là 78. Độ tuổi này phù hợp với các
nghiên cứu trong và ngoài nước là trên dưới 50 tuổi [1][5].
Tỉ lệ xảy ra xuất huyết dưới nhện ở nam và nữ là 3:1,
có sự chênh lệch rõ về giới.
Trong quá trình nghiên cứu, vì hạn chế về quy
trình và phương tiện chẩn đoán, việc xác định nguyên
nhân gây xuất huyết không được tiến hành đầy đủ.
Mặt khác, không phải tất cả các BN có xuất huyết dưới
nhện đều được tiến hành siêu âm Doppler xuyên sọ
vì nhiều nguyên nhân: BN chấn thương sọ não được
băng bó kỹ hoặc kích thích không hợp tác, bệnh nhân
có bản sọ dày Kết quả là nguyên nhân chấn thương
chiếm đại đa số (90%), hai BN còn lại không có tiền
sử chấn thương, có thể do vỡ phình mạch là một trong
những nguyên nhân thường gặp gây xuất huyết dưới
nhện [2] [3].
Về tương quan giữa vận tốc dòng chảy tối đa của
động mạch não giữa và thời điểm làm tiến hành siêu
âm Doppler xuyên sọ: chỉ có 01 trường hợp xảy ra co
mạch trên siêu âm vào ngày thứ 3 - 4 sau xuất huyết và
tăng lên 02 BN vào ngày thứ 8 - 9. Đây là tỉ lệ khá thấp
so với một số nghiên cứu: Vũ Quỳnh Hương (62,5%),
Lê Văn Thính (47%), Gonzalez NR. et al (81%). Lí do
là trong nghiên cứu của chúng tôi, lượng bệnh ít, được
lấy trong thời gian ngắn kèm với những khó khăn trong
quá trình thực hiện.
Về tương quan giữa phân độ Hunt - Hess trên lâm
sàng với vận tốc dòng chảy tối đa của động mạch não
giữa, các BN có co mạch trên TCD thuộc nhóm II và III,
phù hợp với kết quả của Frontanella [9]. Tuy nhiên, nhìn
chung mức độ lâm sàng có mối tương quan không chặt
chẽ với kết quả siêu âm. Điều này được giải thích bởi
đa phần BN vào viện với bệnh cảnh chấn thương sọ
não, phối hợp với những tổn thương nội sọ khác ngoài
xuất huyết dưới nhện gây ra bệnh cảnh lâm sàng đa
dạng. BN được phẫu thuật cũng ảnh hưởng tới kết quả
nghiên cứu, nhất là phẫu thuật trước thời điểm ngày
thứ 8 - 9 sau xuất huyết, thời điểm mà co mạch xảy ra
mạnh nhất [4] [6].
Với lí giải như trên, kết quả tương tự cũng được
ghi nhận khi xét mối tương quan giữa phân độ xuất
huyết dưới nhện theo FISHER trên CLVT sọ não với
vận tốc dòng chảy tối đa của động mạch não giữa. Tuy
nhiên, với những trường hợp được chẩn đoán co mạch
trên siêu âm Doppler xuyên sọ thì triệu chứng lâm sàng
và hình ảnh CLVT lại khá phù hợp. Điều này cho thấy
giá trị nhất định của TCD trong việc xác định sớm co
mạch, ở những BN xuất huyết dưới nhện đơn thuần,
không có tiền sử chấn thương sọ não nặng và chưa
can thiệp phẫu thuật sọ não [6] [7].
V. KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu với 20 BN có xuất huyết dưới
nhện được siêu âm Doppler xuyên sọ vào thời điểm
ngày thứ 3 - 4 và ngày thứ 8 - 9 sau xuất huyết, chúng
tôi nhận thấy:
Tuổi trung bình xảy ra xuất huyết dưới nhện là
49,25 ± 17,36, với sự chênh lệch đáng kể giữa hai giới:
Nam/ Nữ = 3/1.
5% BN có xảy ra co mạch trên TCD vào ngày thứ 3 - 4.
10% BN có xảy ra co mạch trên TCD vào ngày thứ 8 - 9.
Chưa tìm thấy mối tương quan chặt chẽ giữa mức
độ lâm sàng theo Hunt - Hess cũng như trên CLVT sọ
não theo phân độ FISHER với vận tốc tối đa động mạch
não giữa vào hai thời điểm được lựa chọn, ngoại trừ
những trường hợp được ghi nhận co mạch trên TCD.
Bảng 3. Tương quan giữa lâm sàng (Hunt - Hess)
với Vmax động mạch não giữa ngày 8 - 9 sau xuất huyết
Độ
Vmax
I II III IV V Tổng số p
<120cm/s 5 5 6 2 0 18
>0,05≥120cm/s 0 1 1 0 0 2
Tổng số 5 6 7 2 0 20
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 14 - 12 / 2013 241
ngHiên CỨU KHoA HỌC
Vũ Quỳnh Hương (2009), “Nghiên cứu lâm sàng, 1.
cận lâm sàng, tình trạng co thắt mạch máu não bằng
siêu âm Doppler xuyên sọ ở BN chảy máu dưới nhện”,
Luận án tiến sĩ Y học, Bệnh viện 108.
Vũ Đăng Lưu (2012), “Siêu âm Doppler xuyên 2.
sọ”, Siêu âm Doppler màu trong thăm khám mạch máu
tạng và mạch ngoại biên, Nhà xuất bản Y học, tr. 61 –
76.
Nguyễn Phước Bảo Quân (2012), “Siêu âm Doppler 3.
xuyên sọ các động mạch não”, siêu âm Doppler mạch máu,
tập 1, Nhà xuất bản Đại học Huế, tr. 292 – 234.
Phạm Minh Thông, Vũ Đăng Lưu (2007), “Điều 4.
trị phình động mạch não bằng can thiệp nội mạch”, Tạp
chí Y Dược lâm sàng 108, tr. 176 – 182.
Lê Văn Thính (2003), “Hình ảnh Doppler xuyên 5.
sọ chẩn đoán co thắt mạch trong chảy máu dưới nhện”,
Hội thảo khoa học, tr. 87 – 89.
Allan et col (2006), “Clinical Doppler ultrasound”, 6.
Churchill Livingstone, Elsevier.
Allan. H. Popper (2004)“Subarachinoid 7.
Hemorrage”, Neurogical intensive care, 4th edition,
p.234 – 245.
Frontanella M. et al (2008), “Vasospasm after SAH 8.
due to aneusysm rupture of the anterior circle of Willis: value
of TCD monitoring”, Neurology Res, p. 256 – 261.
Kreija J. er al (2005), “Middle cerebral artery 9.
spasm after subarachinoid hemorrhage: detection with
transcanial color – coded duplex US”, Radiology. 236
(2), p. 621 – 629.
Gonzalez NR. et al (2007), “Vasospasm 10.
probability index: a combination of transcranial Doppler
velocities, cerebral blood flow and clinical risk factors to
predict cerebral vasospasm after aneurismal subarachinoid
hemorrhage”, Neurosurgeon, p. 1101 – 1250.
TÓM TẮT
Xuất huyết dưới nhện (XHDN) là cấp cứu thường gặp ở bệnh nhân (BN) có bệnh lý sọ não bẩm sinh hoặc mắc
phải. Co mạch sau xuất huyết dưới nhện là một trong những nguyên nhân dẫn đến tử vong và tàn phế. Siêu âm
Doppler xuyên sọ là một trong những phương pháp phát hiện sớm biến chứng này, với những ưu điểm: không xâm
nhập, ít tốn kém, có thể tiến hành nhiều lần với độ nhạy và độ đặc hiệu khá cao.
Mục tiêu: 1. Đánh giá co mạch não ở BN XHDN bằng siêu âm Doppler xuyên sọ; 2. Tìm hiểu mối tương quan
giữa mức độ xuất huyết dưới nhện trên CLVT sọ não và triệu chứng lâm sàng với chỉ số huyết động nội sọ ghi nhận
được trên TCD.
Phương pháp: 20 BN sau khi xác định có XHDN trên CLVT sọ não sẽ được tiến hành siêu âm Doppler xuyên
sọ vào hai thời điểm: ngày thứ 3 - 4 và ngày thứ 8 - 9 sau xuất huyết, Vmax động mạch não giữa ≥ 120 cm/s là có
co mạch. BN được ghi nhận tình trạng lâm sàng lúc vào viện và tại các thời điểm khám siêu âm.
Kết quả: 02 trong tổng số 20 BN được khảo sát có tình trạng co mạch vào thời điểm ngày thứ 8-9 sau xuất
huyết, chiếm 10%. Có sự tương quan không chặt chẽ giữa triệu chứng lâm sàng, hình ảnh CLVT sọ não với vận tốc
dòng chảy động mạch não giữa ghi nhận được trên TCD.
Kết luận: Siêu âm Doppler xuyên sọ là phương pháp phát hiện, củng cố và hỗ trợ cho chẩn đoán lâm sàng khi
xảy ra tình trạng co mạch não sau XHDN. Phương pháp này chính xác hơn ở những BN có xuất huyết dưới nhện
đơn thuần và chưa được phẫu thuật.
NGƯỜI THẨM ĐỊNH: PGS.TS Hoàng Minh Lợi
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Các file đính kèm theo tài liệu này:
danh_gia_tinh_trang_co_mach_nao_o_benh_nhan_xuat_huyet_duoi.pdf