Hiệu lực trong phõng thí nghiệm của tuyến trùng gây bệnh côn trùng đối với mọt đục thân (euwallacea fornicatus) hại keo tai tượng và keo lai

KẾT LUẬN - Tỷ lệ ATM bị ký sinh do loài H. indica ở liều lượng thí nghiệm 600 IJs/ml là cao nhất và là 65,0%; chỉ tiêu này thấp nhất ở liều lượng 300 IJs/ml chỉ đạt 48,56% và ở liều lượng 900 IJs/ml đạt 58,67%. - Loài S. quangdongense ở các liều lượng thí nghiệm 300, 600 và 900 IJs/ml có tỷ lệ bị kí sinh của ATM lần lượt đạt từ 19,33%, 21,0% và 22,33%. Hiệu lực trong phòng thí nghiệm của tuyến trùng H. indica đối với ATM ở liều lượng 600IJs/ml cho kết quả tốt nhất. Đây có thể là liều lượng để thử nghiệm đối với loài Mọt đục thân này ở ngoài tự nhiên. - Loài H. indica ký sinh gây bệnh trên ATM có khả năng nhân sinh khối cao nhất ở liều lượng 600 IJs/ml với số lượng 51.093,3 IJs/lần nhắc lại so với 43.055,6 IJs/lần nhắc lại ở liều lượng 900 IJs/ml và thấp nhất 42.198,3 IJs/lần nhắc lại ở liều lượng 300IJs/ml. Khả năng nhân sinh khối của loài S.quangdongense trên ATM thấp hơn nhiều so với khả năng nhân sinh khối của loài H. Indica. Ở các liều lượng tuyến trùng lây nhiễm đã thí nghiệm, số lượng IJs thu được chỉ đạt từ 2.420,3 IJs/lần nhắc lại đến 2.455,6 IJs/lần nhắc lại.

pdf6 trang | Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 13 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Hiệu lực trong phõng thí nghiệm của tuyến trùng gây bệnh côn trùng đối với mọt đục thân (euwallacea fornicatus) hại keo tai tượng và keo lai, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV - Số 5/2019 15 trì tính kháng cao với Imidacloprid mặc dù tần suất tiếp xúc với hoạt chất này là không cao. Nhưng bên cạnh đó cũng không loại trừ các khả năng về sự xuất hiện của đột biến điểm Y151S (Liu và cộng sự, 2004) hoặc sự hiện diện của gene kháng khác như CYP6ER1 (Ruoheng Jin và cộng sự, 2019). 4.2 Đề nghị Tiếp tục thực hiện các thí nghiệm theo dõi tính kháng hoạt chất thuốc Imidacloprid của rầy nâu qua các năm. Khảo sát sự hiện diện của gene kháng Imidacloprid trên các quần thể rầy nâu tại tỉnh Tiền Giang. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Cục BVTV, 2007. Báo cáo tình hình và kết quả thực hiện công tác phòng chống rầy nâu, bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá trên lúa các tỉnh, thành phía Nam năm 2006. 2. Liu và cộng sự, 2004. A nicotinic acetylcholine receptor mutation conferring target-site resistance to Imidacloprid in Nilaparvata lugens (brown planthopper). 3. Matsumura và ctv, 2008. Species-specific insecticide resistance to Imidacloprid and Fipronil in the rice planthoppers Nilaparvata lugens and Sogatella furcifera in East and South-east Asia. Pest Manag Sci. 2008; số 64, trang 1115 - 1121. 4. Nguyễn Thị Nhật Phương, 2017. Đánh giá khả năng kháng thuốc của rầy nâu (Nilaparvata lugens Stål) đối với các hoạt chất Imidacloprid, Fenobucard, Profenofos tại các tỉnh Tiền Giang, An Giang và Cần Thơ. Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành BVTV. Đại học Nông Lâm Tp. Hồ Chí Minh. 5. Phan Văn Tương, 2013. Nghiên cứu khả năng kháng thuốc của rầy nâu (Nilaparvata lugens Stål) đối với các hoạt chất thuốc trừ sâu Fenobucarb, Fipronil và Imidacloprid tại Đồng bằng sông Cửu Long. Luận án Tiến sĩ chuyên ngành BVTV, Đại học Nông Lâm Tp. HCM, 135 trang. 6. Phùng Minh Lộc, Trần Thanh Tùng, Lê Thị Diệu Trang, Hồ Thị Thu Giang và Taro Adati, 2016. Đánh giá hiệu lực phòng trừ rầy nâu hại lúa (Nilaparvata lugens Stål.) của một số thuốc trừ sâu. Tạp chí chuyên ngành BVTV số 4/2016, trang 37 - 43. 7. Ruoheng Jin và cộng sự, 2019. Overexpression of CYP6ER1 associated with clothianidin resistance in Nilaparvata lugens (Stål) Phản biện: TS. Đào Bách Khoa HIỆU LỰC TRONG PHÕNG THÍ NGHIỆM CỦA TUYẾN TRÙNG GÂY BỆNH CÔN TRÙNG ĐỐI VỚI MỌT ĐỤC THÂN (Euwallacea fornicatus) HẠI KEO TAI TƢỢNG VÀ KEO LAI Laboratory Efficacy of EPNs to Euwallacea fornicatus Damaging on Accacia mangium and Accacia Hybrid Bùi Quang Tiếp 1 , Trịnh Quang Pháp 2 Ngày nhận bài: 02.7.2019 Ngày chấp nhận: 13.8.2019 Abstract Polyphagous shot-hole borer Euwallacea fornicatus (Eichhoff) (Coleoptera, Curculionidae: Scolytinae) damages not only on forest trees but also on plants and landscape trees around the world. The experiment was used two entomopathogenic nematode (EPN) species Heterorhabditis indica and Steinernema quangdongense to control the third larvae of 1. Trung tâm Nghiên cứu Bảo vệ rừng. 2. Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV - Số 5/2019 16 E. fornicatus under lab conditions. The higher mortality of third larvae caused by infective juveniles (IJs) H. indica than S. quangdongense. Results of the experiments were exposed: H. indica is more effective than S. quangdongense. The efficacies of H. indica to third larvae at treatment dose of 300, 600 and 900 IJs/ml were 58.67%, 65.0% and 48.56% respectively during 10 days treatment. Meanwhile, with S. quangdongens, the figures are 19.33% (300 IJs/ml), 21.0% (600 IJs/ml) and 23.33 per cent (900 IJs/ml); The highest IJ yields of H. indica in the third parasitised larvae host in 19.5 individuals at 600 IJs/ml (CT2). Based on results of the experiment, an IJ application dosage of H. indica for biological control of shot-hole borer Euwallacea fornicatus was proposed. Keywords: efficacy, Heterorhabditis indica, Steinernema quangdongense, Third larva of Euwallacea fornicatus. 1. ĐẶT VẤN ĐỀ Mọt đục thân Euwallacea fornicatus (Eichhoff) (Coleoptera, Curculionidae: Scolytinae), có nguồn gốc từ Đông Nam Á, là loài hại chính đối với cây trồng ở một số khu vực như châu Phi, châu Úc, Bangladesh, Ấn độ, Indonesia, Nhật bản, Lào, Malaysia, Myanmar, Philippines, Srilanka và Việt Nam. Đến nay nó đã xuất hiện ở nhiều quốc gia trên thế giới và không chỉ gây hại trên cây lâm nghiệp mà còn cả cây nông nghiệp và cây đường phố (Eskalen et al., 2013). Do tập tính sống của E. fornicatus mang một số loài nấm cộng sinh Fusarium spp. nên là một trong những nguyên nhân phát tán các loài nấm bệnh này và gây bệnh chết ngược đối với một số loài cây có giá trị thương mại ở California và Israel (Floyd, 2012; Mendel et al., 2012; Tom et al., 2013). Ở Việt Nam theo kết quả điều tra nghiên cứu của chúng tôi, hiện nay loài Mọt E. fornicatus được xác định là sâu hại chính đối với Keo tai tượng và keo lai tại Phú Thọ (Báo cáo đề tài, 2018). Cần có giải pháp hữu hiệu ngăn chặn sự lây lan của loài Mọt đục thân này. Phương pháp quản lý sinh học đang được các nhà nghiên cứu quan tâm sử dụng trong kiểm soát sâu hại và hướng đến giảm sự phụ thuộc vào sử dụng thuốc hóa học (Shapiro-Ilan et al., 2010, 2015). Tuyến trùng ký sinh gây bệnh côn trùng (EPN) đang được áp dụng phổ biến như là tác nhân sinh học phòng chống một số loài sâu hại trên thế giới (Shapiro-Ilan et al., 2002; Grewal et al., 2005). EPN thuộc 2 giống Heterorhabditis và Steinernema có các vi khuẩn cộng sinh như Xenorhabdus spp. và Photorhabdus spp. xâm nhập qua lỗ thở trên cơ thể ấu trùng côn trùng sau đó vào khoang máu để ký sinh giết chết ký chủ (Lewis, Clarke, 2012). Bài viết này cung cấp kết quả đánh giá trong phòng thí nghiệm về khả năng gây chết của hai loài Heterorhabditis indica và Steinernema quangdongense đối với Mọt đục thân E. fornicatus hại Keo tai tượng và keo lai. 2. VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Vật liệu nghiên cứu Trưởng thành Mọt đục thân E. fornicatus hại Keo tai tượng và keo lai ở Đoan Hùng và Thanh Sơn (Phú Thọ) để nhân nuôi tạo nguồn ấu trùng tuổi 3. Thí nghiệm nghiên cứu sử dụng tuyến trùng ký sinh gây bệnh côn trùng (EPN) gồm 2 loài Heterorhabditis indica, Steinernema quangdongense được lấy từ nguồn giống của Phòng Tuyến trùng học, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật. 2.2 Phƣơng pháp nghiên cứu - Nhân nuôi tạo nguồn ấu trùng tuổi 3 Mọt đục thân E. fornicatus Các cá thể trưởng thành Mọt E. fornicatus sau khi được thu ngoài hiện trường tiến hành thả vào ống falcon (đường kính 5cm, dài 12cm) chứa môi trường nhân tạo (mùn cưa gỗ cây chủ bị hại, agar, đường mía, tinh bột mì, men bánh, casin, dầu mầm lúa mì, ethanol và nước khử ion) đặt ở nhiệt độ 27 o C và độ ẩm 78-82%. Theo dõi khi trưởng thành bắt đầu đẻ trứng thì tiến hành lấy trứng đặt sang ống falcon khác. Trứng nở thành ấu trùng và sau 2 lần lột xác thu được ấu trùng tuổi 3 Mọt đục thân (ATM) - Phương pháp đánh giá hiệu lực Mật độ ấu trùng của hai loài tuyến trùng ký sinh gây bệnh côn trùng (IJs) được pha loãng và cô đặc có liều lượng 300IJs/ml, 600IJs/ml và 900IJs/ml. Lấy 1 ml dung dịch chứa IJs với liều lượng mong muốn nhỏ vào giấy lọc Whatman No1 đường kính 60mm được đặt trong đĩa petri Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV - Số 5/2019 17 nhựa đường kính 60mm, sau đó đặt vào đĩa petri 30 ATM, đậy nắp, dán nhãn và để đĩa petri ở trong tủ định ôn 27 o C, độ ẩm 78-82%. Thí nghiệm được thực hiện với 7 công thức, mỗi công thức thí nghiệm thực hiện 2 đĩa Petri và lặp lại 2 lần. CT1: 300 IJs H. indica/ 30 ATM/ đĩa petri CT2: 600 IJs H. indica/ 30 ATM/ đĩa petri CT3: 900 IJs H. indica/ 30 ATM/ đĩa petri CT4: 300 IJs S. quangdongense/ 30 ATM/ đĩa petri CT5: 600 IJs S. quangdongense/ 30 ATM/ đĩa petri CT6: 900 IJs S. quangdongense/ 30 ATM/ đĩa petri CT7(đc): không sử dụng tuyến trùng Theo dõi định kỳ 1 ngày/lần trong thời gian 10 ngày để xác định số lượng ATM bị ký sinh do IJs của loài H. indica và S. quangdongense ở mỗi công thức. - Phương pháp đánh giá khả năng nhân sinh khối của tuyến trùng gây bệnh ATM bị ký sinh do H. indica và S. quangdongense sau 10 ngày lây nhiễm IJs được cho vào bẫy nước white trap, đặt giấy lọc Whatman No1 đường kính 90mm trên mặt lõm đĩa đồng hồ trong đĩa petri thủy tinh lớn 150×20mm đã được khử trùng ở nhiệt độ 121 o C. Đặt giấy lọc lên trên mặt lõm đĩa đồng hồ và gập mép giấy ngược về phía đáy đĩa, sao cho khi đặt vào đĩa petri chứa dung dịch mép giấy tiếp xúc với bề mặt dung dịch. Thí nghiệm lấy ngẫu nhiên 10 ATM bị ký sinh ở mỗi công thức để đánh giá xác định số lượng IJs thu được. Thí nghiệm thực hiện 3 lần lặp lại. Thời gian thu bẫy IJs sau 14 ngày, cách 01 ngày lại thu bẫy IJs 01 lần. Tổng số lượng IJs ở mỗi công thức thí nghiệm được đếm dưới kính hiển vi soi nổi Zeiss Stemi 305. CT1: 10 ATM bị ký sinh ở liều lượng 300 IJs H. indica/ml/đĩa đồng hồ CT2: 10 ATM bị ký sinh ở liều lượng 600 IJs H. indica/ml/đĩa đồng hồ CT3: 10 ATM bị ký sinh ở liều lượng 900 IJs H. indica/ml/đĩa đồng hồ CT4: 10 ATM bị ký sinh ở liều lượng 300 IJs S. quangdongense/ml/đĩa đồng hồ CT5: 10 ATM bị ký sinh ở liều lượng 600 IJs S. quangdongense/ml đĩa đồng hồ CT6: 10 ATM bị ký sinh ở liều lượng 900 IJs S. quangdongense/ml/đĩa đồng hồ Xử lý số liệu, đánh giá khả năng ký sinh gây bệnh và nhân sinh khối EPNs trong ký chủ ATM bằng Excel. 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Hiệu lực của tuyến trùng ký sinh gây bệnh với ATM Triệu chứng ký sinh của H. indica đối với ATM: Sau thời gian gây nhiễm 2 ngày đã phát hiện ATM bị IJs ký sinh. Lúc đầu mới bị nhiễm cơ thể ATM có màu hồng nhạt và chuyển dần thành màu đỏ gạch đến sẫm ở pha nhộng sau 7 ngày bị ký sinh (hình 1). A. ATM bị H. indica ký sinh ngày thứ 2 B. ATM bị H. indica ký sinh chuyển thành nhộng ở ngày thứ 4 C. ATM bị H. indica ký sinh chuyển thành nhộng ở ngày thứ 7 Hình 1. ATM và nhộng Mọt đục thân bị H. indica ký sinh theo thời gian A B C Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV - Số 5/2019 18 Khác với H. indica, thời gian bắt đầu thấy IJs loài S. quangdongense ký sinh ở ngày thứ 4 và màu sắc cơ thể ATM bị ký sinh có màu nâu sẫm (hình 2) A. ATM bị tuyến trùng S. quangdongense ký sinh B. ATM làm thí nghiệm Hình 2. ATM bị S. quangdongense ký sinh và ATM làm thí nghiệm Thí nghiệm sử dụng IJs loài H. indica và S. quangdongense để kiểm soát mật độ quần thể ATM được thực hiện ở điệu kiện nhiệt độ, độ ẩm phòng thí nghiệm từ tháng 6 đến tháng 11 năm 2018 và từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2019. Xử lý số liệu thu được ở 7 công thức thí nghiệm cho kết quả thể hiện ở bảng 1. Bảng 1. Hiệu lực ký sinh của IJs loài H. indica và S. quangdongense đối với ký chủ ATM sau 10 ngày lây nhiễm Công thức thí nghiệm Số lượng ATM bị IJs loài H. indica ký sinh Số lượng ATM bị IJs loài S. quangdongense ký sinh Ấu trùng/lần nhắc lại Tỷ lệ bị ký sinh (%) Ấu trùng/lần nhắc lại Tỷ lệ bị ký sinh (%) CT1 14,3 48,56 CT2 19,5 65,00 CT3 17,6 58,67 CT4 5,8 19,33 CT5 6,3 21,00 CT6 6,7 23,33 CT7(ĐC) 0 0 0 0 Số liệu ở bảng 1 cho thấy: ở các liều lượng IJs thí nghiệm khác nhau cho số lượng ATM bị ký sinh là khác nhau. Tỷ lệ ATM bị IJs loài H. indica ký sinh ở CT1, CT2 và CT3 dao động từ 48,56% đến 65,0%. Trong đó, tỷ lệ cao nhất ở CT2 là 65% tương ứng với số lượng ATM bị ký sinh là 19,5 ấu trùng/lần nhắc lại, thấp nhất ở CT1 chỉ 48,56% tương ứng với có 14,3 ấu trùng/lần nhắc lại. Đối với loài S. quangdongense, số lượng ATM bị ký sinh ít hơn so với loài H. indica. Ở CT4, CT5 và CT6 lần lượt là 5,8; 6,3 và 6,7 ấu trùng/lần nhắc lại tương ứng tỷ lệ bị ký sinh lần lượt là 19,33%; 21,0% và 23,33%. Ở công thức CT7(ĐC) (đối chứng) không phát hiện thấy ATM bị tuyến trùng ký sinh. So sánh đánh giá kết quả thí nghiệm sử dụng 2 loài H. indica và S. quangdongense ở trong phòng thí nghiệm ở cùng liều lượng nhiễm IJs và điều kiện môi trường cho thấy loài H. indica có A B Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV - Số 5/2019 19 khả năng ký sinh xâm nhiễm đối với ATM cao hơn so với loài S. quangdongense. Hiện nay những nghiên cứu về khả năng gây chết của tuyến trùng ký sinh gây bệnh côn trùng trên Mọt đục thân E. fornicatus chưa được thực hiện ở Việt Nam cũng như trên thế giới. Nghiên cứu trước đây ở Việt Nam trong sử dụng EPNs được thực hiện trên bọ hung, dế, sâu đục thân cam chanh và một số loài sâu hại rau cho kết quả khả quan (Nguyễn Ngọc Châu, 2008). Tỷ lệ gây chết của EPNs đối với ATM này đạt đến 65% cho thấy EPNs có tiềm năng trong quản lý sinh học đối với Mọt đục thân E. fornicatus. 3.2 Khả năng nhân sinh khối của EPNs trong ký chủ ATM Số liệu thu thập được về khả năng nhân sinh khối loài H. indica, và S. quangdongense được thể hiện ở bảng 2. Bảng 2. Số lƣợng trung bình IJs của 2 loài H. indica và S. quangdongense từ ký chủ ATM sau 10 ngày lây nhiễm Công thức thí nghiệm Số lượng tuyến trùng thu được (IJs/lần nhắc lại) H. indica S. quangdongense CT1 42.198,3 CT2 51.093,3 CT3 43.055,6 CT4 2.455,6 CT5 2.430,3 CT6 2.420,3 Kết quả ở bảng 2 cho thấy: 2 loài EPNs có số lượng trung bình IJs thu được tương đối lớn. Số lượng IJs loài H. indica ở cùng công thức liều lượng thí nghiệm lớn hơn rất nhiều so với số lương IJs loài S. quangdongense. Giữa các công thức thí nghiệm CT1, CT2 và CT3 sau 4 lần bẫy có sự chệnh lệch tương đối khác biệt về số lượng IJs thu được. Ở công CT2 số lượng IJs thu được lớn nhất 51.093,3 IJs/lần nhắc lại, ở CT3 số lượng trung bình IJs là 43.055,6 IJs/lần nhắc lại và thấp nhất ở CT1 chỉ 42.198,3 IJs/lần nhắc lại. So sánh số lượng trung bình IJs loài S. quangdongense thu được ở cả 3 công thức không có sự chênh lệch lớn. Số lượng IJs sau 3 lần bẫy ở CT4, CT5 và CT6 lần lượt là 2.455,6; 2.430,3 và 2.420,3 IJs/lần nhắc lại. Khả năng nhân sinh khối của EPNs là yếu tố quyết định đến sản xuất chế phẩm sinh học tuyến trùng. Một trong những ưu thế của EPNs trong phòng trừ sâu hại là khả năng sinh sản của chúng rất cao và chúng có thể được sản xuất và nhân sinh khối lớn bằng vật liệu côn trùng sống (in vivo) hoặc bằng môi trường nhân tạo (invitro) (Nguyễn Ngọc Châu, 2008). Tuy nhiên khả năng sinh sản của mỗi chủng/loài EPNs là khác nhau và phụ thuộc vào ký chủ mà EPNs ký sinh (Campos-Herrera, 2015). Trong nghiên cứu của chúng tôi cho thấy khả năng nhân sinh khối trung bình của loài H. indica tương đối cao 51.09,3 IJx/10 ATM. Vì kích thước của Mọt rất nhỏ nên dinh dưỡng để EPNs hoàn thành vòng đời tương đối nhanh để tạo ra IJs nên khả năng phát tán ra môi trường tìm vật chủ mới của IJs sẽ thích hợp đối với biện pháp quản lý sinh học (Campos- Herrera, 2015). Sinh sản của các loài thuộc giống Heterorhabditis thường cao hơn so với các loài Steinernema (Nguyễn Ngọc Châu, 2008), tương tự như trong nghiên cứu của chúng tôi cho thấy loài H. indica có khả năng nhân sinh khối cao hơn so với loài S. quangdongense. Do vậy, loài H. indica trong nghiên cứu của chúng tôi có thể Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV - Số 5/2019 20 được sử dụng trong quản lý phòng chống sinh học đối với Mọt đục thân E. fornicatus. 4. KẾT LUẬN - Tỷ lệ ATM bị ký sinh do loài H. indica ở liều lượng thí nghiệm 600 IJs/ml là cao nhất và là 65,0%; chỉ tiêu này thấp nhất ở liều lượng 300 IJs/ml chỉ đạt 48,56% và ở liều lượng 900 IJs/ml đạt 58,67%. - Loài S. quangdongense ở các liều lượng thí nghiệm 300, 600 và 900 IJs/ml có tỷ lệ bị kí sinh của ATM lần lượt đạt từ 19,33%, 21,0% và 22,33%. Hiệu lực trong phòng thí nghiệm của tuyến trùng H. indica đối với ATM ở liều lượng 600IJs/ml cho kết quả tốt nhất. Đây có thể là liều lượng để thử nghiệm đối với loài Mọt đục thân này ở ngoài tự nhiên. - Loài H. indica ký sinh gây bệnh trên ATM có khả năng nhân sinh khối cao nhất ở liều lượng 600 IJs/ml với số lượng 51.093,3 IJs/lần nhắc lại so với 43.055,6 IJs/lần nhắc lại ở liều lượng 900 IJs/ml và thấp nhất 42.198,3 IJs/lần nhắc lại ở liều lượng 300IJs/ml. Khả năng nhân sinh khối của loài S.quangdongense trên ATM thấp hơn nhiều so với khả năng nhân sinh khối của loài H. Indica. Ở các liều lượng tuyến trùng lây nhiễm đã thí nghiệm, số lượng IJs thu được chỉ đạt từ 2.420,3 IJs/lần nhắc lại đến 2.455,6 IJs/lần nhắc lại. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Báo cáo kết quả đề tài “Nghiên cứu, xác định biện pháp kỹ thuật phòng trừ sâu, bệnh hại chính Keo tai tượng (Accacia mangium Willd.) và keo lại (A. mangium x A. auriculiformis) tại tỉnh Phú Thọ” năm 2018. 2. Campos-Herrera, R. (Ed.), 2015. Nematode pathogenesis of insects and other pests. Dordrecht, The Netherlands, Springer.DOI: 10.1007/978-3-319- 18266-7. 3. Nguyễn Ngọc Châu, 2008. Tuyến trùng ký sinh gây bệnh côn trùng ở Việt Nam. NXB KH&CN. 4. Eskalen, A., 2013. Host Range of Fusarium Dieback and Its Ambrosia Beetle (Coleoptera: Scolytinae) Vector in Southern Cakifornia. Plant Disease 97: 938- 951. 5. Floyd, J., 2012. Confirmed ID: culture confirmed positive for Fusarium sp. un-named from CA avocado new US record. Email from Joel Floyd, PPQ NIS, to PPQ EDP LT and others on April 23, 2012. 7. Grewal. P.S., Ehlers R-U, Shapiro-Ilan DI., 2005a. Nematodes as biological control agents. Wallingford: CABI Publishing. 7. Mendel, Z., A. Protasov, M. Sharon, A. Zveibil, S. Ben Yehuda, K. O’Donnell, R.J. Rabaglia, M. Wysoki, and S. Freeman, 2012. An Asian ambrosia beetle Euwallacea fornicatus and its novel symbiotic fungus Fusarium sp. Pose a serious threat to the Israel avocado industry. Phytoparasitica, DOI: 10. 1007/s 12600- 012- 0223-7. 8. Lewis, E.E., Clarke, D.J., 2012. Nematode parasites and entomopathogens. In: Vega, F.E., Kaya, H.K (Eds.), Insect Pathology, second ed. Elsevier, Amsterdam, pp. 395-424. 9. Shapiro-Ilan, D.l., Gouge, D.H., Koppenhӧfer, A.M., 2002. Factor affecting commercial success: case studies in cotton, turf and citrus in: Gaugler, R. (Ed.), Entomopathogenic Nematology. CABI, New York, NY, pp. 333-356. 10. Shapiro-Ilan, D.l., Contrell, T.E., Mizell III. R.F., Horton, D.L, Behle, R.W., Dunlap, C.A., 2010. Efficacy of Steinernema carpocapsae for control of the lesser peachtree borer, Synanthedon pictipes: improved aboveground suppression with a novel gel application. Biol. Control 54, 23- 28. 11. Shapiro-Ilan, D.l., Contrell, T.E., Mizell III. R.F., Horton, D.L, Zaid, A., 2015. Field suppression of the peachtree borer, Synanthedon exitiosa, using Steinernema carpocapsae: effects of irrigation, a sprayable gel and application method. Biol. Control 82, 7- 12. 12. Tom.W.Coleman, Eskalen.A, Richard. S., 2013. New Pest Complex in California: The polyphagous Shot Hole Borer, Euwallacea sp., and Fusarium Dieback, Fusarium euwallaceae. USDA, Pest alert, November 4, 2013. Phản biện: GS.TS. NCVCC. Phạm Văn Lầm

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfhieu_luc_trong_phong_thi_nghiem_cua_tuyen_trung_gay_benh_con.pdf
Tài liệu liên quan