KẾT LUẬN
- Tỷ lệ ATM bị ký sinh do loài H. indica ở liều
lượng thí nghiệm 600 IJs/ml là cao nhất và là
65,0%; chỉ tiêu này thấp nhất ở liều lượng 300
IJs/ml chỉ đạt 48,56% và ở liều lượng 900 IJs/ml
đạt 58,67%.
- Loài S. quangdongense ở các liều lượng thí
nghiệm 300, 600 và 900 IJs/ml có tỷ lệ bị kí sinh
của ATM lần lượt đạt từ 19,33%, 21,0% và
22,33%. Hiệu lực trong phòng thí nghiệm của
tuyến trùng H. indica đối với ATM ở liều lượng
600IJs/ml cho kết quả tốt nhất. Đây có thể là liều
lượng để thử nghiệm đối với loài Mọt đục thân
này ở ngoài tự nhiên.
- Loài H. indica ký sinh gây bệnh trên ATM có
khả năng nhân sinh khối cao nhất ở liều lượng
600 IJs/ml với số lượng 51.093,3 IJs/lần nhắc lại
so với 43.055,6 IJs/lần nhắc lại ở liều lượng 900
IJs/ml và thấp nhất 42.198,3 IJs/lần nhắc lại ở
liều lượng 300IJs/ml.
Khả năng nhân sinh khối của loài
S.quangdongense trên ATM thấp hơn nhiều so
với khả năng nhân sinh khối của loài H. Indica. Ở
các liều lượng tuyến trùng lây nhiễm đã thí
nghiệm, số lượng IJs thu được chỉ đạt từ 2.420,3
IJs/lần nhắc lại đến 2.455,6 IJs/lần nhắc lại.
6 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 13 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Hiệu lực trong phõng thí nghiệm của tuyến trùng gây bệnh côn trùng đối với mọt đục thân (euwallacea fornicatus) hại keo tai tượng và keo lai, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV - Số 5/2019
15
trì tính kháng cao với Imidacloprid mặc dù tần
suất tiếp xúc với hoạt chất này là không cao.
Nhưng bên cạnh đó cũng không loại trừ các khả
năng về sự xuất hiện của đột biến điểm Y151S
(Liu và cộng sự, 2004) hoặc sự hiện diện của
gene kháng khác như CYP6ER1 (Ruoheng Jin
và cộng sự, 2019).
4.2 Đề nghị
Tiếp tục thực hiện các thí nghiệm theo dõi tính
kháng hoạt chất thuốc Imidacloprid của rầy nâu
qua các năm.
Khảo sát sự hiện diện của gene kháng
Imidacloprid trên các quần thể rầy nâu tại tỉnh
Tiền Giang.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Cục BVTV, 2007. Báo cáo tình hình và kết quả
thực hiện công tác phòng chống rầy nâu, bệnh vàng lùn,
lùn xoắn lá trên lúa các tỉnh, thành phía Nam năm 2006.
2. Liu và cộng sự, 2004. A nicotinic acetylcholine
receptor mutation conferring target-site resistance to
Imidacloprid in Nilaparvata lugens (brown planthopper).
3. Matsumura và ctv, 2008. Species-specific
insecticide resistance to Imidacloprid and Fipronil in the
rice planthoppers Nilaparvata lugens and Sogatella
furcifera in East and South-east Asia. Pest Manag Sci.
2008; số 64, trang 1115 - 1121.
4. Nguyễn Thị Nhật Phương, 2017. Đánh giá khả
năng kháng thuốc của rầy nâu (Nilaparvata lugens Stål)
đối với các hoạt chất Imidacloprid, Fenobucard,
Profenofos tại các tỉnh Tiền Giang, An Giang và Cần
Thơ. Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành BVTV. Đại học
Nông Lâm Tp. Hồ Chí Minh.
5. Phan Văn Tương, 2013. Nghiên cứu khả năng
kháng thuốc của rầy nâu (Nilaparvata lugens Stål) đối
với các hoạt chất thuốc trừ sâu Fenobucarb, Fipronil và
Imidacloprid tại Đồng bằng sông Cửu Long. Luận án
Tiến sĩ chuyên ngành BVTV, Đại học Nông Lâm Tp.
HCM, 135 trang.
6. Phùng Minh Lộc, Trần Thanh Tùng, Lê Thị Diệu
Trang, Hồ Thị Thu Giang và Taro Adati, 2016. Đánh giá
hiệu lực phòng trừ rầy nâu hại lúa (Nilaparvata lugens
Stål.) của một số thuốc trừ sâu. Tạp chí chuyên ngành
BVTV số 4/2016, trang 37 - 43.
7. Ruoheng Jin và cộng sự, 2019. Overexpression
of CYP6ER1 associated with clothianidin resistance in
Nilaparvata lugens (Stål)
Phản biện: TS. Đào Bách Khoa
HIỆU LỰC TRONG PHÕNG THÍ NGHIỆM CỦA TUYẾN TRÙNG GÂY BỆNH
CÔN TRÙNG ĐỐI VỚI MỌT ĐỤC THÂN (Euwallacea fornicatus)
HẠI KEO TAI TƢỢNG VÀ KEO LAI
Laboratory Efficacy of EPNs to Euwallacea fornicatus Damaging
on Accacia mangium and Accacia Hybrid
Bùi Quang Tiếp
1
, Trịnh Quang Pháp
2
Ngày nhận bài: 02.7.2019 Ngày chấp nhận: 13.8.2019
Abstract
Polyphagous shot-hole borer Euwallacea fornicatus (Eichhoff) (Coleoptera, Curculionidae: Scolytinae)
damages not only on forest trees but also on plants and landscape trees around the world. The experiment was
used two entomopathogenic nematode (EPN) species
Heterorhabditis indica and Steinernema
quangdongense to control the third larvae of
1. Trung tâm Nghiên cứu Bảo vệ rừng.
2. Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật
Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV - Số 5/2019
16
E. fornicatus under lab conditions. The higher mortality of third larvae caused by infective juveniles (IJs) H. indica
than S. quangdongense. Results of the experiments were exposed: H. indica is more effective than S.
quangdongense. The efficacies of H. indica to third larvae at treatment dose of 300, 600 and 900 IJs/ml were
58.67%, 65.0% and 48.56% respectively during 10 days treatment. Meanwhile, with S. quangdongens, the figures
are 19.33% (300 IJs/ml), 21.0% (600 IJs/ml) and 23.33 per cent (900 IJs/ml); The highest IJ yields of H. indica in
the third parasitised larvae host in 19.5 individuals at 600 IJs/ml (CT2). Based on results of the experiment, an IJ
application dosage of H. indica for biological control of shot-hole borer Euwallacea fornicatus was proposed.
Keywords: efficacy, Heterorhabditis indica, Steinernema quangdongense, Third larva of Euwallacea
fornicatus.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Mọt đục thân Euwallacea fornicatus (Eichhoff)
(Coleoptera, Curculionidae: Scolytinae), có
nguồn gốc từ Đông Nam Á, là loài hại chính đối
với cây trồng ở một số khu vực như châu Phi,
châu Úc, Bangladesh, Ấn độ, Indonesia, Nhật
bản, Lào, Malaysia, Myanmar, Philippines,
Srilanka và Việt Nam. Đến nay nó đã xuất hiện ở
nhiều quốc gia trên thế giới và không chỉ gây hại
trên cây lâm nghiệp mà còn cả cây nông nghiệp
và cây đường phố (Eskalen et al., 2013). Do tập
tính sống của E. fornicatus mang một số loài nấm
cộng sinh Fusarium spp. nên là một trong những
nguyên nhân phát tán các loài nấm bệnh này và
gây bệnh chết ngược đối với một số loài cây có
giá trị thương mại ở California và Israel (Floyd,
2012; Mendel et al., 2012; Tom et al., 2013). Ở
Việt Nam theo kết quả điều tra nghiên cứu của
chúng tôi, hiện nay loài Mọt E. fornicatus được
xác định là sâu hại chính đối với Keo tai tượng
và keo lai tại Phú Thọ (Báo cáo đề tài, 2018).
Cần có giải pháp hữu hiệu ngăn chặn sự lây
lan của loài Mọt đục thân này. Phương pháp
quản lý sinh học đang được các nhà nghiên cứu
quan tâm sử dụng trong kiểm soát sâu hại và
hướng đến giảm sự phụ thuộc vào sử dụng
thuốc hóa học (Shapiro-Ilan et al., 2010, 2015).
Tuyến trùng ký sinh gây bệnh côn trùng (EPN)
đang được áp dụng phổ biến như là tác nhân
sinh học phòng chống một số loài sâu hại trên
thế giới (Shapiro-Ilan et al., 2002; Grewal et al.,
2005). EPN thuộc 2 giống Heterorhabditis và
Steinernema có các vi khuẩn cộng sinh như
Xenorhabdus spp. và Photorhabdus spp. xâm
nhập qua lỗ thở trên cơ thể ấu trùng côn trùng
sau đó vào khoang máu để ký sinh giết chết ký
chủ (Lewis, Clarke, 2012). Bài viết này cung cấp
kết quả đánh giá trong phòng thí nghiệm về khả
năng gây chết của hai loài Heterorhabditis indica
và Steinernema quangdongense đối với Mọt đục
thân E. fornicatus hại Keo tai tượng và keo lai.
2. VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Vật liệu nghiên cứu
Trưởng thành Mọt đục thân E. fornicatus hại
Keo tai tượng và keo lai ở Đoan Hùng và Thanh
Sơn (Phú Thọ) để nhân nuôi tạo nguồn ấu trùng
tuổi 3.
Thí nghiệm nghiên cứu sử dụng tuyến trùng
ký sinh gây bệnh côn trùng (EPN) gồm 2 loài
Heterorhabditis indica, Steinernema
quangdongense được lấy từ nguồn giống của
Phòng Tuyến trùng học, Viện Sinh thái và Tài
nguyên sinh vật.
2.2 Phƣơng pháp nghiên cứu
- Nhân nuôi tạo nguồn ấu trùng tuổi 3 Mọt đục
thân E. fornicatus
Các cá thể trưởng thành Mọt E. fornicatus
sau khi được thu ngoài hiện trường tiến hành thả
vào ống falcon (đường kính 5cm, dài 12cm) chứa
môi trường nhân tạo (mùn cưa gỗ cây chủ bị hại,
agar, đường mía, tinh bột mì, men bánh, casin,
dầu mầm lúa mì, ethanol và nước khử ion) đặt ở
nhiệt độ 27
o
C và độ ẩm 78-82%. Theo dõi khi
trưởng thành bắt đầu đẻ trứng thì tiến hành lấy
trứng đặt sang ống falcon khác. Trứng nở thành
ấu trùng và sau 2 lần lột xác thu được ấu trùng
tuổi 3 Mọt đục thân (ATM)
- Phương pháp đánh giá hiệu lực
Mật độ ấu trùng của hai loài tuyến trùng ký
sinh gây bệnh côn trùng (IJs) được pha loãng và
cô đặc có liều lượng 300IJs/ml, 600IJs/ml và
900IJs/ml. Lấy 1 ml dung dịch chứa IJs với liều
lượng mong muốn nhỏ vào giấy lọc Whatman
No1 đường kính 60mm được đặt trong đĩa petri
Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV - Số 5/2019
17
nhựa đường kính 60mm, sau đó đặt vào đĩa petri
30 ATM, đậy nắp, dán nhãn và để đĩa petri ở
trong tủ định ôn 27
o
C, độ ẩm 78-82%. Thí
nghiệm được thực hiện với 7 công thức, mỗi
công thức thí nghiệm thực hiện 2 đĩa Petri và lặp
lại 2 lần.
CT1: 300 IJs H. indica/ 30 ATM/ đĩa petri
CT2: 600 IJs H. indica/ 30 ATM/ đĩa petri
CT3: 900 IJs H. indica/ 30 ATM/ đĩa petri
CT4: 300 IJs S. quangdongense/ 30 ATM/
đĩa petri
CT5: 600 IJs S. quangdongense/ 30 ATM/
đĩa petri
CT6: 900 IJs S. quangdongense/ 30 ATM/
đĩa petri
CT7(đc): không sử dụng tuyến trùng
Theo dõi định kỳ 1 ngày/lần trong thời gian 10
ngày để xác định số lượng ATM bị ký sinh do IJs
của loài H. indica và S. quangdongense ở mỗi
công thức.
- Phương pháp đánh giá khả năng nhân sinh
khối của tuyến trùng gây bệnh
ATM bị ký sinh do H. indica và S.
quangdongense sau 10 ngày lây nhiễm IJs được
cho vào bẫy nước white trap, đặt giấy lọc
Whatman No1 đường kính 90mm trên mặt lõm
đĩa đồng hồ trong đĩa petri thủy tinh lớn
150×20mm đã được khử trùng ở nhiệt độ 121
o
C.
Đặt giấy lọc lên trên mặt lõm đĩa đồng hồ và gập
mép giấy ngược về phía đáy đĩa, sao cho khi đặt
vào đĩa petri chứa dung dịch mép giấy tiếp xúc
với bề mặt dung dịch. Thí nghiệm lấy ngẫu nhiên
10 ATM bị ký sinh ở mỗi công thức để đánh giá
xác định số lượng IJs thu được. Thí nghiệm thực
hiện 3 lần lặp lại. Thời gian thu bẫy IJs sau 14
ngày, cách 01 ngày lại thu bẫy IJs 01 lần. Tổng
số lượng IJs ở mỗi công thức thí nghiệm được
đếm dưới kính hiển vi soi nổi Zeiss Stemi 305.
CT1: 10 ATM bị ký sinh ở liều lượng 300 IJs
H. indica/ml/đĩa đồng hồ
CT2: 10 ATM bị ký sinh ở liều lượng 600 IJs
H. indica/ml/đĩa đồng hồ
CT3: 10 ATM bị ký sinh ở liều lượng 900 IJs
H. indica/ml/đĩa đồng hồ
CT4: 10 ATM bị ký sinh ở liều lượng 300 IJs
S. quangdongense/ml/đĩa đồng hồ
CT5: 10 ATM bị ký sinh ở liều lượng 600 IJs
S. quangdongense/ml đĩa đồng hồ
CT6: 10 ATM bị ký sinh ở liều lượng 900 IJs
S. quangdongense/ml/đĩa đồng hồ
Xử lý số liệu, đánh giá khả năng ký sinh gây
bệnh và nhân sinh khối EPNs trong ký chủ ATM
bằng Excel.
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Hiệu lực của tuyến trùng ký sinh gây
bệnh với ATM
Triệu chứng ký sinh của H. indica đối với
ATM: Sau thời gian gây nhiễm 2 ngày đã phát
hiện ATM bị IJs ký sinh. Lúc đầu mới bị nhiễm cơ
thể ATM có màu hồng nhạt và chuyển dần thành
màu đỏ gạch đến sẫm ở pha nhộng sau 7 ngày
bị ký sinh (hình 1).
A. ATM bị H. indica
ký sinh ngày thứ 2
B. ATM bị H. indica ký sinh
chuyển thành nhộng ở
ngày thứ 4
C. ATM bị H. indica ký sinh
chuyển thành nhộng ở
ngày thứ 7
Hình 1. ATM và nhộng Mọt đục thân bị H. indica ký sinh theo thời gian
A B C
Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV - Số 5/2019
18
Khác với H. indica, thời gian bắt đầu thấy IJs loài S. quangdongense ký sinh ở ngày thứ 4 và màu
sắc cơ thể ATM bị ký sinh có màu nâu sẫm (hình 2)
A. ATM bị tuyến trùng S. quangdongense
ký sinh
B. ATM làm thí nghiệm
Hình 2. ATM bị S. quangdongense ký sinh và ATM làm thí nghiệm
Thí nghiệm sử dụng IJs loài H. indica và S.
quangdongense để kiểm soát mật độ quần thể
ATM được thực hiện ở điệu kiện nhiệt độ, độ ẩm
phòng thí nghiệm từ tháng 6 đến tháng 11 năm
2018 và từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2019. Xử lý
số liệu thu được ở 7 công thức thí nghiệm cho
kết quả thể hiện ở bảng 1.
Bảng 1. Hiệu lực ký sinh của IJs loài H. indica và S. quangdongense đối với
ký chủ ATM sau 10 ngày lây nhiễm
Công thức
thí nghiệm
Số lượng ATM bị IJs loài
H. indica ký sinh
Số lượng ATM bị IJs loài
S. quangdongense ký sinh
Ấu trùng/lần
nhắc lại
Tỷ lệ bị ký sinh
(%)
Ấu trùng/lần
nhắc lại
Tỷ lệ bị ký sinh
(%)
CT1 14,3 48,56
CT2 19,5 65,00
CT3 17,6 58,67
CT4 5,8 19,33
CT5 6,3 21,00
CT6 6,7 23,33
CT7(ĐC) 0 0 0 0
Số liệu ở bảng 1 cho thấy: ở các liều lượng
IJs thí nghiệm khác nhau cho số lượng ATM bị
ký sinh là khác nhau. Tỷ lệ ATM bị IJs loài H.
indica ký sinh ở CT1, CT2 và CT3 dao động từ
48,56% đến 65,0%. Trong đó, tỷ lệ cao nhất ở
CT2 là 65% tương ứng với số lượng ATM bị ký
sinh là 19,5 ấu trùng/lần nhắc lại, thấp nhất ở
CT1 chỉ 48,56% tương ứng với có 14,3 ấu
trùng/lần nhắc lại.
Đối với loài S. quangdongense, số lượng
ATM bị ký sinh ít hơn so với loài H. indica. Ở
CT4, CT5 và CT6 lần lượt là 5,8; 6,3 và 6,7 ấu
trùng/lần nhắc lại tương ứng tỷ lệ bị ký sinh lần
lượt là 19,33%; 21,0% và 23,33%.
Ở công thức CT7(ĐC) (đối chứng) không phát
hiện thấy ATM bị tuyến trùng ký sinh.
So sánh đánh giá kết quả thí nghiệm sử dụng
2 loài H. indica và S. quangdongense ở trong
phòng thí nghiệm ở cùng liều lượng nhiễm IJs và
điều kiện môi trường cho thấy loài H. indica có
A B
Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV - Số 5/2019
19
khả năng ký sinh xâm nhiễm đối với ATM cao
hơn so với loài S. quangdongense.
Hiện nay những nghiên cứu về khả năng gây
chết của tuyến trùng ký sinh gây bệnh côn trùng
trên Mọt đục thân E. fornicatus chưa được thực
hiện ở Việt Nam cũng như trên thế giới. Nghiên
cứu trước đây ở Việt Nam trong sử dụng EPNs
được thực hiện trên bọ hung, dế, sâu đục thân
cam chanh và một số loài sâu hại rau cho kết
quả khả quan (Nguyễn Ngọc Châu, 2008). Tỷ lệ
gây chết của EPNs đối với ATM này đạt đến 65%
cho thấy EPNs có tiềm năng trong quản lý sinh
học đối với Mọt đục thân E. fornicatus.
3.2 Khả năng nhân sinh khối của EPNs
trong ký chủ ATM
Số liệu thu thập được về khả năng nhân sinh
khối loài H. indica, và S. quangdongense được
thể hiện ở bảng 2.
Bảng 2. Số lƣợng trung bình IJs của 2 loài H. indica và S. quangdongense
từ ký chủ ATM sau 10 ngày lây nhiễm
Công thức thí nghiệm Số lượng tuyến trùng thu được (IJs/lần nhắc lại)
H. indica S. quangdongense
CT1 42.198,3
CT2 51.093,3
CT3 43.055,6
CT4 2.455,6
CT5 2.430,3
CT6 2.420,3
Kết quả ở bảng 2 cho thấy: 2 loài EPNs có số
lượng trung bình IJs thu được tương đối lớn. Số
lượng IJs loài H. indica ở cùng công thức liều
lượng thí nghiệm lớn hơn rất nhiều so với số
lương IJs loài S. quangdongense.
Giữa các công thức thí nghiệm CT1, CT2 và
CT3 sau 4 lần bẫy có sự chệnh lệch tương đối
khác biệt về số lượng IJs thu được. Ở công CT2
số lượng IJs thu được lớn nhất 51.093,3 IJs/lần
nhắc lại, ở CT3 số lượng trung bình IJs là
43.055,6 IJs/lần nhắc lại và thấp nhất ở CT1 chỉ
42.198,3 IJs/lần nhắc lại.
So sánh số lượng trung bình IJs loài S.
quangdongense thu được ở cả 3 công thức
không có sự chênh lệch lớn. Số lượng IJs sau 3
lần bẫy ở CT4, CT5 và CT6 lần lượt là 2.455,6;
2.430,3 và 2.420,3 IJs/lần nhắc lại.
Khả năng nhân sinh khối của EPNs là yếu tố
quyết định đến sản xuất chế phẩm sinh học
tuyến trùng. Một trong những ưu thế của EPNs
trong phòng trừ sâu hại là khả năng sinh sản của
chúng rất cao và chúng có thể được sản xuất và
nhân sinh khối lớn bằng vật liệu côn trùng sống
(in vivo) hoặc bằng môi trường nhân tạo (invitro)
(Nguyễn Ngọc Châu, 2008). Tuy nhiên khả năng
sinh sản của mỗi chủng/loài EPNs là khác nhau
và phụ thuộc vào ký chủ mà EPNs ký sinh
(Campos-Herrera, 2015). Trong nghiên cứu của
chúng tôi cho thấy khả năng nhân sinh khối trung
bình của loài H. indica tương đối cao 51.09,3
IJx/10 ATM. Vì kích thước của Mọt rất nhỏ nên
dinh dưỡng để EPNs hoàn thành vòng đời tương
đối nhanh để tạo ra IJs nên khả năng phát tán ra
môi trường tìm vật chủ mới của IJs sẽ thích hợp
đối với biện pháp quản lý sinh học (Campos-
Herrera, 2015). Sinh sản của các loài thuộc giống
Heterorhabditis thường cao hơn so với các loài
Steinernema (Nguyễn Ngọc Châu, 2008), tương
tự như trong nghiên cứu của chúng tôi cho thấy
loài H. indica có khả năng nhân sinh khối cao
hơn so với loài S. quangdongense. Do vậy, loài
H. indica trong nghiên cứu của chúng tôi có thể
Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV - Số 5/2019
20
được sử dụng trong quản lý phòng chống sinh
học đối với Mọt đục thân E. fornicatus.
4. KẾT LUẬN
- Tỷ lệ ATM bị ký sinh do loài H. indica ở liều
lượng thí nghiệm 600 IJs/ml là cao nhất và là
65,0%; chỉ tiêu này thấp nhất ở liều lượng 300
IJs/ml chỉ đạt 48,56% và ở liều lượng 900 IJs/ml
đạt 58,67%.
- Loài S. quangdongense ở các liều lượng thí
nghiệm 300, 600 và 900 IJs/ml có tỷ lệ bị kí sinh
của ATM lần lượt đạt từ 19,33%, 21,0% và
22,33%. Hiệu lực trong phòng thí nghiệm của
tuyến trùng H. indica đối với ATM ở liều lượng
600IJs/ml cho kết quả tốt nhất. Đây có thể là liều
lượng để thử nghiệm đối với loài Mọt đục thân
này ở ngoài tự nhiên.
- Loài H. indica ký sinh gây bệnh trên ATM có
khả năng nhân sinh khối cao nhất ở liều lượng
600 IJs/ml với số lượng 51.093,3 IJs/lần nhắc lại
so với 43.055,6 IJs/lần nhắc lại ở liều lượng 900
IJs/ml và thấp nhất 42.198,3 IJs/lần nhắc lại ở
liều lượng 300IJs/ml.
Khả năng nhân sinh khối của loài
S.quangdongense trên ATM thấp hơn nhiều so
với khả năng nhân sinh khối của loài H. Indica. Ở
các liều lượng tuyến trùng lây nhiễm đã thí
nghiệm, số lượng IJs thu được chỉ đạt từ 2.420,3
IJs/lần nhắc lại đến 2.455,6 IJs/lần nhắc lại.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Báo cáo kết quả đề tài “Nghiên cứu, xác định
biện pháp kỹ thuật phòng trừ sâu, bệnh hại chính
Keo tai tượng (Accacia mangium Willd.) và keo lại
(A. mangium x A. auriculiformis) tại tỉnh Phú Thọ”
năm 2018.
2. Campos-Herrera, R. (Ed.), 2015. Nematode
pathogenesis of insects and other pests. Dordrecht,
The Netherlands, Springer.DOI: 10.1007/978-3-319-
18266-7.
3. Nguyễn Ngọc Châu, 2008. Tuyến trùng ký sinh
gây bệnh côn trùng ở Việt Nam. NXB KH&CN.
4. Eskalen, A., 2013. Host Range of Fusarium
Dieback and Its Ambrosia Beetle (Coleoptera:
Scolytinae) Vector in Southern Cakifornia. Plant
Disease 97: 938- 951.
5. Floyd, J., 2012. Confirmed ID: culture confirmed
positive for Fusarium sp. un-named from CA avocado
new US record. Email from Joel Floyd, PPQ NIS, to
PPQ EDP LT and others on April 23, 2012.
7. Grewal. P.S., Ehlers R-U, Shapiro-Ilan DI.,
2005a. Nematodes as biological control agents.
Wallingford: CABI Publishing.
7. Mendel, Z., A. Protasov, M. Sharon, A. Zveibil,
S. Ben Yehuda, K. O’Donnell, R.J. Rabaglia, M.
Wysoki, and S. Freeman, 2012. An Asian ambrosia
beetle Euwallacea fornicatus and its novel symbiotic
fungus Fusarium sp. Pose a serious threat to the Israel
avocado industry. Phytoparasitica, DOI: 10. 1007/s
12600- 012- 0223-7.
8. Lewis, E.E., Clarke, D.J., 2012. Nematode
parasites and entomopathogens. In: Vega, F.E., Kaya,
H.K (Eds.), Insect Pathology, second ed. Elsevier,
Amsterdam, pp. 395-424.
9. Shapiro-Ilan, D.l., Gouge, D.H., Koppenhӧfer,
A.M., 2002. Factor affecting commercial success: case
studies in cotton, turf and citrus in: Gaugler, R. (Ed.),
Entomopathogenic Nematology. CABI, New York, NY,
pp. 333-356.
10. Shapiro-Ilan, D.l., Contrell, T.E., Mizell III. R.F.,
Horton, D.L, Behle, R.W., Dunlap, C.A., 2010. Efficacy
of Steinernema carpocapsae for control of the lesser
peachtree borer, Synanthedon pictipes: improved
aboveground suppression with a novel gel application.
Biol. Control 54, 23- 28.
11. Shapiro-Ilan, D.l., Contrell, T.E., Mizell III.
R.F., Horton, D.L, Zaid, A., 2015. Field suppression
of the peachtree borer, Synanthedon exitiosa, using
Steinernema carpocapsae: effects of irrigation, a
sprayable gel and application method. Biol. Control
82, 7- 12.
12. Tom.W.Coleman, Eskalen.A, Richard. S., 2013.
New Pest Complex in California: The polyphagous
Shot Hole Borer, Euwallacea sp., and Fusarium
Dieback, Fusarium euwallaceae. USDA, Pest alert,
November 4, 2013.
Phản biện: GS.TS. NCVCC. Phạm Văn Lầm
Các file đính kèm theo tài liệu này:
hieu_luc_trong_phong_thi_nghiem_cua_tuyen_trung_gay_benh_con.pdf