Giải pháp phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội ở đồng bằng sông Cửu Long

Thứ hai, mạng lưới đào tạo nghề của vùng cần được quy hoạch và liên kết phát triển một cách hệ thống và bài bản. Trong giai đoạn sắp tới, các trường hay trung tâm đào tạo nghệ nên ưu tiên tập trung đào tạo các ngành như: công nghiệp chế biến, kỹ thuật môi trường, cơ khí, theo yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của vùng. Thứ ba, các trung tâm nghiên cứu, hỗ trợ và cung ứng lao động nên được thành lập nhằm thực hiện nhiệm vụ xác định nhu cầu của doanh nghiệp về tuyển dụng lao động. Trên cơ sở đó các cơ sở đào tạo sẽ xây dựng kế hoạch đào tạo, chuẩn bị năng lực đào tạo phù hợp với dự báo nhu cầu nhân lực trong từng giai đoạn. Thứ tư, các cơ sở đào tạo cần chú trọng đào tạo và nâng cao chất lượng các bài học thực hành cho người lao động. Đồng thời cần mở rộng các lớp đào tạo nghiệp vụ, tập huấn kỹ thuật, các lớp đào tạo ngắn hạn, nhằm tạo ra nhiều cơ hội lựa chọn trong việc nắm bắt kiến thức và kỹ năng lao động. Thứ năm, mạng lưới liên kết giữa các viện – trường – doanh nghiệp cũng cần được thành lập và phát huy hơn nữa vai trò của của từng “mắt xích” trong mối liên kết. Các viện, trường, trung tâm đào tạo cần chủ động phối hợp với doanh nghiệp để nắm bắt được nhu cầu về nguồn nhân lực, từ đó xây dựng và đổi mới chương trình đào tạo cho phù hợp. Ngược lại, các doanh nghiệp cũng cần xác định trách nhiệm của mình trong việc hỗ trợ các viện, trường, trung tâm trong việc đào tạo, đặt hàng nhu cầu đối với các cơ sở đào tạo về chuyên môn, kỹ năng,

pdf5 trang | Chia sẻ: hachi492 | Ngày: 14/01/2022 | Lượt xem: 13 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Giải pháp phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội ở đồng bằng sông Cửu Long, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Khoa hoïc xaõ hoäi Ñaïi hoïc Huøng Vöông - Khoa hoïc Coâng ngheä30 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC ĐÁP ỨNG NHU CẦU PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG Nguyễn Quốc Nghi Trường Đại học Cần Thơ TóM TắT Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là nơi được thiên nhiên ưu đãi về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên. Từ lâu, vùng đã trở thành khu vực trọng điểm lương thực của quốc gia. Trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, ĐBSCL giữ vai trò quan trọng trong việc đóng góp các nguồn lực để xây dựng và phát triển đất nước. Tuy nhiên, trước những thế mạnh vốn có, ĐBSCL hiện nay đang phải đối mặt với thực trạng nguồn nhân chưa đủ chất lượng để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của vùng nói riêng cũng như của cả nước nói chung. Trong khuôn khổ bài viết này, tác giả tập trung phân tích thực trạng cũng như những hạn chế của nguồn nhân lực vùng ĐBSCL. Từ đó đề xuất các giải pháp phát triển nguồn nhân lực cho vùng ĐBSCL. Từ khóa: Nguồn nhân lực, nhu cầu, kinh tế - xã hội, đồng bằng sông Cửu Long 1. Mở đầu Đồng bằng sông Cửu Long là một trong những vùng kinh tế sản xuất trọng điểm của Việt Nam. Vùng có diện tích 40.548,2 km2, chiếm 12,3% diện tích cả nước (GSO, 2011). Sau khi gia nhập WTO, tốc độ tăng trưởng GDP vùng ĐBSCL luôn đạt trên 11%/năm (TTXVN, 2012). Với những thế mạnh và tiềm năng sẵn có, ĐBSCL có đầy đủ điều kiện cần để giữ vững và phát triển vai trò, trọng trách của trung tâm kinh tế - văn hóa - xã hội quan trọng của đất nước, tiến đến phát triển bền vững về kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội. Để thực hiện được những mục tiêu phát triển chiến lược của ĐBSCL, nguồn nhân lực chính là nhân tố then chốt quyết định sự thành công này. Tuy nhiên, vấn đề nguồn nhân lực ở ĐBSCL vẫn còn nhiều vướng mắc đối với sự phát triển của vùng, là thách thức lớn trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu. Do đó, việc phân tích và đánh giá toàn diện về nguồn nhân lực ĐBSCL trên các lĩnh vực sản xuất kinh doanh lẫn quá trình đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là vấn đề cấp thiết và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đây là nguồn cung cấp một nền tảng lý luận tin cậy gắn với thực tiễn, giúp các cơ quan hữu quan, các doanh nghiệp, nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách, nhà khoa học có cơ sở khoa học để xây dựng và nghiên cứu các vấn đề chiến lược phát triển nguồn nhân lực. Từ đó, thúc đẩy sự phát triển của vùng ĐBSCL và đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước. 2. Tổng quan về nguồn nhân lực ở khu vực ĐBSCL 2.1. Quy mô của nguồn nhân lực Dân số của khu vực ĐBSCL năm 2011 khoảng 17,33 triệu người, chiếm gần 20% dân số cả nước (87,84 triệu người) và là khu vực dân cư đông thứ ba của cả nước, chỉ sau ĐBSH (19,99 triệu người), Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung (19,05 triệu người). Về quy mô dân số, An Giang là tỉnh có dân số trung bình đông nhất (2,15 triệu người), tỉnh có ít dân cư nhất là Hậu Giang (0,76 triệu người). Tuy nhiên, nếu xét về mật độ dân số thì thành phố Cần Thơ có mật độ dân cư cao nhất khu vực (852 người/km2) và tỉnh có mật độ thấp nhất là Kiên Giang (270 người/km2) nhưng vẫn cao hơn tỷ lệ chung của cả nước (265 người/km2). Lực lượng lao động ở ĐBSCL năm 2011 khoảng 10,23 triệu người; tăng 0,88 triệu người so với năm Ñaïi hoïc Huøng Vöông - Khoa hoïc Coâng ngheä 31 Khoa hoïc xaõ hoäi 2005 (chiếm khoảng 59,1% dân số của khu vực và khoảng 19,9% dân số cả nước). Lực lượng lao động ở ĐBSCL dồi dào và không ngừng tăng qua các năm, đóng góp không nhỏ trong việc phát triển kinh tế - xã hội của vùng nói riêng và của cả nước nói chung. 2.2. Chất lượng của nguồn nhân lực Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo của ĐBSCL không ngừng tăng qua các năm (từ 7,8% năm 2008 lên 8,6% năm 2011). Tuy nhiên, lực lượng lao động đã được đào tạo ở ĐBSCL thấp hơn nhiều so với tỷ lệ chung của cả nước (15,4%) cũng như kém xa các khu vực còn lại như đồng bằng sông Hồng (21,1%), Đông Nam Bảng 1: Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2011 phân theo địa phương Dân số trung bình (Nghìn người) Diện tích (Km2) Mật độ dân số (Người/km2) Cả nước 87.840,0 330.957,6 265 ĐBSCL 17.330,9 40.548,2 427 Long An 1.449,6 4.492,4 323 Tiền Giang 1.682,6 2.508,3 671 Bến Tre 1.257,8 2.360,6 533 Trà Vinh 1.012,6 2.341,2 433 Vĩnh Long 1.028,6 1.496,8 687 Đồng Tháp 1.673,2 3.377,0 495 An Giang 2.151,0 3.536,7 608 Kiên Giang 1.714,1 6.348,5 270 Cần Thơ 1.200,3 1.409,0 852 Hậu Giang 769,2 1.602,5 480 Sóc Trăng 1.303,7 3.311,6 394 Bạc Liêu 873,3 2.468,7 354 Cà Mau 1.214,9 5.294,9 229 Nguồn: Tổng Cục Thống kê, năm 2011 Bảng 2: Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên phân theo địa phương Đvt: Nghìn người Năm 2005 Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011 Cả nước 44.904,5 47.160,3 48.209,6 49.322,0 50.392,9 51.398,4 ĐBSCL 9.354,8 9.772,7 9.895,2 10.046,1 10.128,7 10.238,4 Nguồn: Tổng Cục Thống kê, năm 2011 Bảng 3: Tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong nền kinh tế đã qua đào tạo phân theo địa phương Đvt: % Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011 Cả nước 14,3 14,8 14,6 15,4 Đồng bằng sông Hồng 18,1 20,9 20,7 21,1 Trung du và miền núi phía Bắc 12,2 13,2 13,3 13,6 Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung 13,1 13,5 12,7 14,4 Tây Nguyên 11,4 10,9 10,4 10,8 Đông Nam Bộ 22,5 19,6 19,5 20,7 Đồng bằng sông Cửu Long 7,8 7,9 7,9 8,6 Nguồn: Tổng Cục Thống kê, năm 2011 Khoa hoïc xaõ hoäi Ñaïi hoïc Huøng Vöông - Khoa hoïc Coâng ngheä32 Bộ (20,7%),... Kết quả thống kê còn cho thấy, tỷ lệ thất nghiệp ở ĐBSCL luôn cao hơn cả nước, dù có giảm còn 2,77% (năm 2011) so với 3,59% (năm 2010). Bên cạnh đó, tình trạng thất nghiệp ở thành thị luôn vượt trội so với nông thôn. Như vậy, tuy hiện nay, công tác giáo dục và đào tạo ngày càng được chú trọng nhưng lực lượng lao động lành nghề và đội ngũ quản lý chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu kinh tế - xã hội. Là khu vực có nguồn lao động trẻ, dồi dào; nhưng trình độ lao động ở ĐBSCL chưa qua đào tạo lại cao nhất so với cả nước. Do đó, tỷ lệ đào tạo lại đối với lực lượng lao động của doanh nghiệp luôn chiếm tỷ lệ cao, làm ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung. Tình trạng thừa lực lượng lao động trong khi doanh nghiệp không tuyển dụng được nhân lực chất lượng, tỷ lệ thất nghiệp luôn ở mức cao (so với cả nước) là vấn đề cấp bách cần giải quyết hiện nay của ĐBSCL. 3. Nhận định những hạn chế về nguồn nhân lực ĐBSCL ĐBSCL là nơi có thế mạnh về nông nghiệp và điều kiện tự nhiên thuận lợi, mặc dù vậy những thế mạnh này hầu như vẫn còn tồn tại ở dạng “tiềm năng”, chưa thật sự phát huy được sức mạnh trong phát triển kinh tế của vùng. Một tiềm lực vô cùng quan trọng tạo động lực thúc đẩy sự phát triển của ĐBSCL chính là con người. Bài toán về nguồn nhân lực thật sự là một bài toán khó. Một khi chúng ta tìm ra lời đáp cho vấn đề này thì nguồn nhân lực chính là sức bật mạnh mẽ nhất cho việc phát triển kinh tế - xã hội. Từ thực tiễn, tác giả nhận định một số hạn chế của nguồn nhân lực vùng ĐBSCL như sau: Thứ nhất, trình độ của lao động, đặc biệt là lao động ở khu vực nông thôn còn rất thấp, phần lớn chưa qua đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ. Mặc dù tỷ lệ lao động được đào tạo vùng ĐBSCL không ngừng tăng lên qua các năm nhưng nhìn chung tỷ lệ và chất lượng lao động của vùng vẫn còn thấp. Theo báo cáo điều tra lao động việc làm của Tổng cục thống kê năm 2011, ĐBSCL là vùng có tỷ lệ lao động đang làm việc đã qua đào tạo thấp nhất cả nước, tương ứng 8,6% (đứng sau cả Tây Nguyên, 10,8%). Trong đó, lao động nghề đã qua đào tạo chiếm 1,8%, lao động trung cấp, cao đẳng và đại học lần lượt chiếm 2,4%, 1,4% và 3,4%. Lao động với chất lượng thấp đồng nghĩa với việc làm không bền vững, việc trả lương thấp và không đáp ứng được xu thế mới, sử dụng công nghệ hiện đại trong sản xuất và quản lý. Nguyên nhân sâu xa của hiện trạng này xuất phát từ hạn chế của hệ thống giáo dục trong vùng. Trường đại học, cao đẳng không thiếu tuy nhiên cơ sở vật chất yếu kém, trang thiết bị chưa được đầu tư đúng mức, chương trình đào tạo chậm đổi mới, hệ thống kiểm tra đánh giá chưa phát triển; nhất là đối với các cơ sở mới thành lập vẫn còn tình trạng thiếu đội ngũ giảng viên, đặc biệt là các giáo viên nhiều kinh nghiệm. Thứ hai, lực lượng lao động trẻ dồi dào nhưng tỷ lệ thất nghiệp còn nhiều. ĐBSCL hiện chiếm gần 20% dân số của cả nước, tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên chiếm gần 59,1% dân số của vùng. Tuy nhiên, chất lượng lao động thấp, tay nghề yếu kém đã làm cho tỷ lệ thất nghiệp của vùng vẫn còn ở mức báo động. Tính đến tháng 10/2012, tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động là 211,1 nghìn người chiếm 21,6% trong tổng số lao động thất nghiệp của cả nước; trong đó tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực nông thôn ĐBSCL là 66,8% (GSO, 2012). Nguyên nhân chủ yếu của thực trạng này là do chất lượng lao động chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn. Với dân số hơn 17 triệu người, trong đó Bảng 4: Tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm của lực lượng lao động trong độ tuổi phân theo vùng (2009-2011) Đvt: % Năm Tỷ lệ thất nghiệp Chung Thành thị Nông thôn 2011 Cả nước 2,22 3,60 1,60 ĐBSCL 2,77 3,37 2,59 2010 Cả nước 2,88 4,29 2,30 ĐBSCL 3,59 4,08 3,45 2009 Cả nước 2,90 4,60 2,25 ĐBSCL 3,31 4,54 2,97 Nguồn: Tổng Cục Thống kê, năm 2011 Ñaïi hoïc Huøng Vöông - Khoa hoïc Coâng ngheä 33 Khoa hoïc xaõ hoäi gần 80% dân số gắn bó với hoạt động nông nghiệp, ĐBSCL có một lực lượng lao động tại chỗ đông đảo. Tuy nhiên nguồn nhân lực có chất lượng cao đáp ứng nhu cầu quản lý, sản xuất, kinh doanh lại thiếu. Tình trạng thừa lao động phổ thông, thiếu lao động chuyên môn đã dẫn đến tỷ lệ thất nghiệp của vùng luôn ở cao. Thứ ba, chất lượng nguồn nhân lực chưa tương xứng với tốc độ phát triển kinh tế của vùng. Việc đào tạo ngành nghề cho lao động vùng ĐBSCL vẫn còn nhiều yếu kém cả về chất và lượng. Theo số liệu thống kê của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, tính đến năm 2010 cả khu vực ĐBSCL có 327 cơ sở dạy nghề, trong đó có 218 cơ sở công lập và 109 cơ sở ngoài công lập. Theo đánh giá chuyên môn của các cơ quan ban ngành, mạng lưới cơ sở dạy nghề ĐBSCL vẫn còn mỏng manh; toàn vùng hiện nay có 24 trường trung cấp và 5 trường cao đẳng nghề, con số này vẫn chưa tương xứng với lực lượng lao động đông đảo của vùng. Mặt khác, ngành nghề đào tạo của các đơn vị chủ yếu vẫn là các ngành nghề phổ thông như: may mặc, điện dân dụng, sữa chữa thiết bị, máy móc, Bên cạnh đó, lực lượng lao động được đào tạo chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường, làm “lệch pha” trong mối quan hệ phát triển công nghiệp và nguồn lao động của vùng. Trong thực tế, không chỉ có đào tạo nghề mà ngay cả đào tạo cao đẳng, đại học chưa thực sự gắn với thị trường. Số lượng được đào tạo ngày càng nhiều nhưng sau khi tốt nghiệp ngày càng khó khăn để tìm được việc làm phù hợp và ổn định, thậm chí là không tìm được việc làm. Lý do như đã trình bày là việc đào tạo không phù hợp ngành nghề, chuyên môn, kỹ năng thực hành kém, tinh thần và thái độ làm việc cũng như kỷ luật lao động không cao. Hơn nữa, đại bộ phận lực lượng lao động trẻ sau khi tốt nghiệp thường tìm các cơ hội việc làm tại khu vực thành thị, e ngại khó khăn khi về nông thôn. Chính vì thế, chất lượng lao động ở khu vực nông thôn hay vùng sâu, vùng xa của ĐBSCL đã thấp lại ngày càng trở nên trầm trọng hơn. Thứ tư, vấn đề di cư tự phát của lao động cũng tạo ra nhiều tác động tiêu cực. Thực tế, việc chuyển dịch lao động ở vùng ĐBSCL thời gian qua diễn ra với tốc độ cao. Hầu hết lao động từ nông thôn di cư ra đô thị vẫn chưa được trang bị đầy đủ trình độ, kỹ thuật và tay nghề. Nguyên nhân của vấn đề xuất phát ở cả do cơ cấu lao động của vùng, cơ cấu theo vùng lãnh thổ, theo nhóm ngành (khu vực) chuyển dịch còn chậm. Sức hút của việc làm ở các khu công nghiệp, hay khu vực thành thị đã tạo ra sự dịch chuyển lao động từ khu vực này sang khu vực khác, chủ yếu là do di dân từ nông thôn vào thành thị. Mặt khác, lao động nông nghiệp với trình độ hạn chế trong lúc nông nhàn ra thành thị kiếm việc làm tạm thời như: buôn bán, dịch vụ sửa chữa nhỏ, vận tải, xây dựng tự phát và các nghề tự do khác..., không những không theo xu hướng tính cực, mà còn để lại hậu quả về mặt xã hội, như quá tải về hạ tầng cơ sở và nhiều tệ nạn xã hội. Vì thế, việc hội nhập vào cuộc sống công nghiệp – dịch vụ diễn ra nhiều bất cập. Lực lượng lao động trẻ phải chấp nhận các công việc nặng nhọc, thu nhập thấp ở thành thị thì ở nông thôn lại thiếu lao động nông nghiệp. Điều này tất yếu dẫn đến các hệ quả giá lao động tăng, chất lượng lao động kém, chi phí đầu tư tăng và hiệu quả sản xuất giảm. 4. Định hướng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội vùng ĐBSCL 4.1. Định hướng phát triển Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 1033/ QĐ-TTg được ban hành ngày 30/06/2011 về phát triển giáo dục, đào tạo và dạy nghề vùng ĐBSCL giai đoạn 2011-2015 đã chỉ rõ mục tiêu phát triển giai đoạn 2011-2015: “tạo bước đột phá để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững của vùng và cả nước”. Mặt khác, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội cũng đề ra phương hướng dạy nghề giai đoạn 2012-2020, đặt mục tiêu cho công tác đào tạo nghề là nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt 40%, tương đương 23,5 triệu người vào năm 2015 (trong đó trình độ trung cấp nghề, cao đẳng nghề chiếm tỷ lệ là 20%) và 55% vào năm 2020, tương đương 34,4 triệu người (trong đó trình độ trung cấp nghề, cao đẳng nghề chiếm tỷ lệ là 23%). Kết luận của Văn phòng Chính phủ về triển khai thực hiện quyết định số 638/QĐ-TTG ngày 28/4/2012 xác định thế mạnh của ĐBSCL đến năm 2015 vẫn là sản xuất nông nghiệp. Theo đó, nhiều tỉnh thành trong vùng đã nhận diện được những cơ hội, thách thức cũng như xác định được nội lực, lợi thế của địa phương trong phát triển kinh tế, lĩnh vực công nghiệp – dịch vụ từng bước được mở rộng. Do đó, nhu cầu về một đội ngũ cán bộ quản lý giỏi, lao động có trình độ và tay nghề chuyên môn càng trở nên cấp Khoa hoïc xaõ hoäi Ñaïi hoïc Huøng Vöông - Khoa hoïc Coâng ngheä34 thiết. Để nguồn nhân lực đáp ứng được các yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của vùng, các chiến lược phát triển cần có định hướng rõ ràng, cụ thể: Trước tiên, ĐBSCL cần chú trọng phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển sản xuất nông nghiệp trong thời kỳ hội nhập và tạo đòn bẩy để thực hiện chủ trương “tam nông” của nhà nước. Theo đó, các địa phương trong vùng cần chú trọng đào tạo nhân lực cho các ngành công nghệ chế biến, bảo quản thực phẩm, công nghệ thông tin, nuôi trồng và chế biến thủy hải sản, kỹ thuật môi trường, kinh doanh quốc tế, Đối với lao động nghề, các tỉnh trong khu vực cần chú trọng việc đào tạo để lực lượng này có thể làm việc trong các lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ, thương mại cũng như các kỹ năng để làm một người công nhân hiện đại. Với nguồn lao động dồi dào như hiện nay, ĐBSCL cũng nên có chiến lược đào tạo và phát triển thích hợp để trong tương lai và về lâu dài có thể trở thành vùng cung cấp nguồn lao động lành nghề cho các khu vực khác chẳng hạn như vùng Đông Nam Bộ. Trong công tác giáo dục bậc đại học, cao đẳng hay dạy nghề, các chương trình đào tạo ngoài kiến thúc chuyên môn các trường cần tích hợp việc học tập và rèn luyện kỹ năng mềm cho nguồn lao động. Từ đó thúc đẩy việc đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao. Bên cạnh đó, vùng cũng cần chú ý đến việc đào tạo nhân lực trong các lĩnh vực văn hóa, xã hội và nhân văn; các nhà quản lý, nhà hoạch định chiến lược, các chuyên viên tư vấn tâm lý,.. được tiếp thu tinh hoa văn hóa, kiến thức thế giới cũng không kém phần quan trọng cho sự phát triển của vùng ĐBSCL. Hơn nữa, vấn đề cơ cấu trong đào tạo cũng không kém phần quan trọng. Việc thực hiện đào tạo, đào tạo lại, đào tạo theo chức danh cần được giải quyết thích hợp và triệt để. Hệ thống giáo dục nghề nghiệp của vùng cần được tiến hành tái cấu trúc, một mặt đảm bảo tính liên thông giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp với các trường cao đẳng, đại học mặt khác để người lao động có thể tham gia nghiên cứu, bổ sung trình độ khi có điều kiện. 4.2. Giải pháp phát triển Để phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội cũng như đi theo những định hướng phát triển được đề ra, ĐBSCL cần có những giải pháp phù hợp và thực hiện đồng bộ: Thứ nhất, hệ thống giáo dục cần được chuẩn hóa và hướng đến chú trọng đào tạo theo chất lượng. Các trường đại học trong khu vực cần có kế hoạch đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị cũng như đổi mới chương trình đào tạo theo hướng đáp ứng nhu cầu thực tế hơn là chỉ giảng dạy thiên về lý thuyết. Đặc biệt, với nền tảng sẵn có về cơ sở hạ tầng, thiết bị, đội ngũ cán bộ,.. trường Đại học Cần Thơ cần chú trọng nâng cấp để trở thành trường xuất sắc, là nơi đào tạo nguồn nhân lực hàng đầu cho cả vùng và cả nước. Bên cạnh đó, hệ thống các trường đại học, cao đẳng trong vùng cũng cần được nâng cấp, mở rộng tạo điều kiện để con em dân tộc thiểu số, vùng sâu vùng xa có nhiều điều kiện hơn nữa để nâng cao trình độ, góp phần xây dựng phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương. Thứ hai, mạng lưới đào tạo nghề của vùng cần được quy hoạch và liên kết phát triển một cách hệ thống và bài bản. Trong giai đoạn sắp tới, các trường hay trung tâm đào tạo nghệ nên ưu tiên tập trung đào tạo các ngành như: công nghiệp chế biến, kỹ thuật môi trường, cơ khí, theo yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của vùng. Thứ ba, các trung tâm nghiên cứu, hỗ trợ và cung ứng lao động nên được thành lập nhằm thực hiện nhiệm vụ xác định nhu cầu của doanh nghiệp về tuyển dụng lao động. Trên cơ sở đó các cơ sở đào tạo sẽ xây dựng kế hoạch đào tạo, chuẩn bị năng lực đào tạo phù hợp với dự báo nhu cầu nhân lực trong từng giai đoạn. Thứ tư, các cơ sở đào tạo cần chú trọng đào tạo và nâng cao chất lượng các bài học thực hành cho người lao động. Đồng thời cần mở rộng các lớp đào tạo nghiệp vụ, tập huấn kỹ thuật, các lớp đào tạo ngắn hạn, nhằm tạo ra nhiều cơ hội lựa chọn trong việc nắm bắt kiến thức và kỹ năng lao động. Thứ năm, mạng lưới liên kết giữa các viện – trường – doanh nghiệp cũng cần được thành lập và phát huy hơn nữa vai trò của của từng “mắt xích” trong mối liên kết. Các viện, trường, trung tâm đào tạo cần chủ động phối hợp với doanh nghiệp để nắm bắt được nhu cầu về nguồn nhân lực, từ đó xây dựng và đổi mới chương trình đào tạo cho phù hợp. Ngược lại, các doanh nghiệp cũng cần xác định trách nhiệm của mình trong việc hỗ trợ các viện, trường, trung tâm trong việc đào tạo, đặt hàng nhu cầu đối với các cơ sở đào tạo về chuyên môn, kỹ năng, (Xem tiếp trang 40)

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfgiai_phap_phat_trien_nguon_nhan_luc_dap_ung_nhu_cau_phat_tri.pdf
Tài liệu liên quan