Đề tài Phật giáo du nhập vào Việt Nam và những ảnh hưởng của triết học Phật giáo đến Việt Nam qua các thời kỳ

Có người cúng Phật như đi lễ một ông quan ( Cầu lợi) tâm ý lo lót, hối lộ hay chuộc tội và tưởng rằng là mình càng to bao nhiêu thì Phật càng vui lòng bấy nhiêu. Có người cúng Phật với tâm lý khoe khoang ( cầu danh) để mọi người chung quanh đều biết mình rộng rãi, giàu có chứ không có một chút thành tâm nào cả. Câu chuyện đứa bé đem đất sét cúng Phật mà được Phật độ chứng tỏ sự cúng bái chú trọng ở lòng thành, chứ không phải ở vật thực, người cúng Phật với tâm niệm nhiễm ô nói trên tất nhiên chỉ hưởng phước báo giàu sang ở mặt hữu lậu ở trần gian mà thôi, chứ không được thước thanh tịnh vô lậu. Người cúng Phật với tâm niệm trong sạch, không mục đích lo lót cầu danh, cầu lợi cũng không cần ai biết đến lễ vật của mình ( vì danh) họ cúng Phật cốt để tỏ lòng thành kính tri ai. Câu chuyện về bà lão chỉ cúng Phật một đĩa dầu nhỏ mà thắp suốt đêm không hết, hay người ăn xin cùng gói muối ; bà hoàng cùng ba xe vàng. cũng đủ chứng tỏ rằng với lòng thành kính thì vật hèn hạ cũng trở nên quý báu vô cùng. Người cúng Phật với tấm lòng trong sạch, thành kính như thế sẽ được phước báo, xuất thế gian vô lậuthanh tịnh. Mặc dù quan điểm về Phật giáo bị phân tán bởi nhiều tầng lớp tín ngưỡng khác nhau nhưng cho đến ngày nay Phật giáo vẫn là một tôn giáo không thể thiếu được của nhân dân. Ngày nay trong sự đổi mới của xã hội, của thành tựu khoa học mong rằng mỗi con người Việt Nam nói riêng và nhân loại nói chung hãy có những quan điểm đứng đắn về đạo Phật, đừng biến nó thành thứ để cầu danh lợi, giữ đúng bản chất tốt đẹp vốn có để chứng tỏ rằng nền văn hoá dân tộc Việt Nam sẽ giữ mãi được bản sắc của mình trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Không những thế, là người Việt Nam sinh ra và lớn lên trong một môi trường giáo dục đầy tính nhân văn, nhân ái của đạo Phật, mỗi con người chúng ta phải có trách nhiệm giữ gìn, xây dựng, để Phật giáo Việt Nam thích ứng được với mọi hoàn cảnh, luôn đóng góp tô bồi những gì tốt đẹp cho dân tộc. Bởi Phật giáo là một nguồn ánh sáng trí tuệ và một nguồn suối yêu thương rạt rào.

doc20 trang | Chia sẻ: aloso | Lượt xem: 1489 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Phật giáo du nhập vào Việt Nam và những ảnh hưởng của triết học Phật giáo đến Việt Nam qua các thời kỳ, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
có ở bên trong và cái gì có ngay bên ngoài mỗi một con người có liên quan đến sự giải thoát ra khỏi cảnh đau khổ của kiếp người và vạch ra con đường giải thoát. Mặt khác đạo Phật lại không lấy giáo lý làm trọng, chỉ coi đó là phương tiện đến chân lý cuối cùng. Cái cốt của đạo Phật là sự thực hành của mỗi cá nhân để đạt tới sự tự chứng, sự giác ngộ. Do vậy đạo Phật sâu rộng vô cùng, không thể lấy cái tri thức và cái phép suy luận ra mà bàn luận cho rõ được. Chữ Phật là tiếng gọi tắt của từ Hán Việt: Phật Đà, từ này cũng dịch từ tiếng Phạn ( Boudha). Phật hay Boudha nếu diễn dịch ra, lấy nghĩa chân đế là cái nghĩa chân thực tuyệt đối mà xem xét thì Phật hoàn toàn như không, không sinh, không diệt, không tưởng, không khởi, không hoại, không lưu chuyển, không chỉ tức, không thành, tính không dự tính, không đoạn tận, là không độc nhất vô nhị trong vũ trụ... Cái tính chất đó của Phật thường gọi là pháp thân. Pháp thân là phần sáng tỏ kỳ tình mọi vật nhờ đó mà có, rồi chung quy lại quay về nó. Nhưng theo cái nghĩa chân đế này chỉ có một Phật chứ không có hai. Nhưng xét về mặt đời thường con người luôn nhìn vào sự biến đổi thì lại coi Phật là cái danh hiệu để chỉ những bậc có trí tuệ cực kỳ minh triết siêu phàm, có thể hiểu thấu hết mọi sự diễn biến trong vũ trụ. Những bậc ấy chứng được cái pháp thân chân thực vượt ra ngoài vòng diễn biến, biến hoá sau đó đem dự biết của mình để tuyên truyền cho chúng sinh thoát ra khỏi cái vòng luân chuyển sinh tử đó. Ba tạng kinh điển Phật giáo với hàng vạn quyển nhưng có hai vấn đề cơ bản và quan trọng nhất gồm: 4 chân lý giải thích về kiếp sống sinh, trụ, dị, diệt và 12 nhân duyên giải thích sự tương quan sinh tồn qua kiếp sống của con người nói riêng và các giai đoạn thành, trụ, hoại, không của muôn vật nói chung ( theo phạm trù triết học còn gọi là vấn đề nhân sinh và vũ trụ ) đã sớm du nhập vào Việt Nam và có những ảnh hưởng không nhỏ đến văn hoá, kinh tế, chính trị Việt Nam trong nhiều thế kỷ qua. Không những thế Phật giáo khi du nhập vào Việt Nam đã được người dân bản xứ tiếp nhận tự nhiên và khi hoà nhập đã tạo thành một bản sắc rất riêng cho tôn giáo ở Việt Nam. Bố cục bài viết như sau: Lời nói đầu Phần I. Những hiểu biết chung về Phật giáo I. Sự ra đời và sự phát triển của Phật giáo 2. Vài nét về người sáng lập ra đạo Phật 3. Con đường truyền đi của đạo Phật II. Nội dung của đạo Phật 1. Khổ đế 2. Nhân đế hay tập đế 3. Diệt đế 4. Đạo đế Phần II. Phật giáo du nhập vào Việt Nam và những ảnh hưởng của triết học Phật giáo đến Việt Nam qua các thời kỳ I. Sự du nhập của Phật giáo vào Việt Nam 1. Bối cảnh lịch sử 2. Nguồn gốc trung tâm Phật giáo Luy Lâu II. Những ảnh hưởng của triết học Phật giáo đến Việt Nam qua các thời kỳ 1. Hai thế kỷ đầu Tây lịch 2.Phật giáo trong các triều đại Việt Nam Phần III. Kết luận Phần I: Những hiểu biết chung về Phật giáo I. Sự ra đời và phát triển của Phật giáo 1. Phật giáo ra đời Trong lịch sử triết học của ấn Độ, mà thực chất là lịch sử phát triển của các hệ tư tưởng triết học xen lẫn với tôn giáo, có một thời kỳ là thời kỳ Bàlamôn giáo, Phật giáo ( từ thế kỷ VI trước công nguyên đến thế kỷ thứ VI sau công nguyên). ở thời kỳ này, mặc dù nền kinh tế đã phát triển hơn trước, nhưng nó vẫn bị kìm hãm bởi tính chất tổ chức kiên cố của công xã nông thôn, bởi sự phân chia đẳng cấp khắc nghiệt và sự thống trị của nhà nước trung ương tập quyền. Trong lĩnh vực đời sống tinh thần của xã hội, các trào lưu triết học, mà thực chất là các hệ tư tưởng của các tầng lớp khác nhau trong xã hội, xuất hiện đa dạng nhưng chia thành hai hệ thống chính đối lập nhau: chính thống và không chính thống. Hệ tư tưởng chính thống với thế giới quan duy tâm, tôn giáo của kinh Veda và giáo lý Bàlamôn trở thành hệ tư tưởng của giai cấp thống trị. Nhưng hệ tư tưởng không chính thống với đạo Phật, đạo Jaina và phong trào đòi tự do tư tưởng, đòi bình đẳng xã hội ở vùng Đông ấn lại ăn sâu vào mọi tầng lớp nhân dân. Đạo Phật đã hình thành ở ấn Độ vào khoảng thế kỷ thứ VI trước công nguyên, người sáng lập là thái tử Sidharta ( Tất Đạt Đa) ( Cồ - đăm), với tư cách là một trong những hệ tư tưởng tiên phong chống phân chia giai cấp, kì thị màu da và đồng cảm với nỗi khổ của nhân dân ấn Độ nói riêng, với con người nói chung. 2. Vài nét về người sáng lập đạo Phật: Thái tử Tất Đạt Đa ( Sidharta) là con vua Tịnh Phạn ( Sudhodana) nước Ca Tỳ La Vệ ( Kapila vastu). Truyền kể vào năm 624 trước công nguyên, hoàng hậu MaDa (Maya) sinh hạ một hoàng tử tuấn tú tại vườn ngự uyển Lâm Tỳ Ni (Lumbini) dưới gốc cây Ưu Bát La, thường gọi là cây Vô Ưu ( asokaa) có hoa với sắc màu rực rỡ. Thái tử sinh vào ngày trăng tròn tháng Vésaka, nhằm ngày rằm tháng tư âm lịch và được đặt tên là Tất Đạt Đa. Lớn lên, thái tử văn võ toàn tài, vợ là công chúa Da Du Đà La ( Yasodava) con vua Thiện Giác, cuộc sống rất đầy đủ, sung sướng. Nhưng những điều mắt thấy tai nghe về những nỗi đau khổ của con người đã ám ảnh tâm tư thái tử. Một ngày kia, thái tử ra đi, tương truyền ngài đến dòng A Nô Ma cắt tóc làm đạo sĩ. Ngài rủ năm người đến vùng Uruvela tu khổ hạnh trong 6 năm. Nhưng sau 6 năm học đạo và khổ hạnh, thái tử thấy kẻ hưởng lạc sẽ bê tha thối nát, còn tu hành khổ hạnh chỉ chuốc thêm khổ thân, chỉ có con đường trung đạo mới mong thành chính quả. Bởi thế, Thái tử đã bỏ 5 anh em ông Kiều Trần Như, dùng bát sữa của mục nữ Tu Xá Đề ( Sajata), xuống sông Ni Liên tắm rửa, rồi lên thiền quán dưới gốc cây pipal ( cây Tất Bát La, xứ Ba La Nại) lớn và ngồi dưới gốc cây suy nghĩ. Tương truyền là qua 49 ngày, ngài đã chứng tam minh tức là Túc mạng minh, Thiên nhân minh và Lậu tận minh, thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni, năm 36 tuổi. Gốc cây chỗ ngài ngồi gọi là Bồ đề đạo dưỡng ( Bodhimanda) hay Kim cương toạ ( Vadjrasana). Sau đó, ngài tìm 5 người bạn trước đây, giác ngộ cho họ, rồi cùng họ trong suốt 40 năm còn lại của cuộc đời đi truyền bá tư tưởng của mình. Có những câu chuyện đã thành huyền thoại về Phật như Phật đã dừng chân bên vệ đường xâu kim cho bà già mù loà, săn sóc, dọn dẹp ô uế cho người bệnh, nhận cơm thừa của một tiện nữ dâng cúng... Từ những việc nhỏ nhất, tất cả đều thể hiện lòng từ bi bác ái của Ngài và đạo của Ngài. 3. Con đường truyền đi của đạo Phật Sau Phật Niết bàn, các đệ tử Phật kiết tập 4 lần. Qua cuộc kiết tập lần thứ hai, do quan điểm bất đồng, Phật giáo chia thành hai phái: Thượng toạ bộ và Đại chúng bộ. Thượng toạ bộ chủ trương bảo thủ y nguyên Phật giáo ban đầu, đọc kinh bằng tiếng Pali. Đại chúng bộ có tư tưởng cấp tiến, phóng khoáng đọc kinh bằng tiếng Sanskrit. Dị biệt tiếp tục phát triển, về sau giáo đoàn Phật giáo cho làm hai hệ là Nam truyền và Bắc truyền. Thượng toạ bộ chi phối Nam ấn và Phật giáo Nam truyền liên tục hưng thịnh. Đại chúng bộ chi phối Bắc ấn, nhưng mãi đến thời Bồ Tát Mã Minh ( Asvaghosha) 5 thế kỷ sau Phật niết bàn, mới mở màn hưng thịnh và sáng rỡ nhất là thời kỳ Bồ Tát Long Thọ ( Nagarjuna) đầu thế kỷ II sau công nguyên. Phật giáo Nam truyền lan đến các nước phía Nam ấn: Tích Lan, Thái Lan, Miến Điện, Lào, Campuchia và đa số trở thành quốc giáo. Phật giáo Bắc truyền lan đến các vùng phía Bắc ấn ( Tây Tạng, Trung Quốc, Nhật Bản... ) mà mỗi nước lại có màu sắc riêng. Trung Hoa đã làm cho Phật giáo Bắc truyền thêm rực sáng. Sau này còn gọi Phật giáo Nam truyền là Phật giáo Tiểu Thừa, còn Phật giáo Bắc truyền là Phật giáo Đại Thừa. Với hai con đường thuỷ và bộ Phật giáo cũng vào Việt Nam những thế kỷ đầu công nguyên. II. Nội dung của đạo Phật Thực chất của đạo Phật là một học thuyết về "nỗi khổ " và sự giải thoát. Cốt lõi của học thuyết này là " Tứ diệu đế " ( bốn chân lý kì diệu ) hay " Tứ thánh đế " (bốn chân lý thánh ): - Khổ đế - Nhân đế hay Tập đế - Diệt đế - Đạo đế 1. Khổ đế Khổ đế là chân lý về bản chất của nỗi khổ. Nỗi khổ là gì ? Giáo lý đạo Phật nói khổ có khổ khổ, hoại khổ và hành khổ. Cụ thể là khổ gồm có tám thứ: sinh. già, bệnh, ân ái chia lìa ( thụ biệt ly), oan thù gặp gỡ ( oán tăng hội), cầu không được ( sở cầu bất đắc) và năm ấm không điều hoà ( thụ ngũ uẩn ). 2. Nhân đế hay Tập đế Tập đế là chân lý về nguyên nhân của nỗi khổ. Khổ là do đâu? Phật giáo cho rằng nguyên nhân trực tiếp dẫn đến nỗi khổ đau của con người là do lòng tham, sân si, vô độ. Không có cái gì là ta, của ta, nên con người khát ái, tham dục, hành động để chiếm đoạt để thoả mãn những ham muốn, dục vọng đó. Chính những hành động chiếm đoạt ấy dẫn đến sự khổ ải, gây nên nghiệp báo, đẩy con người vào bể khổ triền miên. Giải thích cụ thể các căn nguyên ấy, Phật nên ra thuyết " Thập nhị nhân duyên ", tức 12 nguyên nhân dẫn đến khổ: (1) Vô minh ( avidya) là không sáng suốt, ngu tối nên thế giới là ảo, là giả mà lại cho là thực. (2) Hành ( Samskara) là ý muốn thúc đẩy hoạt động . (3) Thức ( Vijnana) là nhận thức, phân biệt cái tâm trong sáng cân bằng với cái tâm không trong sáng, mất cân bằng. (4) Danh - Sắc ( Namarupa) là sự thống nhất, kết hợp các vật chất ( sắc) và các tinh thần ( danh). Đối với các loại hình thì sự phối hợp Danh - Sắc sẽ sinh ra 6 cơ quan cảm giác: mắt ( nhãn cầu), tai ( nhĩ căn), mũi ( tỵ căn), lưỡi ( thiệt căn), thân thể ( thân căn) và ý thức ( ý căn). (5) Lục nhập ( Sadayatana) là quá trình xâm nhập của thế giới xung quanh của lục trần ( sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp ) và các giác quan. (6) Xúc ( Sparsa) là sự tiếp xúc, phối hợp giữa lục căn với lục trần, hay là giữa các giác quan với thế giới bên ngoài. (7) Thụ ( Vedana) là sự cảm thụ, nhận thức trước sự tác động của thế giới bên ngoài. (8) ái ( Trsna) là sự yêu thích mà nảy sinh ham muốn dục vọng do cảm thụ thế giới bên ngoài. (9) Thủ ( Upadana) là giữ lấy, chiếm đoạt cái mà mình ham muốn, yêu thích. (10) Hữu ( Bhava) là sự tồn tại để tận hưởng cái đã chiếm được. (11) Sinh ( Jati) là sự ra đời, sinh thành do phải tồn tại. (12) Lão tử ( Jaramarana) già và chết do có sự sinh thành. Đó là 12 nguyên nhân tạo ra các vòng luẩn quẩn của nỗi khổ đau của con người, trong đó " vô minh" ( không hiểu lẽ tử sinh là nguyên nhân trước hết, cần diệt trừ. 3. Diệt đế Diệt đế là chân lý về cảnh giới diệt khổ. Nỗi khổ sẽ được tiêu diệt nếu nguyên nhân gây ra khổ bị loại trừ. Sự tiêu diệt khổ đau được gọi là niết bàn. Niết bàn là thế giới của sự giác ngộ và giải thoát. 4. Đạo đế Đạo đế là chân lý chỉ ra con đường diệt khổ. Làm thế nào để diệt khổ ? Phật đã vạch ra rằng đó là con đường tu luyện, suy tư, chiêm nghiệm nội tâm, thực nghiệm tâm linh theo phương và hướng chủ yếu gọi là Bát chính đạo. Nói rõ ràng hơn, Bát chính đạo chính là con đường tu luyện đạo đức ( giới ), tư tưởng ( định ) và khai sáng trí tuệ ( tuệ ). Bát chính đạo đó là: (1) Chính kiên ( Samyak - Dristi) là hiểu biết đúng đắn từ diệu đế. (2) Chính tư duy ( Samyak - Samkalpa) là suy nghĩ đúng đắn. (3) Chính ngữ (Samyak - Vaca) là nói năng phải đúng đắn. (4) Chính nghiệp (Samyak - Karmata) giữ nghiệp một cách đúng đắn, không làm việc xấu, độc ác. (5) Chính mệnh (Samyak - Ajiva) giữ ngăn dục vọng một cách đúng đắn. (6) Chính tịnh tiến (Samayak - Vyayama) là cố gắng nỗ lực đúng hướng, không biết mệt mỏi. (7) Chính niệm (Samayak - Suritisati) là luôn tâm niệm, tin tưởng vững chắc vào sự giải thoát. (8) Chính định (Samayak - Samadhi) là kiên định, tập trung tư tưởng cao độ vào một chỗ. Trong 8 con đường giải thoát đó, thì chính kiến và chính tư duy thuộc về Tuệ ( Panna); chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh thuộc về Giới ( Sila); chính tịnh tiến, chính niệm, chính định thuộc về Định ( Samadhi). Với nội dung như vậy, đạo Phật đã nêu lên nỗi khát vọng giải thoát con người khỏi những bi kịch của cuộc đời, khuyên con người sống lương thiện, từ bi, bác ái. Chính vì thế mà ngay từ đầu, học thuyết của Phật giáo đã đi sâu vào lòng người, truyền bá một cách nhanh chóng và rộng rãi không chỉ ở ấn Độ mà còn tới nhiều dân tộc khác, trong đó có Việt Nam. Phần II. Phật giáo du nhập vào Việt Nam và những ảnh hưởng của triết học Phật giáo đến Việt Nam qua các thời kỳ I. Sự du nhập của Phật giáo vào Việt Nam 1. Bối cảnh Việt Nam Nước Việt Nam có hình thể chữ S, thuộc bán đảo Đông Dương, thường gọi là ấn Độ Chi Na. Việt Nam chiếm vị thế bảy phần mười bán đảo Đông Dương, tiếp giáp với biển Trung Quốc và vịnh Bengale, được cấu thành bởi các dãy núi chạy từ Tây Tạng đến phía Đông và xoè ra biển như hình rẻ quạt. Giữa các rặng núi là những thung lũng, tạo thành các miền cao nguyên, bình nguyên và các dòng sông lớn. Sông Menam tạo thành đồng bằng Thái Lan, sông Mekong tạo thành đồng bằng Campuchia và Nam Việt Nam, sông Hồng tạo thành đồng bằng Bắc Việt Nam. Địa thế Việt Nam còn nằm giữa hai lục địa lớn và đông dân nhất thế giới là Trung Quốc và ấn Độ. Hai quốc gia lớn này cũng đã có nền văn hoá rất sớm đối với nhân loại. Việt Nam do ở địa thế như vậy nên chịu rất nhiều ảnh hưởng của hai nền văn minh đó. Theo các nhà sử học, dân tộc Việt Nam được hình thành có những thuyết sau: a- Tổ tiên Việt Nam gốc ở Tây Tạng.Vì đời sống, một bộ lạc theo lưu vực sông Hồng, dần hồi tràn xuống Trung Châu Bắc Việt. b- Theo Aurousseau, tổ tiên Việt Nam là người nước Việt, miền hạ lưu sông Dương Tử, bị người nước Sở (đời Xuân Thu) đánh đuổi. Để lánh nạn, người Việt chạy về phía Nam, miền Quảng Đông, Quảng Tây, rồi từ từ đến Bắc Việt và Bắc Trung Việt. Từ đó, cho biết xưa kia địa thế Việt Nam có thể bao gồm Quảng Đông, Quảng Tây đến Bắc Trung Việt. Cũng từ đó, người Việt có truyền thống nam tiến, giống loài chim Việt lúc nào cũng sống theo hướng mặt trời. Mùa đông, chim bay xuống phía Nam để được sưởi nắng ấm, tránh lạnh lẽo ở phương Bắc. c- Theo các nhà nhân chủng học, thời thượng cổ, giống người Indonesian bị giống dân Aryan đánh đuổi, bỏ ấn Độ chạy đến bán đảo ấn Độ Chi Na. Số người tràn về phía Nam lập thành nước Campuchia, Chiêm Thành, theo văn hoá ấn Độ. Còn số người ở phía Bắc kết hợp với giống Mông Cổ trở thành người Việt Nam. d- Theo các nhà dân tộc học, Việt Nam ở giữa khu vực nối liền ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, chịu ảnh hưởng hai nền văn hoá cổ nhất là ấn Độ và Trung Quốc... Vì thế, Việt Nam là vùng qui tụ thành phần dân tộc khác nhau với 8 nhóm ngôn ngữ như: Mường, Thái, Dao, Miến, Khmer, Hán, Chàm, Nam á... Nhưng thành phần người Việt (Kinh ) chiếm phần lớn, có ưu thế hơn, cùng nói một thứ tiếng, hình thành một cộng đồng dân tộc chung cội nguồn để dựng nước và giữ nước. 2. Nguồn gốc trung tâm Phật giáo Luy Lâu Luy Lâu là kinh đô của Giao Chỉ, ở trung tâm đồng bằng sông Hồng, thuộc huyện Thuận Thành, tỉnh Hà Bắc, Việt Nam. Xưa còn gọi Luy Lâu là Dâu. Luy Lâu là nơi giao lưu thương mại từ ấn Độ đến Trung Quốc. Vào thế kỷ đầu Tây lịch, thương gia ấn Độ bán cho đế quốc La Mã nhiều vải lụa, hương liệu, trầm hương, ngà voi, quế, tiêu, vàng ngọc... Để đủ cung ứng cho thị trường, thương thuyền ấn Độ theo gió mùa Tây Nam đi về vùng Viễn Đông, đến các bờ biển Mã Lai, Nam Dương, Phù Nam, Giao Chỉ và Trung Quốc. Từ Trung Quốc trở về, các khách buôn lại ghé Giao Chỉ, đợi gió mùa đông Bắc để căng buồm đi theo chiều gió. Trong thời gian lưu lại Giao Chỉ, các khách buôn bày biện lễ nghi thờ cúng và cầu nguyện Phật và các vị Bồ Tát. Với mục đích cầu nguyện, các nhà buôn thường mời Tăng sĩ đi theo. Các nhà sư, ngoài tâm thành cầu nguyện bình an cho khách buôn, còn có mục đích hoằng hoá truyền đạo Phật. Từ đó, người Giao Chỉ không chỉ học hỏi bởi người ấn Độ cách thức làm nông nghiệp, làm thuốc, buôn bán mà còn chịu ảnh hưởng tôn giáo ấn Độ. Đó là Phật giáo. Theo cuốn Lĩnh Nam Chích Quái, bấy giờ người Giao Chỉ có Chử Đồng Tử và Tiên Dung mở tiệm buôn bán với khách nước ngoài. Chử Đồng Tử đã theo thuyền buôn nước ngoài ra khỏi xứ. Khi ghé lại một hòn núi tên là Quỳnh Viên để lấy nước ngọt, Chử Đồng Tử gặp một nhà sư ấn Độ trong một túp lều. Do ái mộ nhà sư, Chử Đồng Tử đã ở lại đảo học đạo, giao vàng cho bạn đi buôn giúp và hẹn khi trở về hãy ghé lại đón. Trước khi từ giã để trở về đất liền, Chử Đồng Tử được nhà sư cho một cái gậy và một nón lá, với lời dạy có thể làm phép lạ bằng hai vật sẵn có trong tay. Một hôm, đang đi thì trời tối, Đồng Tử chống cái gậy và úp nón lá làm lều trú ẩn. Sau khi về Giao Chỉ, để giáo hoá Tiên Dung, Chử Đồng Tử giảng giải Phật pháp. Do thấm nhuần đạo lý Phật đà, cả hai đều bỏ chuyện đi buôn, tiếp tục con đường tìm thầy học đạo. Chuyện Chử Đồng Tử học đạo cho thấy Phật giáo có dẫn lực mạnh đối với người dân Việt Nam. Cụ thể, người Giao Chỉ đọc tụng Tam qui, cúng đường Phật tháp, bố thí cho người đói khổ, bệnh tật, thiếu may mắn và đọc kinh cầu nguyện chết được siêu sinh, sống được an bình, phúc lạc... Người đời gọi Phật là ông Bụt, Bụt có ở khắp mọi nơi, biết được tâm tư nguyện vọng của mọi người, Bụt có thể trừng trị kẻ ác, cứu giúp người lương thiện. Đó là Bụt trong các câu chuyện dân gian truyền khẩu như " Tấm cám", "Truyện cây nêu" ... Bụt có thể biến hoá các hiện tượng thiên nhiên quanh con người thành các thần, ban phúc, trừ hoạ. Chứng tỏ rằng, đối với dân chúng, Bụt là hiện thân cho cái thiện, cho lẽ phải, cho những gì tốt đẹp nhất mà người dân mong ước. Trong thực tế, ngay từ thế kỷ đầu, có thể các thuyền buôn đã chở theo các nhà sư đến Giao Châu. Nhưng chưa có sách nào ghi chép lại, do đó các nhà sư trở thành những nhà truyền đạo vô danh. Mãi đến thế kỷ II và đầu thế kỷ thứ III, các nhà sư truyền giáo mới được sử sách ghi chép lại, trở thành những nhà truyền giáo đầu tiên ở Việt Nam. Đó là: Marajivaka ( hay Jivaka), Ksũdara ( hay Kàlacãrya), Khương Tăng Hội, Chi Cương Lương Lâu ( hay Kalaruci), Mâu Bác ( hay Mâu Tử). Tiếp nối 3 thế kỷ đầu Tây lịch, Phật giáo Việt Nam vào thế kỷ thứ tư vẫn phát triển. Trong giai đoạn này có hai nhà sư Trung Quốc, trên đường đi Tây Trúc có ghé Giao Châu và đều viên tịch tại đây. Đó là Vu Pháp Lan ( khoảng 270 - 230 ) và Vu Đạo Thuý ( khoảng 285 - 315). Pháp Lan là thầy của Đạo Thuý. Qua thế kỷ thứ V, nối tiếp sự nghiệp truyền đạo của tiền nhân, Phật giáo Việt Nam có Đạt Ma Đề Bà, Huệ Thắng, Huệ Lâm, Đạo Thiền và Đàm Hoàng, quốc tịch nước ngoài có, quốc tịch Việt Nam có, đây là những nhà sư có công trong việc truyền dựng Phật giáo ở Giao Châu trong thời Bắc thuộc. II. Những ảnh hưởng của triết học Phật giáo đến Việt Nam qua các thời kỳ 1. Hai thế kỷ đầu Tây lịch Sự thành lập tăng đoàn, dịch kinh sáng tác và làm chùa hẳn được thực hiện vào thế kỷ thứ hai. Trong thế kỷ đầu của Tây lịch sinh hoạt Phật ở Giao Châu chắc chắn thô sơ lắm. Như ta đã biết, đạo Phật đầu tiên do các thương gia ấn Độ đem đến. Những người này không phải là những nhà truyền giáo; họ chỉ sống đời sống tín ngưỡng của họ trong lúc lưu lại Giao Châu và chính vì vậy mà người Giao Châu biết đến đạo Phật. Sinh hoạt của Phật từ ấn Độ thời ấy thế nào ? Họ học ba điều quy y, giữ tam quy, tin tưởng ở Tam Bảo là Phật, Pháp và Tăng. Họ giữ ngũ giới: không sát sinh, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu. Họ tin ở thuyết nhân quả: vì vậy họ lo bố thí cúng đường, nhất là cúng đường ẩm thực, y phục và chỗ cư ngụ cho tăng sĩ, bởi các tăng sĩ là " ruộng phước đức tốt nhất" để gieo hạt giống công đức. Họ còn thờ phụng Xá Lợi Phật, đốt hương trầm, đọc thuộc một vài đoạn kinh nhân quả, kể chuyện tiền nhân của đức Phật. Thế còn tín ngưỡng của người Giao Châu hồi ấy ? Ông trời ở trên cao, có thể nhìn thấu được mọi việc dưới đất, biết trừng phạt kẻ làm ác, giúp đỡ kẻ làm lành. Tuy nhiên, Ông trời không phải là một đấng tạo hoá tạo nên mọi vật, nhất là không phải là vị thần của nhất trần giáo. Ông trời có những thuộc hạ gần và xa. Gần thì có ông Sấm, mụ Sét, xa thì có Sơn Tinh, Thuỷ Tinh, thần núi Tản Viên, thần cây Đa, ông Táo, ông Địa,...Linh hồn con người không hẳn là bất diệt, nhưng có thể tồn tại thời gian khá lâu quanh quẩn bên xác chết và có thể ở chung quanh người thân thích còn sống một thời gian để che chở bảo hộ. Ma Xó là linh hồn người chết còn ở quanh quẩn trong nhà, coi sóc bảo hộ gia đình. Nhà mồ là nơi an tri linh cữu người chết trong rừng, trong một thời gian nào đó có cơm canh bày cúng người chết. Thầy Mo là người trung gian, biết liên lạc với Ma Xó và với thế giới người chết. Những ngôi mộ đào được ở Lạch Trường chôn từ thế kỷ trước Tây lịch đều có ba phần: phần giữa để linh cữu, phần bên để bản thờ, đèn đồng và phần bên kia để thực phẩm, vật dụng... Những trống đồng dùng để đánh lên trong những buổi lễ cầu mưa và những tang lễ, trên trống đồng có hình chim. Không những chim là nguồn gốc của dân Giao Chỉ mà rồng cũng vậy. Trong bối cảnh tín ngưỡng và văn hoá kia, đạo Phật đã được mang vào Việt Nam. Thuyết Nhân Quả Nghiệp Báo phù hợp với quan niệm Ông trời trừng phạt kẻ ác, ban thưởng người lành, Thuyết luân hồi cũng phù hợp với quan niệm linh hồn tồn tại sau khi xác thân tiêu hoại và cũng phù hợp với nhận xét về sự tuần hoàn của loài thảo mộc vốn rất thịnh mậu tại một xứ nóng bức và ẩm thấp. Mâu Tử vào cuối thế kỷ thứ hai đã viết như sau về luân hồi: " Thân thể người ta cũng như cành rễ của cây, linh hồn như hạt giống còn sống và sẽ tạo nên cành rễ mới..." Những quan niệm công đức, tam bảo, cúng đường, luân hồi và nghiệp báo... không có quan niệm nào chống đối với tín ngưỡng tại Giao Châu hồi ấy. Thêm vào đó, người Giao Chỉ chưa ai trở thành những tín đồ trung kiên của Không Lão và trang bị bởi những ý thức hệ vững chãi, nên Phật giáo không gặp nhiều trở ngại như khi đi vào đất Hán. Đạo Phật thấm vào văn minh Giao Châu tự nhiên và dễ dàng như nước thấm vào lòng đất. Thế kỷ đầu Tây lịch, người Giao Chỉ cũng học được của những người ấn Độ những kinh nghiệm về trị liệu y học, những điều về thiên văn, về nhật lịch,... Kho tàng cổ tích Việt Nam đã thâm nhập nhiều yếu tố từ truyện cổ tích và tiền thân trong Phật Giáo ấn Độ... Truyện Tấm Cám là truyện nhân quả nghiệp báo trong đó Bụt đóng vai Ông trời, thấy được những chuyện bất công trên đời. Tiếng Bụt ở đây trực tiếp lấy từ chữ Buddha mà không phải chữ Phật lấy từ phát âm Trung Quốc "Fo". Những người khách trú ấn Độ đã truyền đạo bằng cách sống tín ngưỡng của mình trên đất Giao Chỉ và kể chuyện tiền nhân Phật trong những ngày giờ rảnh rỗi. Để thấy được ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo đến Việt Nam vào thế kỷ đầu như thế nào ta có thể phác hoạ sơ lược tín ngưỡng Phật Giáo Giao Chỉ thời đó như sau: Quan niệm về Phật: Bụt ( hay Bụt Đà) như một đấng có phép thần thông, nghe biết hết mọi chuyện trên đời như ông Trời, nhưng không ở trên cao nhìn xuống như ông Trời mà rất thân cận với con người. Bụt có thể hiện ra dưới nhiều hình thức để cứu người, giúp đời, nhất là những người có lòng tốt mà bị điều oan ức. Bụt rất thương người, cứu giúp những người hiền, nhưng khác với ông Trời là không hành phạt kẻ ác. Bụt không bị nước trôi, lửa cháy vì Bụt có phép thần thông và biến hiện. Quan niệm về pháp: Không biết lúc ban đầu danh từ nào đã dùng để dịch tiếng Dharma; có lẽ tiếng " Phép Bụt " đã được sử dụng. Phép Bụt ở đây có thể là những phép biến hiện thần thông của Phật để cứu đời giúp người. Phép Bụt cũng là những điều người ta làm theo nếu người ta tin Bụt, như đọc ba câu tam quy, ban đầu thì bằng Phạn ngữ, giống như đọc thần chú để tỏ lòng quy kính Bụt mà cũng để Bụt che chở ( Buđham Saranam gacchami; Dharmam Saranam gacchami; Sangham Saranam gacchami). Ba câu tam quy này về sau hẳn cũng được đọc bằng tiếng mẹ đẻ và tiếng Hán Việt. Ngoài việc đọc tam quy, còn có việc cúng đường tăng sĩ, bố thí người nghèo, cho kẻ đói ăn. Phép của Bụt cũng là tin ở nghiệp báo, luân hồi và linh hồn bất diệt. Quan niệm về Tăng: Danh từ Tang Môn được dùng trước danh từ Sa Môn để chỉ các vị tăng sĩ ngoại quốc, như ta thấy trong các bản dịch kinh điển chữ Hán sớm nhất. Tang Môn không phải là một đoàn thể xuất gia từ sáu người trở lên (định nghĩa Sangha) mà là con người của những tu sĩ khoác áo vàng, đầu cạo trọc, từ bỏ đời sống gia đình, của cải, thờ Bụt, đọc kinh chữ Phạn và sống trên sự cúng đường của người tin theo Bụt. Ngoài những Tang Môn ngoại quốc, có thể có vài người Giao Chỉ cũng được nhận học theo làm Tang Môn. Có lẽ Chử Đồng Tử là một người trong số này. Việc Chử Đồng Tử từ bỏ hết sản nghiệp để nhận một chiếc gậy và một cái nón có thể giải thích như là sự xuất gia làm Tang Môn của Đồng Tử. Cây gậy và bình bát là hai vật tuỳ thân của người tăng sĩ. Chiếc nón đã thay cho bình bát và hình ảnh chiếc nón là hình ảnh của kẻ xuất gia không nhà, du hành đây đó. Quan niệm về nghiệp báo và luân hồi: Làm lành gặp lành, ở ác gặp ác; quan niệm này của Phật Giáo dĩ nhiên được chấp nhận dễ dàng trong tín ngưỡng dân gian Giao Chỉ. Tín ngưỡng về hồn ma tồn tại sau khi chết cũng là căn bản rộng rãi để chấp nhận luân hồi. Con Tấm trong truyện Tấm Cám dù bị hại bao nhiêu phen cũng vẫn luân hồi trở lại hoặc trong hình thức trái thị hoặc trong hình thức chim hoàng anh... Bà mẹ ghẻ vì ác độc nên phải ăn mắm xác chết con mình. Trong truyện thần thoại Con Muỗi, người vợ xinh đẹp nhưng dâm tà của anh lái buôn si tình đã phải luân hồi thành con muỗi, suốt đời tìm hút lại ba giọt máu để trở lại thành người. Tín ngưỡng nghiệp báo luân hồi khiến người ta lo ăn ở nhân từ, thương người và tu tạo phúc đức. Từ Bi: Từ bi là đặc điểm của đạo Bụt. Bụt rất thương người. Tang Môn cũng dạy bố thí, cứu người ốm đau tai nạn, cho người đói ăn cơm, đừng trả thù người khác. Công Đức: Muốn được sung sướng kiếp này và kiếp sau, phải làm công đức (Punyxa). Dâng thức ăn cho các Tang Môn, trọng nể và nghe lời họ tức là gieo hạt giống công đức vào ruộng tốt ( Tang Môn là phúc điền). Đem cơm cho người đói ăn, công đức cũng rất lớn. Sạ Dung cuối thế kỷ thứ hai cũng còn xem chuyện cho người đói ăn là điều quan trọng nhất trong đạo Phật. Sau khi làm cách mạng, ông giữ lấy lúa gạo và nấu cơm cùng thức ăn bày ra đường có tới hàng mười dặm, để người đói ai muốn ăn thì ăn. Có hàng vạn người tới ăn một lúc. Tiết dục: Giáo lý vô ngã tuy là giáo lý căn bản trong Phật Giáo nhưng có lẽ đã không được giảng dậy trong bước đầu này bởi tính cách khó hiểu khó nhận của nó. Đạo lý Ly Dục cũng chỉ giới hạn trong giới Tang Môn. Chắc hẳn trong khi dạy về đạo lý từ bi và công đức, các Tang Môn cũng đã dạy tiết dục, bỏ bớt những hưởng thụ vật chất cho riêng mình để bố thí cho kẻ khốn khó đói khổ. Như vậy, nhìn chung ở hai thế kỷ đầu, tuy mới được truyền bá vào Việt Nam nhưng Phật Giáo đã được nhân dân bản xứ đón tiếp một cách tự nhiên do Phật giáo không mâu thuẫn với những tín ngưỡng sẵn có. Không những thế nó còn đem lại cho đương thời những giải thích mới mẻ về nỗi khổ của con người, về nguyên nhân của khổ đau, về con đường thoát khổ đồng thời nó kêu gọi lòng từ bi hỷ xả, một chủ trương đáp ứng được lòng mong mỏi của con người hướng về những đạo đức tốt đẹp trong bối cảnh vốn nhiều rủi ro và lắm tai ương lúc bấy giờ.Vì vậy nó đã nhanh chóng tìm được chỗ đứng và có điều kiện bám rễ chắc chắn trên mảnh đất này. 2. Phật giáo trong các triều đại của Việt Nam 2.1. Phật giáo trong thời hậu Lý Nam Đế và Bắc thuộc lần thứ ba (603 - 939) Sau hai thời kỳ Bắc thuộc, nước Việt Nam được tự chủ từ thời tiền Lý đến hậu Lý Nam Đế ( 544 - 802 ). Khi nhà Tiền Lý mất, Triệu Quang Phục lên ngôi, xưng là Triệu Việt Vương ( 544 - 571), Tước vị không lâu, họ Triệu bị Phật Tử giành lại cương vị. Họ Lý xưng là hậu Lý Nam Đế (571 - 802). Năm Nhâm Tuất (602), vua Tuỳ Văn Đế cho quân sang đánh Nam Việt, với thế hùng mạnh của tướng Lưu Phương, hậu Lý Nam Đế phải quy hàng. Việt Nam lại rơi vào thời Bắc thuộc thứ 3 ( 603 - 939). Từ khi có dấu tích Phật giáo truyền vào Việt Nam khoảng từ thế kỷ đầu đến thời tiền Lý Nam Đế, lịch sử kéo dài cả hơn 300 năm. Dù đã có các nhà sư chính thức đến Giao Chỉ dịch kinh, truyền bá tư tưởng Mật, Tịnh và nhất là Thiền Tông nhưng Phật giáo chưa thực sự được thịnh hành. Mãi đến đời hậu Lý Nam Đế (571- 602) và Bắc thuộc thứ ba, Phật Giáo mới thực sự phát triển cả nội dung lẫn hình thức. Trong giai đoạn này nổi bật nhất có 4 sự kiện, thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, ba phái đoàn truyền giáo, sự xướng hoạ giữa các nhà sư Trung Quốc với Việt Nam và thiền phái Vô Ngôn Thông. Ngót cả bốn thế kỷ, từ khi du nhập đến lúc phái thiền Vô Ngôn Thông xuất hiện, dù Việt Nam nội thuộc phương Bắc, nhưng dân tộc không bị đồng hoá, Phật giáo vẫn liên tục phát triển. Tuy phát triển từ ấn Độ nhưng Phật giáo vẫn hoà đồng với dân tộc Việt Nam trong sứ mệnh tô bồi văn hoá dân tộc. Người Việt Nam cũng tỏ ra sẵn lòng tiếp nhận giáo lý từ bi, trí tuệ, bình đẳng, vị tha vô ngã, thiện ác, nghiệp báo, luân hồi... của Phật giáo, không có một mảy may kỳ thị. Bởi thế, các tông phái Phật giáo, các đoàn truyền giáo hay đi cầu kinh, chiêm bái Phật tích từ ấn Độ qua hay phưong Bắc xuống đều dừng chân ở Việt Nam để dịch kinh hoặc giảng đạo. Từ đó, kinh sách Phật giáo được dịch và viết sớm hơn ở Trung Quốc. Các nhà sư, dù ấn Độ, Trung Quốc hay người bản địa, kể cả người tín đồ hay người dân bình thường vẫn không hề đả kích nhau mà chung sống hoà bình, trong khi bên Trung Quốc đã xảy ra nạn kỳ thị, bài xích tôn giáo như ở đời Đường Võ Tôn. Nhờ thế, các quan Thái thú ở Việt Nam hay cả triều đình phương Bắc phải tôn trọng Phật giáo Việt Nam. Vua nhà Đường mời các nhà sư Việt Nam vào cung giảng kinh, các đại thi hào Trung Quốc làm thơ xướng hoạ với các nhà sư Việt Nam. Được như thế là do ảnh hưởng Phật giáo đã thấm sâu vào hồn dân tộc. Đến cuối thời Bắc thuộc, Phật giáo đã phổ biến trong mọi giai tầng xã hội Việt Nam. Bấy giờ, ý thức đạo pháp và dân tộc đã gắn liền với nhau trong lòng người con Phật ở Việt Nam. Lý Phật Tử đã tập hợp quần chúng chống lại phương Bắc và đã thành công, lập nên nhà Hậu Lý Nam Đế ( 571 - 602). Càng về sau, Phật giáo càng thấm sâu vào lòng người. Phật giáo đã giúp cho ý thức dân tộc ngày một vươn lên mạnh mẽ ở thế kỷ X. Ngô Quyền, người Phòng Châu, Sơn Tây ngày nay, dấy binh đánh đuổi quân Nam Hán, chấm dứt sự thống trị của phương Bắc, giành độc lập tự quyết cho dân tộc, đồng thời tạo cơ sở cho Phật giáo trở thành quốc giáo. 2.2. Phật giáo thời Ngô, Đinh và Tiền Lê ( 939 - 1009) Sau khi nước nhà độc lập, tự chủ, nhờ sự thịnh vượng đã có từ thời Bắc thuộc, qua thời Ngô, Đinh, Tiền Lê, Phật giáo chiếm địa vị độc tôn. Bây giờ, Nho Lão đã truyền qua Việt Nam, nhưng ảnh hưởng của giáo lý không phổ cập trong dân gian bằng Phật giáo. Bấy giờ, dù nước nhà đã được độc lập nhưng còn non trẻ, bắt buộc nhà vua phải tìm điểm tựa vững chắc về ý thức, một công cụ tinh thần để quản lý và xây dựng quê hương, đất nước. Giữa canh buổi đó, Phật giáo là một thế lực mạnh nhất. Từ thời Bắc thuộc, vương quyền Trung Quốc đã phải trọng nể Phật giáo. Các nhà sư đã vào cung vua Đường giảng pháp. Các cao tăng Việt Nam cũng đã du hành các nước Java, ấn Độ, thông hiểu kinh điển, viết nói được chữ Hán và tiếng Phạn. Do đó đã dịch kinh từ chữ Sankrist qua chữ Hán và viết sách Phật bằng chữ Hán trước cả Phật giáo Trung Quốc. Ngoài ra, Phật giáo có uy thế nhờ các nhà sư và Phật tử đã tham gia và việc giải phóng dân tộc, giành độc lập cho tổ quốc Việt Nam. Các vua Ngô, Đinh, Tiền Lê đã giao hoà với triều đình nhà Tống, chấn chỉnh việc nước, bài trừ nhũng lạm, ổn định việc triều chính. Triều đình đã công nhận Phật giáo là một tôn giáo chính thức của Việt Nam. Năm 971, vua Đinh Tiên Hoàng quy định cấp bậc quan lại văn võ và sắc triệu các tăng sĩ lỗi lạc vào hàng Thái Miếu đồng thời định cấp bậc Tăng đạo. Như vậy ảnh hưởng của Phật giáo trong dân đã lên rất cao. Cũng trong thời điểm này nhiều chùa chiền được xây dựng và đáng kể nhất là trung tâm Phật giáo lớn đã được hình thành như trung tâm Đại La, thành Thăng Long đời Lý với chùa Khai Quốc ( ngày nay là chùa Chấn Quốc) ở thế kỷ IV; trung tâm Hoa Lư là đế đô của triều đình nhà Lê. Vào triều đại nhà Lý ( 1010 - 1225), xã hội Việt Nam tiến tới ổn định hoàn toàn. Bộ máy trung ương tập quyền được củng cố vững chắc. Song song với bước tiến xã hội, Nho giáo cố vươn lên, tác động vào hệ tư tưởng và đời sống tinh thần của nhân dân, tranh ảnh hưởng với Phật giáo. Tuy nhiên với tài của các Thiền sư và lòng kính tin Phật pháp của triều đình, các quan lại, quần chúng, Phật giáo vẫn tiếp tục phát triển trong thời đại nhà Lý. Điều đó cho thấy trong thời nhà Lý, từ vua chúa đến quan quyền đều ủng hộ Phật giáo. Ngược lại Phật giáo cũng giúp cho chính quyền bấy giờ thành công về việc giữ nước, an dân... Do đó, một số người cho là Phật giáo làm tay sai cho chế độ phong kiến vào thời Lý để được nhiều ân sủng. Quan niệm như thế là sai lầm, không hiểu gì về Phật giáo hết. Đức Phật có dạy "Phục vụ chúng sinh là cúng đường chư Phật ". Phật giáo là đạo từ bi, trí tuệ, vô ngã, vị tha... người theo đạo Phật trước hết phải giữ 5 giới để có nhân cách - tu thân - và giúp ích cho nhân quần xã hội. Đó là cơ bản, là nấc thang đầu tiên, có cơ bản có xây dựng mới mong tiến lên bậc trên - thánh nhân. Trong kinh Bách Dụ, Phật bảo " xây lâu đài, trước tiên phải lo nền móng cho thật vững chắc". Các thiền sư đời Lý tham dự chính sự là không tranh giành chính quyền, giữ một chức vụ nào trong triều đình. Các thiền sư chỉ lui tới với vua chúa quan quyền là để giúp chính quyền lên phương án an dân trị quốc được hưng thịnh. Các thiền sư chỉ giúp ý kiến, đề nghị chương trình rồi về chùa. Các thiền sư đời Lý tham dự chính trị với những lý do: - Họ là những người có học, có ý thức về quốc gia, sống gần gũi với quần chúng và biết được những khổ đau của người dân khi đang bị một chính sách hà khắc, bóc lột. - Họ không có ý muốn tranh ngôi vua, không giành quyền bính và địa vị ngoài đời nên vua tin họ. - Họ không cố chấp và thuyết trung quân nên họ có thể cộng tác với bất cứ ông vua nào cần sức học của họ. Về văn hoá, các thiền sư đã có ý xây dựng rõ nét. Với địa thế Thăng Long, có thể giữ được nền độc lập lâu dài, thiền sư Vạn Hạnh đã lên phương án và dời đô từ Hoa Lư về. Theo sự hướng dẫn của các thiền sư, trong nội cung, nhiều ngôi chùa được xây dựng làm nơi ăn tịnh cho các vua tĩnh tâm, tham thiền, nghiên cứu ba tạng kinh. Trong tự viện các thiền sư đã mở trường dạy học. Về sáng tác, ngoài chức năng của một nhà đạo sĩ, các thiền sư còn là nhà sáng tác văn học, thi sĩ. Về kiến trúc vào thời Lý, Phật giáo có nhiều công trình. Nhờ đó, nền văn hoá đân tộc càng thêm phong phú. Ví dụ như chùa Một Cột là điển hình và còn rất nhiều tượng Phật, chuông đồng... Về mĩ thuật, Phật giáo thời Lý còn để lại rất nhiều công trình như " An Nam đạt tứ khí". Đó là tháp Bảo Thiên, chuông Qui Điền, đỉnh Phổ Minh và tượng Quỳnh Lâm. Các mỹ thuật bảo tháp đời Lý, qua thời gian, phần nhiều bị đổ nát, chỉ còn tháp Bình Sơn ở chùa Vĩnh Khánh, huyện Lập Thành, Vĩnh Yên. Những di tích mỹ thuật, kiến trúc và điêu khắc thời Lý mang 3 màu sắc thật rõ nét. Trước hết là ảnh hưởng của nghệ thuật Chiêm Thành và Nam Dương, sau đó là một vài ảnh hưởng trong nghệ thuật kiến trúc của Trung Quốc, còn lại hầu hết là sắc thái riêng biệt của Việt Nam. Về phong hoá, từ vua chúa, quan quyền đến nhân dân đều thấm nhuần đạo lý từ bi bác ái của Phật giáo. 2.3. Phật giáo thời Trần ( 1266 - 1400) Sang thế kỷ XIII với sự thành lập vương triều Trần, Phật giáo có những chuyển biến mới. Không chỉ được kế thừa Phật giáo đời Lý được thịnh vượng mà đặc biệt trở thành nền Phật giáo thống nhất. Có thể gọi là thời đại Phật giáo Nhất tông. Đó là một biểu hiện của sự phát triển ý thức dân tộc. Thiền sư Hiện Quang khai sơn núi Yên Tử mở đầu cho Phật giáo Trúc Lâm, nền Phật giáo Thống Nhất đời Trần. Đặc tính của Phật giáo Trúc Lâm là nhập thể: đạo Phật phụng sự cho đời sống, đời sống tâm linh giải thoát cũng như đời sống xã hội. Hai phương diện ấy của đời sống con người cần được liên hệ với nhau và bổ túc cho nhau. Quốc sư Viên Chứng đã nói rõ về những nguyên tắc hướng dẫn đời sống của một nhà chính trị phật tử: " Đã làm người phụng sự dân thì phải lấy cái muốn của dân làm cái muốn của mình, phải lấy ý dân làm ý mình, trong khi đó không xao nhãng việc tu học của bản thân". Trần Thái Tông nói rằng: Nhà chính trị phải thực hiện đạo Phật trong xã hội ( Giáo lý của Đạo Phật chúng ta phải cần có các bậc tiên thánh để thực hiện trên đời - tựa Thiền Tông Chỉ Nam). Tuệ Trung " Sống trong lòng thế tục, hoà ánh sáng của mình trong cuộc sống đời bụi bặm" ( Thượng Sĩ Hành Trạng - Trúc Lâm). Nhân Tông đi khắp thôn quê, phá trừ dâm từ, khuyên dân thực hành Thập Thiện... Những tự viện trên núi tổ chức ẩn cư và kết hạ nhưng vẫn có liên hệ đến đời sống văn hoá, xã hội và chính trị của quốc gia. Về phương diện văn hoá, Phật giáo đời Trần đã có đóng góp lớn lao. Ưu điểm lớn nhất của Phật giáo là tinh thần khoan dung và tự do. Phật giáo không bao giờ chống đối và chỉ trích Nho giáo cùng Lão giáo. Phật giáo đã để cho Nho giáo và Lão giáo tự do phát triển. Chính những Phật tử thuần hành nhất như Thái Tông và Thánh Tông đã mở rộng Nho giáo. Năm 1253, Thái Tông lập Quốc Học Viện ở kinh sư và tạc tượng Chu Công, Khổng Tử, Mạnh Tử cùng vẽ tranh 72 vị tiền hiền để thờ cúng. Thánh Tông đã cho hoàng đệ là Trần ích Tắc mở trường dạy Nho học. Năm 1267, Thánh Tông chọn các Nho sinh có học thức vững vàng để bổ nhiệm . Thái Tông mở các khoa thi năm 1232,1247. Các khoa khác tiếp tục được tổ chức để kén chọn nhân tài. Nền giáo dục hồi đó còn mang tính chất tổng hợp tam giáo và không có tính cách từ chương. Kiến thức thực tế về đạo lý là căn bản. Văn chương và cú pháp là thứ yếu. Trong không khí học tập tự do và cởi mở ấy, triều đình đã đãi ngộ nhân tài và sĩ phu rất kính cẩn, cho nên người giỏi xuất hiện rất nhiều và sự học phát triển rộng rãi. Nói về giới sĩ phu đời Trần, Lê Quý Đôn đã viết trong Kiến Văn Tiểu Lục: " các vị ấy phẩm hạnh và thanh giới cao khiết có tư cách người trí thức quân tử như đời Tây Hán, không phải kẻ tầm thường sánh được> Bởi vì nhà Trần đãi kẻ sĩ một cách khoan dung, không hẹp hòi, hoà vị mà có lễ phép, cho nên nhân sĩ thời ấy ai cũng tự lập, anh hào tuấn kiệt vì vượt ra ngoài lưu tục, làm cho quang vinh cả sử sách, không thẹn với trời đất, há phải đời sau kịp được đâu". Chính vì đặc tính khoan dung và mềm dẻo của văn hoá đời Trần mà vua quan cùng dân chúng đã đồng tâm cộng tác trong việc chống giặc ngoại xâm và xây dựng đất nước. Văn học đời Trần rực rỡ và phản chiếu tinh thần từ ái, hoà đồng và thanh thoát của đạo Phật. Tinh thần ấy không đi đôi với sự khiếp nhược, yếm thế, trái lại đã đi đôi với tinh thần tự lực, tự cường và tiến thủ. Rất tiếc là nhiều sáng tác của Phật gia và Nho gia đời ấy đã bị nhà Minh thiêu huỷ, nếu không thì gia tài văn học và tư tưởng thời Trần để lại sẽ phong phú biết chừng nào. Văn học chữ Nôm được hình thành trong đời Trần. Chính trong các sớ điệp, tăng sĩ phải sáng tác những câu chữ Nôm để kê tên họ những người quá cố cần được cầu siêu độ, do đó mà chữ Nôm ra đời. Trúc Lâm Điều Ngự và Huyền Quang đều có sáng tác bằng chữ Nôm và tác phẩm Nôm của hai người còn được truyền lại. Văn học đời Trần thấm nhuần tính cách dung hợp và khai phóng của đạo Phật. Nền học vấn đời Trần không bị ràng buộc bởi khoa cử; chính sách tôn giáo của nhà Trần là một chính sách tự do và bình đẳng; giới sĩ phu dù xuất thân từ truyền thống tôn giáo nào cũng được triều đình đãi ngộ rất hậu. Đó là nguyên nhân khiến cho văn học đời Trần giàu có, sáng rỡ và đầy ý thức tự tin. Thi ca đời Trần chịu ảnh hưởng Thiền học sâu đậm, các thi sĩ nhiều người nhìn sự vật bằng cái nhìn của người biết tĩnh tâm thiền quán. Về chính trị, tăng sĩ thời Trần không trực tiếp góp vào sự nghiệp chính trị những Phật giáo đã là một yếu tố liên kết nhân tâm quan trọng. Tinh thần Phật giáo đã khiến cho các nhà chính trị đời Trần áp dụng những chính sách bình dị, thân dân và dân chủ. Nhân Tông đã sử dụng được tiềm năng của Phật giáo để phục vụ cho chính trị. Sự kiện xuất gia của vua cũng như những năm hành đạo trong dân gian của vua đã khiến cho Giáo Hội Phật Giáo Trúc Lâm trở nên một lực lượng tôn giáo hùng mạnh yểm trợ cho triều đại. Anh Tông sau khi nhường ngôi cho Minh Tông cũng đã có ý định xuất gia để nối tiếp sự nghiệp của Nhân Tông nhưng chưa thực hiện được thì đã mất. Một đáng được ghi nhận là những ông vua ấy tuy muốn sử dụng tiềm lực Phật giáo để liên kết nhân tâm, nhưng không phải vì vậy mà giả danh Phật tử. Họ là Phật tử chân chính và có ý nguyện phụng sự đạo Phật một lần với sự phụng sự quốc gia và triều đại của họ. 2.4. Phật giáo từ Hồ đến thời Lê ( 1400 - 1527) Từ năm 1400 đến 1407, nước ta bị nhà Minh sang đánh, bại trận, đưa đất nước vào sự nô lệ. Năm 1419, quan nhà Minh tịch thu hết cả sách vở trong nước, các kinh điển Phật giáo đem về Kim Lăng và đốt phá nhiều chùa chiền. Ngoài ra, nhà Minh còn cho truyền giảng cả ba đạo giáo: Khổng, Lão và Phật. Trong suốt mười ba năm thuộc Minh, quan thống trị tham tàn, bạo ngược, quan thuộc địa nịnh bợ kiếm bổng lộc, vinh nhân, phì da, dân tình vô cùng cơ cực. Nước nhà vô cùng suy yếu. Riêng Phật giáo tuy được nhà Minh cho truyền đạo nhưng tăng sĩ không có người sáng suốt, lại chịu ở dưới quyền thế của Nho sĩ. Do đó, Phật giáo tiếp tục suy yếu. Không chịu nổi cảnh bị ngoại xâm đô hộ, nhiều nhóm dấy binh, giành độc lập. Trong đó có Lê Lợi, bậc anh hùng cái thế, mở vận mới cho dân tộc, đuổi nhà Minh, giành độc lập , lập nhà Hậu Lê. Sau khi giành lại được độc lập cho nước nhà, Lê Lợi lên ngôi đổi tên nước là Đại Việt. Mở ra một vận hội mới nhưng đây là vận hội cho Nho giáo hơn là Phật giáo về cả học thuật, tư tưởng và chính trị xã hội. Phật giáo tiếp tục xuống dốc. 2.5. Phật giáo triều Nguyễn và Pháp thuộc Như một cơn lốc, nhà Nguyễn Tây Sơn không chỉ đuổi được quân Thanh, còn chấm dứt tình trạng phân tranh Nam Bắc, thống nhất đất nước. Nhưng chẳng bao lâu, dựa vào thế lực của Pháp, Chúa Nguyễn Phúc ánh lật đổ vua Nguyễn Quang Toản, nhà Tây Sơn, thu hồi đất nước từ Bắc chí Nam. Chúa Nguyễn lên ngôi vua, lấy niên hiệu là Gia Long, mở đầu cho triều đại nhà Nguyễn vào năm 1802. Trong thời gian chiến tranh loạn lạc ít ai nghĩ đến vấn đề chấn hưng đạo đức tôn giáo. Lúc chiến tranh chùa chiền bị phá huỷ. Kinh điển bị thất lạc. Tăng sĩ chỉ nghĩ đến cá nhân nhiều hơn đạo pháp. Thắng Tây Sơn, bước lên ngai vàng, vua Gia Long lo ổn định nền an ninh trật tự, tổ chức bộ máy cai trị, lại hướng đến Nho giáo để củng cố ngai vàng. Vì thế vua không có thì giờ và cũng như không muốn nghĩ đến Phật giáo. Bên cạnh đó nhà Nguyễn còn ban hành một số chính sách hạn chế Phật giáo. Đồng thời còn tiến hành phê phán Phật giáo nhằm đánh đổ tôn giáo này từ mặt giáo lý. Cả vua và nhiều Nho sĩ cùng tham gia vào việc này. Họ nhằm vào thuyết nhân duyên và báo ứng của nhà Phật. Cho rằng các yếu tố đó là vô ích, là không thể thực hiện được. Chiếu của Gia Long về định điều lẹ hương đảng cho xã dân Bắc Hà, nói: "Người thờ Phật cốt để cầu phúc báo. Sách nhà Phật nói: " Có duyên Phật độ, mà người không duyên Phật độ làm sao được". Thử xem những tổ đã thành Phật, như là Mục Liên mà cũng không độ được mẹ, chuộng Phật giáo như tiêu diễn mà cũng không độ được mẹ, giữ được thân huống chi là bọn bất nhân bất hiếu, không biết quân vương là Phật hiện thời." Ngoài ra họ còn cho rằng Phật giáo còn có hại cho lễ giáo phong kiến, ảnh hưởng đến việc thực hiện của giáo điều nhà Nho. Tuy nhiên, giáo lý nhà Phật vẫn len lỏi, lặng lẽ thâm nhập và các tầng lớp xã hội chi phối đời sống tinh thần của nhiều người. Ngay cả chốn hoàng gia, nơi cung thất là chỗ gần gũi thiên tử, chỗ lấy Nho giáo làm nguyên tắc xử lý, lấy Khổng, Mạnh là quan niệm hàng đầu thế mà Phật giáo vẫn len lỏi vào được. Nó len lỏi vào những nơi mà Nho giáo không thể tới được. Chính thái hậu, các cung phi là những người hâm mộ đạo Phật nhất. Họ theo đạo Phật, thờ cúng để có phúc, khi chết đi được siêu sinh tịnh độ. Chính họ đã thúc giục các ông chồng xây dựng chùa trong gia thất, yêu cầu tổ chức các lễ đài cúng tế và tổ chức các ngày hội chùa. Ngoài dân gian việc thay đổi triều đại không làm thay đổi tín ngưỡng. Những chính sách của nhà Nguyễn đối với đạo Phật chỉ mang tính chất tạm thời và trong phạm vi hẹp " phép vua thua lệ làng" , như vậy Phật đã ở trong lòng họ. Khi Pháp đặt nền thống trị lên đất nước ta, người Pháp đã tạo điều kiện cho Thiên Chúa giáo phát triển. Tôn giáo này dựa vào thế lực của Pháp ngày càng lấn tới thay thế các tôn giáo bản địa. Năm 1920, tại Nhật Bản, Trung Quốc đã có nhiều cuộc vận động chấn hưng Phật giáo. Trong bối cảnh đó Phật giáo Việt Nam buộc phải tự xét, rồi nhất trí và quyết tâm đẩy nhanh phong trào chấn hưng Phật giáo. Các trung tâm Phật giáo được chuyển vào các đô thị lớn như Hà Nội, Huế, Sài Gòn..., nơi có nhiều tiện nghi. Tại các đô thị, những ngôi chùa lớn, các trường Phật học, các trường Bồ Đề, các cơ sở xã hội được thiết lập. Kinh điển cũng được dịch bằng chữ quốc ngữ. Tăng ni không chỉ học toàn kinh viện mà còn học cả văn hoá, ngôn ngữ ngoài đời nữa. Trong cuộc chiến chống thực dân Pháp, có rất nhiều Phật tử cùng dân đánh Pháp. Có nhiều cuộc khởi nghĩa được xuất phát từ chùa chiền, thể hiện tinh thần nhập thế cao độ của Phật giáo Việt Nam. Phần III. Kết Luận T óm lại lâu nay đa số người Việt Nam cho rằng đạo Phật là dành riêng cho các bậc già nua tuổi tác, nhờ câu kinh tiếng kệ an ủi những ngày tàn, hoặc bị rơi vào thế đen bạc của tình đời quay về nương nhờ cửa thiền, nhờ giọt nước cành dương rưới dịu đôi phần sầu muộn, hoặc những người đau ốm tật nguyền sống thừa thãi ngoài xã hội về núp bóng từ bi, nhờ bát cơm, manh áo của đàn na tín thí để đỡ phần cơ cực... Quan niệm sai lầm ấy đã ăn sâu vào trong suy nghĩ của dân chúng, nên khi thấy một thanh niên cạo tóc đi tu hoặc đến lế Phật thì họ ngạc nhiên và cho rằng phải có lý do tiêu cực nào đó. Nhưng họ đâu có ngờ đạo Phật là " đạo của tuổi thanh xuân đang căng nhựa sống và tha thiết yêu đời ". Nói thế, không phải cố gò bó đạo Phật cho gần với tuổi trẻ mà vì thực tính của đạo Phật rất thích hợp với hàng hoa niên. Sự thích hợp ấy được thấy bởi những điểm: Thanh tịnh: Đạo Phật cốt điêu luyện tâm hồn người hoàn toàn trong sạch, nên ra sức đào thải những tính: tham lam, sân hạn, oán thù...đang trú ẩn trong tâm trí con người. Nhưng từ khi còn trẻ người ta phải cất mình ra khỏi bố mẹ, bắt tay vào việc cạnh tranh, chiến đấu với đời, từ đó những tính xấu, tham lam. ...càng ngày tập nhiễm càng xấu. Lúc tuổi già muốn gột rửa nó là cả một sự khó khăn. Như chiếc áo trắng lại không phải là việc dễ. Trái lại, tuổi thiếu niên tâm hồn còn trong trắng, những tính xấu nếu có cũng chỉ một vài điểm nhỏ thôi. Nếu họ sớm biết thức tỉnh quyết tâm tẩy trừ thì rất dễ dàng, vì thế tuổi thiếu niên rất thích hợp với đức thanh tịnh của đạo Phật. Chân thật: Người tu theo đạo Phật cần phải tránh xa những điều giả dối để trở về với sự thật. Phật cấm nói dối và dạy quân vô thường, bất tịnh khổ đều nhằm mục đích này. Tuổi trẻ thường ngây thơ chất phác, nghĩ sao nói vậy nên ít biết dối trá xảo quyệt, nhưng đến khi thành niên để bắt trước theo thói xã giao hoặc vì sự mưu sinh, người ta dần dần tập nhiễm những điều xảo trá và xa dần sự thật. Khi đi xa mà muốn quay về là nhọc nhằn hơn lúc ở gần. Vì thế lúc tuổi trẻ còn chất phác, thành thật nên rất gần với đạo Phật. Những quan điểm Phật giáo và đạo vô thần trước hết dựa vào lý thuyết nhân duyên của nhà Phật. Họ nói, bất cứ gì cũng là kết quả của cái trước nó và là nguyên nhân của cái sau nó, và như vậy tất cả đều vô thuỷ vô cung, cái gọi là thượng đế nếu có cũng chỉ là kết quả của một cái trước đó, không có gì là đầu tiên cả. Thứ hai là họ cho rằng một lý thuyết đúng phải là một lý thuyết trình bày có chứng cứ xác thực " không do nơi thực nghiệm "chỉ là những lời bịa đặt của giáo sĩ để lợi dụng lòng tin. Thứ ba, là họ cho rằng lý thuyết của những kẻ hữu thần thì đầy rẫy những mâu thuẫn nội tại, như cho đức sáng nội tại, như cho đức sáng chế đại từ, đại bi mà còn sinh ra những người nghèo hèn đói rách, bệnh hoạn thì từ bi ở đâu, như cho đức sáng chế toàn năng và đại nhân đức mà còn tạo ra những người này thì " khôn ngoan xảo trá", những người kia thì " ngu độn dại khờ " thì toàn năng và nhân đức ở đâu?... Không những thế họ còn chỉ ra giữa các chúa sáng chế của các tôn giáo cũng chống đối nhau, mâu thuẫn nhau. Đúng như Hiện Chiếu nói dứt khoát "không" Phật giáo không bày cái thuyết thưởng phạt, không có chúa tạo vật, không: Tự mình làm điều ác Tự mình làm nhiễm ô Tự mình áo không làm Tự mình làm thanh tịnh Tịnh không tịnh từ mình Không ai thanh tịnh cả. Và như Tu Phước nói về sự thành kính của con người với đạo Phật hiện tại. Có người cúng Phật như đi lễ một ông quan ( Cầu lợi) tâm ý lo lót, hối lộ hay chuộc tội và tưởng rằng là mình càng to bao nhiêu thì Phật càng vui lòng bấy nhiêu. Có người cúng Phật với tâm lý khoe khoang ( cầu danh) để mọi người chung quanh đều biết mình rộng rãi, giàu có chứ không có một chút thành tâm nào cả. Câu chuyện đứa bé đem đất sét cúng Phật mà được Phật độ chứng tỏ sự cúng bái chú trọng ở lòng thành, chứ không phải ở vật thực, người cúng Phật với tâm niệm nhiễm ô nói trên tất nhiên chỉ hưởng phước báo giàu sang ở mặt hữu lậu ở trần gian mà thôi, chứ không được thước thanh tịnh vô lậu. Người cúng Phật với tâm niệm trong sạch, không mục đích lo lót cầu danh, cầu lợi cũng không cần ai biết đến lễ vật của mình ( vì danh) họ cúng Phật cốt để tỏ lòng thành kính tri ai. Câu chuyện về bà lão chỉ cúng Phật một đĩa dầu nhỏ mà thắp suốt đêm không hết, hay người ăn xin cùng gói muối ; bà hoàng cùng ba xe vàng... cũng đủ chứng tỏ rằng với lòng thành kính thì vật hèn hạ cũng trở nên quý báu vô cùng. Người cúng Phật với tấm lòng trong sạch, thành kính như thế sẽ được phước báo, xuất thế gian vô lậuthanh tịnh. Mặc dù quan điểm về Phật giáo bị phân tán bởi nhiều tầng lớp tín ngưỡng khác nhau nhưng cho đến ngày nay Phật giáo vẫn là một tôn giáo không thể thiếu được của nhân dân. Ngày nay trong sự đổi mới của xã hội, của thành tựu khoa học mong rằng mỗi con người Việt Nam nói riêng và nhân loại nói chung hãy có những quan điểm đứng đắn về đạo Phật, đừng biến nó thành thứ để cầu danh lợi, giữ đúng bản chất tốt đẹp vốn có để chứng tỏ rằng nền văn hoá dân tộc Việt Nam sẽ giữ mãi được bản sắc của mình trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Không những thế, là người Việt Nam sinh ra và lớn lên trong một môi trường giáo dục đầy tính nhân văn, nhân ái của đạo Phật, mỗi con người chúng ta phải có trách nhiệm giữ gìn, xây dựng, để Phật giáo Việt Nam thích ứng được với mọi hoàn cảnh, luôn đóng góp tô bồi những gì tốt đẹp cho dân tộc. Bởi Phật giáo là một nguồn ánh sáng trí tuệ và một nguồn suối yêu thương rạt rào. Tài liệu tham khảo: 1. Việt Nam Phật giáo sử luận 2. Lược sử Phật giáo Việt Nam 3. Đạo Phật và thế giới quan 4. Giáo trình triết học Mác- Lênin

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc35203.doc
Tài liệu liên quan