Trong nghiên cứu về L. rhamnosus,
Fornitano et al. (2019) cho thấy khả năng ức
chế sự sinh trưởng của S. aureus cũng như
làm giảm khả năng sản xuất enzyme gây độc
coagulase (giảm từ 20,45 đến 22,73%). Đối
với probiotic L. rhamnosus HN001, sau 4 tuần
thử nghiệm trên các đối tượng binh sĩ dương
tính với nhiễm S. aureus, số lượng S. aureus
giảm 73 đến 83% so với nhóm dùng giả dược
(Eggers et al., 2018). Nghiên cứu của Misaghi
et al. (2017) cho thấy các vi khuẩn
Lactobacillus gồm L. acidophilus, L.
fermentum và L. paracasei ức chế sự sản xuất
các Staphylococcal enterotoxin (SE) bao gồm
SEA, SEC và SEE của vi khuẩn S. aureus.
Như vậy, có thể thấy các chủng vi khuẩn
Lac.VFE-04, Lac.VFE-08 và Lac.VFE-14
trong nghiên cứu này có khả năng ức chế sự
sinh trưởng của S. aureus ATCC-23235, có
tiềm năng trong tương lai để hỗ trợ điều trị
bệnh nhiễm trùng do S. aureus.
KẾT LUẬN
Chúng tôi đã phân lập được 115 chủng
Lactobacillus trên môi trường MRS từ các
mẫu phân của những người khỏe mạnh.
Trong đó, ba chủng biểu hiện hoạt tính sinh
H2O2 mạnh nhất lần lượt là Lac.VFE-14
(2,183 mM), Lac.VFE-08 (2,081 mM) và
Lac.VFE-04 (2,067 mM). Kết quả trình tự
16S rARN của 3 chủng cho thấy Lac.VFE-14
có độ tương đồng 100% với L. plantarum
ZZU 23; Lac.VFE-04 có độ tương đồng 99%
với L. plantarum S7 và Lac.VFE-08 có độ
tương đồng 98,65% với L. rhamnosus JCM
1136. Sản phẩm tiết của các chủng này có tác
dụng ức chế vi khuẩn S. aureus ATCC-23235.
Các chủng này có tiềm năng dùng cho sản
xuất probiotic nhờ khả năng chịu được môi
trường pH axit và muối mật cũng như khả
năng ức chế sự sinh trưởng của vi khuẩn S.
aureus ATCC-23235.
10 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 6 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu H₂O₂ production in lactobacillus strains isolated from the intestinal microbiome of healthy people, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
TAP CHI SINH HOC 2020, 42(1): 83–92
DOI: 10.15625/0866-7160/v42n1.14508
83
H2O2 PRODUCTION IN Lactobacillus STRAINS ISOLATED FROM THE
INTESTINAL MICROBIOME OF HEALTHY PEOPLE
Ha Thi Thu1, Hoang The Hung2, Tran Xuan Thach1, Nguyen Thi Hoa1, La Thi Lan Anh3,
Vu Thi Hien1, Nguyen Dinh Duy1, Dong Van Quyen1, Nguyen Thi Tuyet Nhung1,*
1 Molecular Microbiology Department - Institute of Biotechnology (IBT) - Vietnam Academy
of Science and Technology (VAST)
2 Research Institute of Military Logistics Science - Military Academy of Logistics
3 Graduate University of Science and Technology - VAST
Received 20 October 2019, accepted 6 January 2020
ABSTRACT
Lactobacillus sp. in the digestive tract are capable of producing H2O2 to inhibit the growth of
harmful bacteria and balance the gut microflora. In this study, we have isolated 115 strains of
Lactobacillus spp. from stool samples of healthy people in Ha Noi. Of the 50 tested
Lactobacillus strains, 9 strains were capable of producing H2O2, of which the Lac.VFE-14 strain
produced highly H2O2 with a concentration of 2.183 mM, followed by Lac.VFE-08 strains (2.081
mM) and Lac.VFE-04 (2.067 mM). All three strains grew well in MRS medium supplemented
with bile salts or adjusted to low pH value. With 0.3% of bile salt, the survival rates of these 3
strains were 99%, 95% and 97%, respectively. At pH 3.0, after 3 hours of cultivation, the
survival rates of the three strains were 98.54%, 94.15% and 95.27%, respectively. In addition,
each of the cell-free culture supernatants of these three strains that inhibit the growth of S. aureus
ATCC-23235. The inhibition zone diameters of the three strains were 19.0±1.0 mm, 14.0±1.0
mm and 11.7±1.3 mm, respectively. The results of 16S rRNA gene analyses showed that
Lac.VFE-14, Lac.VFE-08 and Lac.VFE-04 had high similarity scores with L. plantarum ZZU 23
(100%), L. rhamnosus JCM 1136 (99%) and L. plantarum S7 (98.65%), respectively. This study
indicates that all three strains have the potential to be used as probiotics in the future.
Keywords: Lactobacillus, Staphylococcus aureus, H2O2, bile salt, antimicrobial activity.
Citation: Ha Thi Thu, Hoang The Hung, Tran Xuan Thach, Nguyen Thi Hoa, La Thi Lan Anh, Vu Thi Hien, Nguyen
Dinh Duy, Dong Van Quyen, Nguyen Thi Tuyet Nhung, 2020. H2O2 production in Lactobacillus strains isolated from
the intestinal microbiome of healthy people. Tap chi Sinh hoc, 42(1): 83–92. https://doi.org/10.15625/0866-
7160/v42n1.14508.
*Corresponding author email: nttnhung@ibt.ac.vn
©2020 Vietnam Academy of Science and Technology (VAST)
TAP CHI SINH HOC 2020, 42(1): 83–92
DOI: 10.15625/0866-7160/v42n1.14508
84
KHẢ NĂNG SINH H2O2 CỦA CÁC CHỦNG VI KHUẨN Lactobacillus
PHÂN LẬP TỪ HỆ VI KHUẨN ĐƯỜNG RUỘT CỦA NGƯỜI KHỎE MẠNH
Hà Thị Thu1, Hoàng Thế Hưng2, Trần Xuân Thạch1, Nguyễn Thị Hoa1, Lã Thị Lan Anh3,
Vũ Thị Hiền1, Nguyễn Đình Duy1, Đồng Văn Quyền1, Nguyễn Thị Tuyết Nhung1,*
1Phòng Vi sinh vật học phân tử, Viện Công nghệ Sinh học,
Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
2Viện Nghiên cứu Khoa học Hậu cần Quân sự, Học viện Hậu cần
3Học viện Khoa học và Công nghệ, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Ngày nhận bài 20-10-2019, ngày chấp nhận 6-1-2020
TÓM TẮT
Vi khuẩn Lactobacillus sp. trong đường tiêu hóa, có khả năng sinh H2O2 ức chế sự sinh trưởng vi
khuẩn gây hại và làm cân bằng hệ vi khuẩn có ích. Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã phân lập
được 115 chủng vi khuẩn Lactobacillus từ mẫu phân của người khỏe mạnh tại Hà Nội. Trong số
50 chủng Lactobacillus được kiểm tra, có 9 chủng có khả năng sinh H2O2, trong đó chủng
Lac.VFE-14 sinh H2O2 mạnh nhất với nồng độ thu được là 2,183 mM, tiếp theo là các chủng
Lac.VFE-08 (2,081 mM) và Lac.VFE-04 (2,067 mM). Ba chủng này đều sinh trưởng tốt trong
môi trường MRS có bổ sung muối mật hay môi trường có độ pH thấp. Với 0,3% muối mật, tỷ lệ
tế bào sống sót của 3 chủng nêu trên ương ứng là 99%, 95% và 97%. Ở pH 3, sau 3 giờ nuôi cấy,
tỷ lệ tế bào sống sót của 3 chủng ương ứng là 98,54%, 94,15% và 95,27%. Bên cạnh đó, dịch
nuôi đã loại bỏ tế bào của 3 chủng này có khả năng ức chế sự sinh trưởng của vi khuẩn
Staphylococcus aureus ATCC-23235. Hoạt tính ức chế thể hiện qua đường kính vòng kháng
khuẩn của 3 chủng ương ứng là 19,0±1,0 mm; 14,0±1,0 mm và 11,7±1,3 mm. So sánh trình tự
16S của 3 chủng với các trình tự đã được công bố trên ngân hàng gen cho thấy 3 chủng này có sự
tương đồng cao lần lượt với L. plantarum ZZU 23; L. rhamnosus JCM 1136 và L. plantarum
S7. Kết quả thu được cho thấy cả 3 chủng này đều có tiềm năng sử dụng làm probiotic trong
tương lai.
Từ khóa: Lactobacillus, Staphylococcus aureus, H2O2, muối mật, kháng khuẩn.
*Địa chỉ liên hệ email: nttnhung@ibt.ac.vn
MỞ ĐẦU
Lactobacillus là một trong những vi
khuẩn probiotic được sử dụng phổ biến, đem
lại nhiều lợi ích cho sức khỏe con người. Sử
dụng probiotic Lactobacillus làm cân bằng
hệ vi sinh vật đường tiêu hóa trong cơ thể vật
chủ, điều chỉnh phản ứng miễn dịch và chống
lại hoạt động của các vi sinh vật gây bệnh
(Markowiak, 2017). Các chủng Lactobacillus
spp. có khả năng ức chế và tiêu diệt các vi
sinh vật gây bệnh do sự cạnh tranh chất dinh
dưỡng, khả năng sản sinh axit làm giảm pH
môi trường, tạo biofilm và các chất kháng
khuẩn trong đó có H2O2 (Bermudez et al.,
2012).
H2O2 là một một chất oxi hóa mạnh, có
khả năng dễ dàng chuyển đổi thành gốc
hydroxyl, đây là một chất oxi hóa mạnh có tác
dụng gây độc cho tế bào, ức chế sự sinh
trưởng của nhiều loài vi khuẩn như
Escherichia coli, Pseudomonas aeruginosa và
Staphylococcus aureus (Boateng et al., 2011).
H2O2 production in Lactobacillus strains isolated
85
Một số thành viên trong nhóm vi khuẩn
Lactobacillus có khả năng sản sinh H2O2 như:
L. johnsonii, L. acidophilus, L. fermentum và
L. gasseri (Hertzberger et al., 2014). Tùy
thuộc vào từng chủng, khả năng sản xuất
H2O2 của chúng khác nhau với nồng độ dao
động trong khoảng từ 0,8 đến 6,4 mM
(Belicová et al., 2013). Khả năng tạo H2O2 của
chủng L. fermentum CS 12-1 là 3,5 mM
(Kang et al., 2005), chủng L. johnsonii
NCC533 là 1 mM (Hertzberger et al., 2014)
hay các chủng Lactobacillus từ 0,059 đến
0,176 mM (Zalán et al., 2005).
Vi khuẩn Lactobacillus có khả năng ức
chế sinh trưởng và tiết độc tố của vi khuẩn S.
aureus (Eggers et al., 2018). Nghiên cứu của
Misaghi et al. (2017) cho thấy, cả ba loài L.
acidophilus, L. paracasei và L. fermentum đều
có khả năng ức chế sinh trưởng của S. aureus.
Ngoài ra, các chủng thuộc chi Lactobacillus
này cũng ức chế biểu hiện gen Staphylococcal
enterotoxin, một yếu tố gây độc chính của S.
aureus. Bằng thử nghiệm lâm sàng, Eggers et
al. (2018) cho thấy, những người sử dụng vi
khuẩn probiotic L. rhamnosus HN001 có khả
năng làm giảm từ 73 đến 83% số lượng vi
khuẩn S. aureus đường ruột so với những
người chỉ dùng giả dược. Hơn nữa, dịch nuôi
đã loại bỏ tế bào Lactobacillus cũng ức chế
sinh trưởng của S. aureus nhờ chúng có khả
năng tiết ra môi trường những chất kháng
khuẩn như ethanol, H2O2 và các bacteriocin
(Chen et al., 2019).
Từ những lý do nêu trên, trong nghiên cứu
này, chúng tôi đã phân lập, sàng lọc và đánh
giá khả năng sinh H2O2 của các chủng vi
khuẩn Lactobacillus và kiểm tra khả năng
kháng S. aureus của các chủng vi khuẩn này.
Kết quả thu được sẽ bổ sung nguồn dữ liệu cho
các nghiên cứu về khả năng sinh H2O2 cũng
như các hợp chất kháng khuẩn của vi khuẩn
Lactobacillus sp được phân lập ở Việt Nam.
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
Nguồn mẫu phân lập
Các mẫu phân từ từ những người khỏe
mạnh tình nguyện tham gia nghiên cứu sống
ở khu vực Hà Nội tự thu thập và để trong
hộp vô trùng. Mẫu sau đó được giữ lạnh ở
4oC và chuyển ngay đến phòng thí nghiệm để
phân tích.
Phân lập vi khuẩn Lactobacillus
Quá trình phân lập các chủng
Lactobacillus từ mẫu phân thường gặp khó
khăn vì sự hiện diện của các vi sinh vật cạnh
tranh với số lượng lớn như: Bifidobacterium,
Streptococcus và Enterococcus. Vì thế, chúng
tôi đã lựa chọn môi trường MRS; pH 6,2 cho
việc phân lập chủng Lactobacillus từ mẫu
phân vì môi trường này cho số lượng khuẩn
lạc tốt với kích thước và hình thái khuẩn lạc
đặc trưng cho Lactobacilli (Corry et al.,
2003). Một gam mẫu phân sẽ được hòa trong
9 mL nước muối sinh lý vô trùng. Dung dịch
sau đó sẽ được pha loãng 10 lần liên tiếp cho
đến 10-7. Mỗi một nồng độ pha loãng từ 10-5
đến 10-7 sẽ được cấy gạt trên môi trường thạch
MRS (de Man, Rogosa & Sharpe) và được
nuôi cấy trong điều kiện kị khí ở 37oC trong
48 giờ. Các khuẩn lạc phát triển trên các đĩa
MRS sẽ được lựa chọn và làm sạch bằng cách
cấy ria trên đĩa MRS để thu nhận những
khuẩn lạc riêng lẻ. Những khuẩn lạc này sẽ
được giữ trên đĩa thạch MRS để sử dụng cho
những nghiên cứu tiếp và được lưu trữ lâu dài
ở (-)80oC trong dịch MRS có bổ sung 20%
glycerol. Các mẫu vi khuẩn sẽ được kiểm tra
hình thái dưới kính hiển vi, hoạt tính catalase
và nhuộm Gram. Chỉ những khuẩn lạc âm tính
với hoạt tính catalase và là Gram dương sẽ
được lựa chọn cho nghiên cứu tiếp theo.
Phương pháp định tính và định lượng H2O2
Phương pháp của Martín & Suárez (2010)
được sử dụng để xác định sự có mặt của H2O2
trong dịch nuôi các chủng vi khuẩn
Lactobacillus đã phân lập (Martin & Suárez,
2010). Vi khuẩn được cấy chuyển sang 5 mL
môi trường MRS nuôi lắc 200 vòng/phút ở
37oC trong 24 giờ. Tế bào vi khuẩn được loại
bỏ bằng ly tâm, dịch nổi thu được bổ sung vào
hỗn hợp có chứa enzyme HRP (horseradish
peroxidase, Sigma, USA) và TMB (3,3’,5,5’-
Tetramethylbezidine, Sigma) trong đệm
phosphate (pH 6) với tổng thể tích 1 mL. Ban
đầu TMB ở dạng khử, không màu, khi có mặt
của HRP và H2O2, TMB bị oxi hóa và chuyển
thành màu xanh.
Ha Thi Thu et al.
86
Phương pháp trên cũng được sử dụng để
định lượng nồng độ H2O2 do các chủng vi
khuẩn sản xuất được. Tiến hành dựng đường
chuẩn về mối tương quan giữa nồng độ H2O2
và mật độ quang ở bước sóng 620 nm của sản
phẩm màu sau phản ứng với TMB bằng cách
sử dụng dung dịch chuẩn H2O2 100 mM.
Nồng độ H2O2 do các chủng vi khuẩn
Lactobacillus sinh ra được tính toán dựa vào
đường chuẩn khi đo độ hấp thụ quang ở bước
sóng 620 nm. Mỗi một thí nghiệm được lặp lại
3 lần.
Phương pháp xác định khả năng chịu muối
mật và axit
Các chủng vi khuẩn đã sàng lọc có khả
năng sinh H2O2 được nuôi cấy trong bình
chứa môi trường MRS có bổ sung muối mật
Oxgall (Sigma) với nồng độ 0,3% và bình đối
chứng không bổ sung muối mật. Bình nuôi
cấy được ủ ở nhiệt độ 37oC trong vòng 24 giờ,
sau đó kiểm tra khả năng sống sót của các
chủng vi khuẩn bằng phương pháp pha loãng
và cấy trên đĩa thạch, đếm số lượng khuẩn lạc.
Sau 24 giờ nuôi cấy các chủng vi khuẩn
Lactobacillus trong môi trường MRS, tiến
hành thử nghiệm khả năng chịu axit bằng cách
ủ ở pH 2 và pH 3 trong 3 giờ. Pha loãng và
cấy trên đĩa thạch để xác định khả năng sống
sót của các chủng vi khuẩn.
Phương pháp định danh các chủng
Lactobacillus bằng giải trình tự gen 16S
rRNA
16S rARN gồm các vùng bảo tồn và biến
đổi cao, thường được sử dụng để nhận dạng
loài và phân biệt loài (Tomas et al., 2013).
Các chủng vi khuẩn được chọn lọc, sẽ được
định danh bằng phương pháp sinh học phân tử
dựa theo kỹ thuật giải trình tự đoạn gen 16S
rARN (Nanda et al., 2018).
Xác định khả năng ức chế sinh trưởng trên
vi khuẩn gây bệnh Staphylococcus
Một mL dịch tế bào vi khuẩn S. aureus
ATCC-23235 được trải đều trên bề mặt đĩa
petri chứa 15 mL môi trường thạch BHI
(Brain Heart Infusion), sau đó hút bỏ dịch
thừa. Để đĩa thạch vào tủ ấm 37oC trong 15
phút. Dịch nuôi vi khuẩn Lactobacillus 24 giờ
được ly tâm loại bỏ tế bào. Nhỏ 20 µL dịch ly
tâm các chủng vi khuẩn Lactobacillus gồm
Lac.VFE-04, Lac.VFE-08, Lac.VFE-14 hoặc
dung dịch muối sinh lý (làm đối chứng) thành
từng điểm riêng trên đĩa petri đã trải vi khuẩn
S. aureus ATCC-23235. Ủ các đĩa petri đã
được cấy vi khuẩn trong điều kiện hiếu khí
với nhiệt độ 37oC. Sau 48 giờ nuôi cấy, quan
sát hiện tượng và đo kích thước vòng kháng
khuẩn quanh điểm nhỏ dịch ly tâm các chủng
vi khuẩn Lactobacillus để xác định khả năng
ức chế sinh trưởng của dịch nuôi đối với vi
khuẩn S. aureus ATCC-23235.
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Chúng tôi đã phân lập được trên môi
trường MRS 115 chủng Lactobacillus. Các
khuẩn lạc chủ yếu có dạng lồi, mịn (không
nhăn), trắng đục, không màu, rìa trơn hoặc xẻ
thùy. Trên môi trường MRS, các khuẩn lạc
trên cùng một đường ria mọc đều nhau, phát
triển đồng nhất về hình thái và màu sắc không
lẫn khuẩn lạc lạ (hình 1). Các vi khuẩn này
đồng nhất dưới kính hiển vi quang học, hình
que, dương tính khi nhuộm Gram và âm tính
với thử nghiệm catalase.
Hình 1. Tế bào Lactobacillus (Lac.VFE-14)
nhuộm gram quan sát dưới kính hiển vi
điện tử
Định tính và định lượng H2O2
Phương pháp đo màu dựa trên HRP/TMB
được chúng tôi sử dụng để xác định sự có mặt
của H2O2 trong dịch nuôi vi khuẩn có độ nhạy
H2O2 production in Lactobacillus strains isolated
87
cao và độc tính thấp (Xianyu et al., 2013). Các
phản ứng màu với TMB có độ nhạy rất cao,
phát hiện được nồng độ H2O2 từ lượng rất
thấp từ nanomolar đến millimolar) (Martin et
al., 2010).
phản ứng màu với TMB có độ nhạy rất cao, phát hiện được nồng độ H2O2 từ lượng rất thấp từ
nanomolar đến millimolar) (Martin et al., 2010).
Lac.
VFE-04
ĐC Lac.
VFE-08
Lac.
VFE-14
Hình 2. Khả năng sinh H2O2 của các chủng vi
khuẩn Lactobacillus so với đối chứng
Sau khi bổ sung HRP và TMB vào dịch
nuôi vi khuẩn Lactobacillus đã ly tâm, môi
trường chuyển ngay từ màu vàng sang xanh ở
hầu hết các mẫu với độ đậm nhạt khác nhau
tùy thuộc vào lượng H2O2 có mặt trong dịch
nuôi của từng chủng vi khuẩn (hình 2).
Kết quả kiểm tra khả năng sinh H2O2 của
các chủng vi khuẩn Lactobacillus đã phân lập
được thể hiện trên bảng 1. Trong đó, chủng có
khả năng sinh ra lượng H2O2 lớn nhất là
Lac.VFE-14 đạt 2,183 mM, tiếp theo là
Lac.VFE-08 và Lac.VFE-04 với nồng độ
H2O2 tương ứng đạt 2,081 mM và 2,067 mM
sau 24 giờ nuôi cấy. Lượng H2O2 sinh ra của
các chủng đã phân lập được tương đối cao so
với với các chủng ở các nghiên cứu trước đó.
Nghiên cứu cho thấy khả năng sinh H2O2
phụ thuộc vào từng loài cụ thể. Trong thí
nghiệm của Hertzberger et al. (2014), khả năng
sinh H2O2 của chủng L. johnsonni NCC 533 là
1 mM, trong khi khả năng sản sinh H2O2 của L.
plantarum 2142 là 0,16 mM còn L. casei
Shirota là 0,056 mM (Zalán et al., 2005).
Nguồn cacbon cũng có ảnh hưởng nhất định
đến nồng độ H2O2. Khi sử dụng nguồn carbon
là galactose, L. bulgaricus sản xuất được lượng
H2O2 cao nhất là 0,02 mM, nhưng khi sorbitol
được sử dụng, lượng H2O2 được tạo ra là
0,0006 mM. Ngoài ra, nguồn nitơ hay yếu tố
nhiệt độ cũng có khả năng tác động lên khả
năng sinh H2O2 của vi khuẩn (Enitan et al.,
2011). Như vậy, ở các điều kiện nuôi cấy khác
nhau sự tổng hợp H2O2 là khác nhau. Lượng
H2O2 sản xuất được cũng phụ thuộc vào khả
năng của từng chủng vi sinh vật. Ngoài ra,
phương pháp định lượng có ảnh hưởng lớn đến
việc xác định nồng độ H2O2 mà vi sinh vật sản
xuất được trong môi trường. Vì vậy cần tối ưu
điều kiện nuôi cấy và chọn lọc các chủng vi
sinh vật để thu được hàm lượng H2O2 cao nhất,
đồng thời cần lựa chọn phương pháp định
lượng phù hợp để xác định hàm lượng H2O2 vi
sinh vật tổng hợp được.
Hình 3. Đường chuẩn thể hiện mối tương quan giữa nồng độ H2O2
và mật độ quang của sản phẩm màu sau phản ứng với TMB
Ha Thi Thu et al.
88
Bảng 1. Giá trị trung bình của 3 lần đo OD620nm và hàm lượng H2O2 có trong dịch nuôi
Chủng vi khuẩn Giá trị OD620nm Nồng độ H2O2 (mM)
Lac.VFE-04 0,976 ± 0,011 2,067 ± 0,008
Lac.VFE-08 0,981 ± 0,012 2,081 ± 0,003
Lac.VFE-09 0,621 ± 0,017 1,005 ± 0,012
Lac.VFE-14 1,015 ± 0,014 2,183 ± 0,006
Lac.VFE-16 0,557 ± 0,012 0,812 ± 0,012
Lac.VFE-17 0,454 ± 0,013 0,504 ± 0,001
Lac.VFE-48 0,560 ± 0,012 0,822 ± 0,002
Lac.VFE-72 0,327 ± 0,011 0,125 ± 0,005
Lac.VFE-76 0,294 ± 0,014 0,024 ± 0,001
Khả năng chịu pH axit và muối mật của
các chủng được chọn lọc
Để đến được ruột non và đại tràng ở
người, thực hiện chức năng sinh học, vi sinh
vật cần phải vượt qua dạ dày, nơi có pH rất
thấp (pH < 3) (Derrien etal., 2015). Khả năng
chịu axit của các chủng vi khuẩn được khảo
sát bằng cách xác định số lượng khuẩn lạc sau
khi ủ vi khuẩn ở pH 2 và 3 trong 3 giờ. Kết
quả được thể hiện ở bảng 2. Sau 3 giờ ủ ở pH
3, tỷ lệ sống sót của các chủng vi khuẩn này
khá cao, tương ứng 95,27%, 94,15% và
98,54%. Ở pH 2, lượng tế bào còn sống so với
đối chứng vẫn tương đối cao, với tỷ lệ sống
của Lac.VFE-04, Lac.VFE-08 và Lac.VFE-14
tương ứng 85,12%, 84,51% và 88,22%.
Sau khi di chuyển qua dạ dày, vi sinh vật
lại phải đối mặt với dịch mật. Sự tiếp xúc với
mật là một thử thách cho các vi khuẩn xâm
nhập vào đường tiêu hóa. Muối mật hoạt động
như một chất tẩy rửa sinh học, làm phá hủy
màng tế bào vi khuẩn, muốn tồn tại được vi
khuẩn phải có khả năng chịu muối mật
(Urdaneta et al., 2017). Vì thế khả năng chịu
axit và muối mật là đặc tính quan trọng cần có
của hệ vi khuẩn đường ruột.
Bảng 2. Tỷ lệ sống sót sau khi ủ của các chủng vi khuẩn đã chọn lọc so với đối chứng
Chủng
Tỷ lệ sống sót sau khi ủ (%)
0,3% muối mật pH 2 pH 3
Lac.VFE-04 97,02 ± 1,12 85,12 ± 5,44 95,27 ± 3,21
Lac.VFE-08 95,15 ± 1,14 84,51 ± 8,01 94,15 ± 5,69
Lac.VFE-14 99,08 ± 1,02 88,22 ± 5,14 98,54 ± 6,68
Nồng độ muối mật 0,3% được xem là
nồng độ quan trọng để xác định khả năng chịu
muối mật của các chủng vi khuẩn probiotic
LAB (Belicová et al., 2013). Hầu hết các
chủng được chúng tôi thử nghiệm đều duy trì
khả năng sinh trưởng tốt trong môi trường
MRS có bổ sung muối mật 0,3%. So với đối
chứng không có muối mật, tỷ lệ sinh trưởng
của các chủng này dao động từ 90 đến 99%.
Chủng Lac.VFE-14 có khả năng sinh trưởng
tốt nhất với tỷ lệ 99,08%, gần như không có
sự khác biệt so với đối chứng. Các chủng
Lac.VFE-04 và Lac.VFE-08 có tỷ lệ sống sót
tương ứng là 97,02% và 95,15% (bảng 2).
Kết quả trên cho thấy, các chủng vi khuẩn
trong nghiên cứu này có khả năng chịu axit và
muối mật tốt so với với các chủng vi khuẩn
lactic ở các nghiên cứu trước. Trong nghiên
của Nguyễn Văn Thanh và nnk. (2007) cũng
đã chỉ ra trong môi trường pH 3 và 4, tỷ lệ
sống của các chủng L. acidophilus và L. casei
là 41 và 65%. Trong điều kiện pH 2, tỷ lệ
sống sót của 2 chủng vi khuẩn lactic L. casei
VTCC186 và L. pentosus D3 trong sản phẩm
kefir chanh dây là 39,36 và 52,01%. Các
chủng này cũng có khả năng sinh trưởng trên
môi trường có sự hiện diện của muối mật với
nồng độ 0,3% (Quách Đức Tính và nnk.,
H2O2 production in Lactobacillus strains isolated
89
2013). Một nghiên cứu khác (Shehata et al.,
2016) cho thấy, trong môi trường MRS có bổ
sung 0,3% muối mật, tỷ lệ sống sót của các
chủng vi khuẩn lactic dao động trong khoảng
69,8 đến 85%. Các chủng này cũng có tỷ lệ
sống sót từ 68 đến 88,3% sau 3 giờ ủ trong
môi trường dịch dạ dày nhân tạo ở pH 2. Như
vậy, có thể thấy, so với những chủng đã được
nghiên cứu trước đây, 3 chủng Lac.VFE-04,
Lac.VFE-08 và Lac.VFE-14 có khả năng chịu
pH axit và muối mật vượt trội hơn hẳn.
Kết quả định danh vi khuẩn theo phương
pháp giải trình tự gen 16S rRNA
Sau khi so sánh trình tự 16S rRNA của 3
chủng chọn lọc được với các trình tự 16S
rRNA đã được công bố trên ngân hàng gen
(NCBI), cho thấy Lac.VFE-14 và Lac.VFE-04
có mức độ tương đồng là 100% và 99% tương
ứng so với chủng L. plantarum ZZU 23 và L.
plantarum S7. Trong khi đó, Lac.VFE-08 có
độ tương đồng lên tới 98,65% so với L.
rhamnosus JCM 1136 (bảng 3).
Bảng 3. Kết quả so sánh với các trình tự 16S đã được công bố trên ngân hàng gen (NCBI)
của Lac.VFE -04, Lac.VFE -08 và Lac.VFE -14
Kí hiệu chủng
phân lập
Tên chủng
Mã số đăng ký trên
NCBI
Identify
(Tương đồng)
Lac.VFE -04
L. plantarum S7 GU195646.1 99%
L. plantarum T3R1C1 JX193637.1 99%
L. plantarum ST-III CP002222.1 99%
Lac.VFE -08
L. rhamnosus JCM 1136 NR_113332.1 98,65%
L. rhamnosus NBRC 3425 NR_043408.1 98,38%
L. rhamnosus JCM 1136 NR_043408.1 98,38%
Lac.VFE -14
L.plantarum ZZU 23 AB830324.1 100%
L. plantarum C KM507561.1 100%
L. plantarum KLB 416 KM670024.1 100%
Nhóm 1
Nhóm 2
Hình 4. Quan hệ phát sinh chủng loại trình tự
gene 16S các chủng phân lập Lac. VFE-04,
Lac. VFE-08, Lac. VFE-14 phân tích bằng
phần mềm MEGA7 Neighbor-Joining Tree
Với kết quả này, khi xây dựng cây phát
sinh chủng loại để đánh giá mối quan hệ di
truyền của các chủng phân lập với một số
chủng thuộc chi Lactobacillus. Kết quả thu
được cho thấy, các chủng được khảo sát chia
thành 2 nhóm rõ rệt. Trong đó, nhóm 1 cho
thấy chủng phân lập Lac. VFE-08 có mối
quan hệ di truyền gần nhất với chủng L.
rhamnosus JCM 1136 và các chủng thuộc chi
Lactobacillus như L. paracasei, L. casei và L.
zeae (hình 4). Nhóm 2, các chủng phân lập
Lac. VFE-04, Lac. VFE-14 thể hiện mối quan
hệ di truyền cao nhất với các chủng thuộc loài
L. plantarum.
Dựa trên kết quả cây phát sinh loài, 2
dòng Lac.VFE-04 và Lac.VFE-14 có quan hệ
gần với L. plantarum và Lac.VFE-08 là L.
rhamnosus.
Khả năng ức chế sinh trưởng trên vi khuẩn
gây bệnh S. aureus
S. aureus là một trong những tác nhân
chính gây nhiễm trùng ở người cũng như động
vật (Johansson et al., 2016; Ren et al., 2017).
Việc sử dụng kháng sinh liều cao để tiêu diệt
vi khuẩn này có nguy cơ gây kháng kháng
sinh. Vì vậy, hiện nay sản phẩm probiotics
đang được sử dụng như một liệu pháp thay thế
Ha Thi Thu et al.
90
kháng sinh để chống lại vi khuẩn này (Eggers
et al., 2018).
Lactobacillus đã được biết đến từ lâu với
khả năng sinh chất kháng khuẩn bao gồm
H2O2, kháng sinh, các axit hữu cơ. Trong
nghiên cứu này, dịch nuôi vi khuẩn đã loại bỏ
tế bào của các chủng vi khuẩn Lac.VFE-04,
Lac.VFE-08 và Lac.VFE-14 đều thể hiện khả
năng ức chế sinh trưởng của vi khuẩn S. aureus
ATCC-23235, khả năng ức chế của mỗi chủng
là khác nhau được thể hiện trên hình 5. Hoạt
tính ức chế sự sinh trưởng của S. aureus
ATCC-23235 của các chủng vi khuẩn này
được xác định bằng cách đo đường kính vòng
kháng khuẩn trên đĩa petri. Chủng Lac.VFE-14
có đường kính vòng kháng khuẩn lớn nhất là
19,0 ± 1,0 mm, tiếp theo là các chủng
Lac.VFE-08 với đường kính là 14,0 ± 1,0 mm
vàLac.VFE-04 là 11,7 ± 1,3 mm.
Hình 5. Khả năng ức chế sự sinh trưởng trên
S. aureus của các chủng Lactobacillus
Trong nghiên cứu về L. rhamnosus,
Fornitano et al. (2019) cho thấy khả năng ức
chế sự sinh trưởng của S. aureus cũng như
làm giảm khả năng sản xuất enzyme gây độc
coagulase (giảm từ 20,45 đến 22,73%). Đối
với probiotic L. rhamnosus HN001, sau 4 tuần
thử nghiệm trên các đối tượng binh sĩ dương
tính với nhiễm S. aureus, số lượng S. aureus
giảm 73 đến 83% so với nhóm dùng giả dược
(Eggers et al., 2018). Nghiên cứu của Misaghi
et al. (2017) cho thấy các vi khuẩn
Lactobacillus gồm L. acidophilus, L.
fermentum và L. paracasei ức chế sự sản xuất
các Staphylococcal enterotoxin (SE) bao gồm
SEA, SEC và SEE của vi khuẩn S. aureus.
Như vậy, có thể thấy các chủng vi khuẩn
Lac.VFE-04, Lac.VFE-08 và Lac.VFE-14
trong nghiên cứu này có khả năng ức chế sự
sinh trưởng của S. aureus ATCC-23235, có
tiềm năng trong tương lai để hỗ trợ điều trị
bệnh nhiễm trùng do S. aureus.
KẾT LUẬN
Chúng tôi đã phân lập được 115 chủng
Lactobacillus trên môi trường MRS từ các
mẫu phân của những người khỏe mạnh.
Trong đó, ba chủng biểu hiện hoạt tính sinh
H2O2 mạnh nhất lần lượt là Lac.VFE-14
(2,183 mM), Lac.VFE-08 (2,081 mM) và
Lac.VFE-04 (2,067 mM). Kết quả trình tự
16S rARN của 3 chủng cho thấy Lac.VFE-14
có độ tương đồng 100% với L. plantarum
ZZU 23; Lac.VFE-04 có độ tương đồng 99%
với L. plantarum S7 và Lac.VFE-08 có độ
tương đồng 98,65% với L. rhamnosus JCM
1136. Sản phẩm tiết của các chủng này có tác
dụng ức chế vi khuẩn S. aureus ATCC-23235.
Các chủng này có tiềm năng dùng cho sản
xuất probiotic nhờ khả năng chịu được môi
trường pH axit và muối mật cũng như khả
năng ức chế sự sinh trưởng của vi khuẩn S.
aureus ATCC-23235.
Lời cảm ơn: Công trình này được thực hiện
nhờ sự hỗ trợ kinh phí từ đề tài mã số
CT0000.03/18-19 do TS. Nguyễn Thị Tuyết
Nhung làm chủ nhiệm.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Belicová A., Mikulášová M., Dušinský R.,
2013. Probiotic potential and safety
properties of Lactobacillus plantarum
from Slovak Bryndza cheese. BioMed
research international, 2013(ID 760298):
8 pp.
Bermudez-Brito M., Plaza-Díaz J., Muñoz-
Quezada S., Gómez-Llorente C., Gil A.,
2012. "Probiotic mechanisms of action."
H2O2 production in Lactobacillus strains isolated
91
Annals of Nutrition and Metabolism,
61(2): 160–174.
Boateng, M., S. Price, K. Huddersman and S.
E. Walsh ., 2011. Antimicrobial activities
of hydrogen peroxide and its activation by
a novel heterogeneous Fenton’s‐like
modified PAN catalyst. Journal of applied
microbiology, 111(6): 1533–1543.
Chen C., Lai C., Huang L., Huang Y., Toh S.,
Weng C., Chuang C., Lu C., H.-J. Tang .,
2019. Antimicrobial activity of
Lactobacillus species against carbapenem-
resistant Enterobacteriaceae. Frontiers in
microbiology, 10: 789.
Corry J.E.L., Curtis G.D.W., Baird R. M.,
2003. Handbook of Culture Media for
Food Microbiology. Elsevier Science, 37.
Davoodabadi A., Dallal M. M. S., Foroushani
A. R., Douraghi M., Harati F. A., 2015.
Antibacterial activity of Lactobacillus spp.
isolated from the feces of healthy infants
against enteropathogenic bacteria.
Anaerobe, 34: 53–58.
Derrien M., van Hylckama Vlieg J. E., 2015.
Fate, activity, and impact of ingested
bacteria within the human gut microbiota.
Trends in microbiology, 23(6): 354–366.
Thi Bich Thuy Do, Thi Diem Huong Nguyen,
2018. Determination of salt intolerance
and probiotic properties of lactic acid
bacteria isolated from gut of Decapterus
lajang. HUAF journal of agricultural
science & technology, Hue University -
University of Agriculture and Forestry,
2(2): 799–806 [in Vietnamese].
Eggers S., Barker A. K., Valentine S., Hess
T., Duster M., Safdar N., 2018. Effect of
Lactobacillus rhamnosus HN001 on
carriage of Staphylococcus aureus: results
of the impact of probiotics for reducing
infections in veterans (IMPROVE) study.
BMC infectious diseases, 18(1): 129.
Enitan A., Adeyemo J., Ogunbanwo S., 2011.
Influence of growth conditions and
nutritional requirements on the production
of hydrogen peroxide by lactic acid
bacteria. African journal of microbiology
research, 5(15): 2059–2066.
Fornitano A., Amêndola I., Santos S., 2019.
Lactobacillus rhamnosus versus
Staphylococcus aureus: influence on
growth and expression of virulence
factors. J Dent Maxillofacial Res, 2(2):
29–33.
Hertzberger R., Arents J., Dekker H. L.,
Pridmore R. D., Gysler C., Kleerebezem
M., de Mattos M. J. T., 2014. H2O2
production in species of the
Lactobacillus acidophilus group: a
central role for a novel NADH-
dependent flavin reductase. Appl.
Environ. Microbiol., 80(7): 2229–2239.
Johansson M. A., Björkander S., Mata
Forsberg M., Qazi K. R., Salvany Celades
M., Bittmann J., Eberl M., Sverremark-
Ekström E., 2016. Probiotic lactobacilli
modulate Staphylococcus aureus-induced
activation of conventional and
unconventional T cells and NK cells.
Frontiers in immunology, 7: 273.
Kang D.-K., Oh H., Ham J.-S., Kim J., Yoon
C., Ahn Y., Kim H., 2005. Identification
and characterization of hydrogen
peroxide-generating Lactobacillus
fermentum CS12-1. Asian-australasian
journal of animal sciences, 18(1): 90–95.
Nanda., Chaudhary., Kumar., 2018. Molecular
Approaches for Identification of
Lactobacilli from Traditional Dairy.
Advances in Animal Biotechnology and its
Applications, 181–196.
Van Thanh Nguyen, Thu Hoa Tran, Vu Tuong
Vy Nguyen, 2007. Investigation of acid,
bile salt and antibiotic tolerance of some
oral probiotics. Pharmaceutical journal,
378: 255–263 [in Vietnamese].
Markowiak P., Śliżewska K., 2017. Effects of
probiotics, prebiotics, and synbiotics on
human health. Nutrients, 9(9): 1021.
Martín R., Suárez J. E., 2010. Biosynthesis
and degradation of H2O2 by vaginal
lactobacilli. Appl. Environ. Microbiol.,
76(2): 400–405.
Ha Thi Thu et al.
92
Misaghi A., Parsaeimehr M., Akhondzadeh
A., Gandomi H., Azizkhani M., 2017. The
inhibitory effects of Lactobacillus
fermentum, Lactobacillus acidophilus and
Lactobacillus paracasei isolated from
yoghurt on the growth and enterotoxin A
gene expression of S. aureus. Iranian
Journal of Veterinary Medicine, 11(2):
191–201.
Tomas Vetrovsky, Petr Baldrian ., 2013. The
Variability of The 16S rRNA Gene in
Bacterial Genomes and Its Consequences
for Bacterial Community Analyses. Plos
One 8: (2).
Duc Tinh Quach, Thanh Trung Tong, Ngoc
Duy Nguyen, Thuy Huong Nguyen, 2013.
Investigation of some probiotic properties
of traditional and Lactobacillus casei
VTCC186-supplemented Kefir. Science &
Technology Development, 16(3): 40–47
[in Vietnamese].
Ren D., Gong S., Shu J., Zhu J., Rong F.,
Zhang Z., Wang D., Gao L., Qu T., Liu
H., 2017. Mixed Lactobacillus plantarum
strains inhibit Staphylococcus aureus
induced inflammation and ameliorate
intestinal microflora in mice. BioMed
research international.,
2017(ID 7476467): 7 pages.
Shehata M., El Sohaimy S., El-Sahn M. A.,
Youssef M.,2016. Screening of isolated
potential probiotic lactic acid bacteria for
cholesterol lowering property and bile salt
hydrolase activity. Annals of Agricultural
Sciences, 61(1): 65–75.
Urdaneta V., Casadesús J., 2017. Interactions
between bacteria and bile salts in the
gastrointestinal and hepatobiliary tracts.
Frontiers in medicine, 4: 163.
Xianyu Y., Zhu K., Chen W., Wang X., Zhao
H., Sun J., Wang Z., Jiang X., 2013.
Enzymatic assay for Cu (II) with
horseradish peroxidase and its application
in colorimetric logic gate. Analytical
chemistry, 85(15): 7029–7032.
Zalán Z., Németh E., Baráth Á., Halász A.,
2005. Influence of growth medium on
hydrogen peroxide and bacteriocin
production of Lactobacillus strains. Food
Technology and Biotechnology, 43(3):
219–225.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
ho_production_in_lactobacillus_strains_isolated_from_the_int.pdf