Định hướng, giải pháp
Có thể nói, công tác bảo tồn,
khai thác và phát triển các
nguồn gen cây trồng, vật nuôi,
dược liệu quý trên địa bàn tỉnh
Nghệ An đã thu được những kết
quả đáng ghi nhận. Tuy nhiên,
các số liệu trên cho thấy, so với
con số về giống cây trồng, vật
nuôi quý hiện có trên địa bàn
tỉnh Nghệ An, số lượng nguồn
gen được lưu giữ, bảo tồn và
phát triển còn đang rất khiêm
tốn. Trong khi đó, các cây con
đặc sản đang hàng ngày, hàng
giờ bị khai thác quá mức làm
cho chúng có nguy cơ tuyệt
chủng cao hơn các cây con
thông thường. Và sâu xa hơn
nữa, nếu để mất các giống cây
con đặc sản thì các giá trị tri
thức, các giá trị văn hóa gắn liền
với chúng cũng sẽ bị mất theo.
Trong thời gian tới, Nghệ An
cần tiếp tục triển khai thực hiện
công tác bảo tồn, khai thác sử
dụng bền vững, có hiệu quả các
nguồn gen với định hướng rõ
ràng, nhiệm vụ cụ thể: Ứng
dụng khoa học và công nghệ
hiện đại kết hợp hài hòa với tri
thức truyền thống trong bảo
tồn và sử dụng bền vững nguồn
gen; Bảo vệ với sử dụng bền
vững nguồn gen góp phần bảo
tồn đa dạng sinh học và bảo vệ
thiên nhiên, môi trường được
thực hiện trên cơ sở mạng lưới
quỹ gen thống nhất toàn quốc;
Bảo tồn và lưu giữ an toàn các
nguồn gen hiện có, khai thác sử
dụng bền vững, có hiệu quả
nguồn gen động vật, thực vật
và vi sinh vật; Tìm kiếm, điều
tra thu thập và đưa vào bảo tồn
các nguồn gen bản địa mới
được phát hiện, không loại bỏ
bất kỳ nguồn gen nào trước khi
chưa có căn cứ khoa học, bằng
chứng xác minh, giám định
gen; Đánh giá, xác định giá trị
nguồn gen, mức độ đe dọa tới
các giống, loài bản địa đặc
hữu, quý hiếm hiện có và mới
được thu thập. Đề xuất phương
án bảo tồn hiệu quả nguồn gen:
Xác định và giới thiệu được
những nguồn gen đặc hữu, giá
trị kinh tế cao vào sản xuất và
đời sống; Tư liệu hóa nguồn
gen, xây dựng hệ thống sơ sở
dữ liệu, thông tin về nguồn gen
trên địa bàn tỉnh, phục vụ quản
lý nhà nước và nghiên cứu
khoa học, trao đổi thông tin với
mạng lưới quỹ gen quốc gia;
Khai thác và phát triển nhanh
các nguồn gen thành sản phẩm
thương mại; Tập trung khai
thác các nguồn gen có đặc
điểm quý, giá trị kinh tế, thành
các giống bổ sung vào cơ cấu
giống của tỉnh cho các địa
phương, tạo ra một số sản
phẩm đặc thù, chủ lực của từng
địa phương phục vụ xuất khẩu
và tiêu dùng nội địa.
4 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 1 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Kết quả công tác bảo tồn và phát triển nguồn gen tại Nghệ An, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
HOẠT ĐỘNG KH-CN
Tạp chí
KH-CN Nghệ AnSỐ 3/2017 [8]
1. Đặt vấn đề
Nguồn gen là vật liệu cơ bản
cho công tác tạo giống năng
suất và chất lượng cao, tạo nên
sự phát triển cân bằng sinh học
và ổn định của vùng sinh thái,
khai thác, sử dụng để bảo đảm
an ninh lương thực và phát triển
bền vững, phục vụ cho các
nhiệm vụ nghiên cứu khoa học,
giáo dục đào tạo và các lĩnh
vực khác. Tuy nhiên, trong thời
gian qua, các số liệu đánh giá
cho thấy một phần nguồn tài
nguyên sinh vật của chúng ta đã
và đang bị mất đi rất nhanh.
Hiện tượng thất thoát nguồn
gen đang có nguy cơ cao, trong
đó nhiều loài động thực vật đặc
sản, quý hiếm bị suy giảm
nghiêm trọng, các giống bản
địa có nhiều đặc điểm tốt đang
bị mất dần.
Trước thực tế đó, Bộ Khoa
học và Công nghệ (KH&CN) đã
ban hành một số văn bản nhằm
đẩy mạnh hơn nữa công tác xây
dựng, bảo tồn quỹ gen trên địa
bàn cả nước. Thông tư số
18/2010/TT-BKHCN ngày
24/12/2010 về Quy định việc
quản lý nhiệm vụ KH&CN về
quỹ gen đã quy định rõ nhiệm
vụ bảo tồn nguồn gen là nhiệm
vụ KH&CN thực hiện các hoạt
động nghiên cứu, thu thập, bảo
tồn, đánh giá các chỉ tiêu sinh
học và tư liệu hóa nguồn gen.
Công văn số 3514/BKHV-CNN
ngày 29/11/2012 của Bộ
KH&CN về việc xây dựng Đề
án khung nhiệm vụ KH&CN về
quỹ gen cấp tỉnh giai đoạn từ
nay đến 2020 đã được các địa
phương trong nước tiếp nhận,
triển khai.
Được ghi nhận là một trong
những vùng có đa dạng sinh
học cao của Việt Nam, với
nhiều kiểu hệ sinh thái, nguồn
tài nguyên sinh vật phong phú,
đa dạng và đặc hữu, nhận thấy
tầm quan trọng của nguồn gen
trong việc bảo tồn các giống
cây trồng, vật nuôi bản địa quý
hiếm, Nghệ An đã sớm coi việc
bảo tồn và lưu giữ nguồn gen là
nhiệm vụ quan trọng. Đặc biệt,
từ khi Đề án khung các nhiệm
vụ bảo tồn nguồn gen cấp tỉnh
được phê duyệt năm 2013,
công tác này càng được chú
trọng và đã có nhiều kết quả
đáng ghi nhận.
2. Kết quả thu thập, bảo
tồn, phát triển nguồn gen đến
năm 2016
2.1. Kết quả điều tra, thu
thập, bảo tồn nguồn gen
Xác định được nguồn gen là
vấn đề rất quan trọng trong việc
phát triển nông - lâm thủy sản,
n Lê hiền
TạI NGHệ AN
KẾT QUẢ CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN GEN
Đẳng sâm
Tạp chí
KH-CN Nghệ AnSỐ 3/2017 [9]
HOẠT ĐỘNG KH-CN
dược liệu tại địa phương, trong
thời gian qua Nghệ An đã tiến
hành nhiều nghiên cứu về nguồn
gen tại Nghệ An thông qua
những đề tài khoa học như: Bảo
tồn nguồn gen vật nuôi Việt
Nam; Điều tra cây con đặc sản,
quý hiếm ở Nghệ An; Đa dạng
sinh học đảo Mắt, đảo Ngư và
biển ven bờ; Đa dạng sinh học
khu Puxailaileng; Đa dạng sinh
học Khu dự trữ sinh quyển Tây
Nghệ An; Khảo sát, đánh giá, đề
xuất hình thức đăng ký bảo hộ
các sản phẩm mang địa danh
của Nghệ An
Ngoài ra, các viện, trường
đóng trên địa bàn tỉnh cũng có
nhiều đề tài khảo sát, thu thập
các nguồn gen như Trung tâm
Nghiên cứu cây ăn quả và cây
công nghiệp Phủ Quỳ đã xây
dựng được các tập đoàn cây ăn
quả gồm: tập đoàn cây ăn quả
có múi, tập đoàn vải, nhãn,
xoài, hồng, thanh long, lạc
tiên... rất đa dạng và phong
phú; Trường Đại học Vinh đã
thực hiện đề tài bảo tồn nguồn
gen cấp Bộ năm 2012: thu thập,
lưu giữ và đánh giá nguồn gen
các giống lúa nương các huyện
miền núi Thanh Hóa, Nghệ An
và Hà Tĩnh.
Các đề tài, đề án khoa học đã
điều tra, khảo sát và tổng hợp
được một số lượng khá phong
phú các giống cây trồng, vật
nuôi của tỉnh. Về thực vật, ở
Nghệ An hiện có các nhóm sau:
Cây lương thực, rau màu:
Nghệ An là tỉnh rất đa dạng về
nguồn gen cây lúa, đậu, cây có
củ, rau. Trung tâm Tài nguyên
thực vật (TNTV) đã thu thập
được 960 nguồn gen trên địa bàn
Nghệ An. Trong đó, nhóm cây
lúa 440 mẫu giống, nhóm cây
đậu đỗ 151 mẫu giống, cây có củ
149 mẫu giống, cây rau 220 mẫu
giống. Viện Bắc Trung Bộ thu
thập được 122 nguồn gen, trong
đó, cây có hạt 110 mẫu giống,
cây có củ 12 mẫu giống. Trường
Đại học Vinh thu thập được 79
giống, trong đó 4 giống lúa và
75 giống nếp địa phương.
Về cây ăn quả: Trung tâm
TNTV đã thu thập được 185
nguồn gen cây ăn quả trên địa
bàn tỉnh Nghệ An hiện đang
được lưu giữ, bảo tồn tại Trung
tâm Nghiên cứu Cây ăn quả và
Cây công nghiệp Phủ Quỳ và tại
Trung tâm. Viện Khoa học kỹ
thuật Nông nghiệp Bắc Trung
Bộ đã thực hiện đề tài “Nghiên
cứu và phục hồi giống cam Xã
Đoài ở vùng nguyên sản”.
Về cây lâm nghiệp: Trung
tâm Môi trường và Phát triển
Nghệ An, Sở KH&CN Nghệ An
đã thu thập nguồn gen cây quế
Quỳ, cây lùng. Hiện đang bảo
tồn cây quế Quỳ tại Quế Phong.
Về cây dược liệu: Đã thu
thập được 962 loài cây thuốc và
nấm làm thuốc, thuộc 365 chi,
183 họ của 5 ngành thực vật bậc
cao có mạch khác nhau và nấm.
Trong 962 loài đã biết, có 769
loài mọc tự nhiên và 193 loài
cây thuốc trồng hay các loài cây
trồng khác có công dụng làm
thuốc. Hiện nay, Nghệ An có 41
loài cây thuốc mọc tự nhiên có
giá trị cao được khai thác và đưa
ra thương mại hóa. Đã điều tra
được 31 loài quý hiếm có trong
sách Đỏ Việt Nam.
Về vật nuôi: Trong những
năm qua, Viện Chăn nuôi đã
phối hợp với nhiều đơn vị trong
tỉnh, trong đó có Trung tâm Ứng
dụng tiến bộ KH&CN, Khoa
Nông Lâm Ngư - Trường Đại
học Vinh tiến hành điều tra, phát
hiện và nghiên cứu bảo tồn
nhiều nguồn gen vật nuôi gồm:
Nhóm gia súc: trâu Thanh
Chương, trâu Phủ Quỳ, trâu Na
Hỷ, bò U đầu rìu, bò H’mông
(bò Mèo), bò vàng Nghệ An,
ngựa Mường Lống, dê cỏ Nghệ
An, hươu sao, lợn Mẹo, lợn Xao
va. Nhóm gia cầm, thủy cầm: gà
tây Kỳ Sơn, gà ác, vịt, vịt bầu
Quỳ, ngỗng cỏ Nghệ An, ngan
trâu Nghệ An.
Về nguồn gen thủy sản:
Nguồn gen cá nước ngọt của
Nghệ An được đánh giá là rất
phong phú về thành phần loài
(280 loài thuộc 14 bộ, 60 họ,
230 giống). Nguồn gen thủy sản
nội địa của Nghệ An tương đối
đa dạng về chủng loại, với các
nhóm: cá nước ngọt, cá nước lợ,
cá di cư từ biển vào sông và
ngược lại, thực vật ngập mặn.
Cá nước ngọt có nhiều loài đặc
sản có giá trị như cá lăng, cá
chiên, cá bống, cá mát Cá di
cư có những loài có giá trị thực
phẩm, xuất khẩu cao như cá
mòi, cá cháy, cá chình. Ngoài
các loài di cư biển - sông, sông
- biển, còn có các loài di cư sinh
sản trong sông như cá mè trắng,
cá mè hoa, cá trôi việt, cá trắm
cỏ, trắm đen.
Kết quả điều tra, khảo sát đã
xác định được 19 loài có giá trị
(cá bống bớp, cá diêu hồng, cá
lóc bông, cá lệch, cá lũ, cá mè
kẽ, cá mòi, cá mú, cá ngứa, cá
nhớ, cá sứt môi, cua đá, cua
lông, hải sâm, ốc hương, tôm
đá, tôm tít, cá mát, cá lăng).
Đặc biệt, từ năm 2014-2016,
thực hiện Đề án khung các
nhiệm vụ bảo tồn nguồn gen cấp
tỉnh, Trung tâm Ứng dụng tiến
bộ KH&CN Nghệ An đã điều
HOẠT ĐỘNG KH-CN
Tạp chí
KH-CN Nghệ AnSỐ 3/2017 [10]
tra, thu thập, bổ sung một số nguồn gen trên
địa bàn tỉnh. Cụ thể, năm 2015, điều tra tại
các huyện Quế Phong, Quỳ Châu và Quỳ
Hợp, đã ghi nhận, thu mẫu và xác định vị trí,
phân bố được 9 loài thuốc quý, hiếm được ghi
trong sách Đỏ Việt Nam, Nghị định 32/NĐ-
CP, Danh lục đỏ cây thuốc Việt Nam cần bảo
vệ, cụ thể: Drynaria fortunei (Mett) - Cốt toái
bổ; Stemona tuberosa Lour - Bách bộ; Dis-
porosis Longifolia Craib - Hoàng tinh cách;
Goniothanlamus Vietnamensis Ban - Bổ béo
đen; Tacca Subflabellta P.P.Ling & C.T.Ting
- Phá lửa (Râu hùm Việt); Fibraurea tinctoria
Lour - Hoằng đằng; Smilax glabra Roxb -
Thổ phục linh; Morinda officilalis Haw - Ba
kích; Gynostemma - Giảo cổ lam.
Năm 2016, kết quả điều tra, khảo sát trên
địa bàn 3 huyện Con Cuông, Tương Dương
và Kỳ Sơn, đã thu được 12 loài cây trồng bản
địa và cây thuốc quý, hiếm được ghi trong
Sách Đỏ Việt Nam, Nghị định 32/NĐ-CP,
Danh lục đỏ cây thuốc Việt Nam cần bảo vệ,
Dược điển Việt Nam, từ điển cây thuốc Việt
Nam. Cụ thể: Stephnia brachyandra Diels -
Bình vôi núi cao; Celastrus hindsii Benth -
Xạ đen; Ampelopsis cantoniensis (Hook et
Arn) Planch - Chè dây; Polygonatum
kingianum Coll. et Hemsl. 1890 - Hoàng tinh
vòng; Achillea millefolium L., 1735 - Cỏ thi;
Talinum paniculatum (Jacp.) Gaertn., 1791 -
Thổ nhân sâm; Aristolochia lwangsiensis
Chun et How ex Liang - Mã đậu linh quảng
tây; Zingiber ottensii Valeton - Gừng tím;
Stahlianthus thorelli Gagnep - Tam thất nam;
Copis chinensis Franch, 1897 - Hoàng Liên;
Zea mays L - Ngô nếp tím; Oryza sativa L -
Lúa nếp Khẩu hin.
2.2. Kết quả khai thác phát triển nguồn gen
Bên cạnh nhiệm vụ thu thập, bảo tồn thì
các nhiệm vụ về khai thác và phát triển nguồn
gen, về ứng dụng công nghệ sinh học trong
đánh giá di truyền nguồn gen đã được triển
khai, làm cho các hoạt động quỹ gen ngày
càng đóng góp thiết thực cho các hoạt động
nghiên cứu triển khai. Trong thời gian qua,
Trung tâm TNTV đã triển khai nhiều dự án
như: Khai thác phát triển nguồn gen lúa đặc
Trà hoa vàng
Cà chua múi
Vịt bầu Quỳ
Tạp chí
KH-CN Nghệ AnSỐ 3/2017 [11]
HOẠT ĐỘNG KH-CN
sản Khẩu cẩm xẳng, Khẩu cẩm
ngâu Nghệ An; Khai thác và
phát triển nguồn gen bí đá trái
dài và mướp đắng xanh tại Nghệ
An; Khai thác và phát triển
nguồn gen đậu xanh hạt nhỏ tại
Nam Đàn, Nghệ An. Đây là
những nguồn gen cây trồng quý
tại Nghệ An, có nhiều đặc tính
tốt, phù hợp với điều kiện sinh
thái địa phương.
Trường Đại học Vinh cũng
triển khai nhiệm vụ khai thác
phát triển nguồn gen lạc cúc, lạc
sen tại Nghệ An là 2 giống lạc
được trồng lâu đời và nổi tiếng
tại Nghệ An.
Viện Chăn nuôi, Trung tâm
Ứng dụng tiến bộ KH&CN đã
thực hiện một số nhiệm vụ bảo
tồn và khai thác nguồn gen cây
trồng, vật nuôi trên địa bàn
Nghệ An như: bò u đầu rìu, gà
H’mông, vịt bầu Quỳ, lợn
mẹo, lợn xao va, bò H’mông,
trâu Thanh Chương cây cà
chua múi bản địa ở Tương
Dương; Các nguồn gen dược
liệu quý như: cây mú từn, cây
trà hoa vàng, đẳng sâm
Codonopsis javanica, sâm
Puxailaileng Đặc biệt, một
số nguồn gen được khai thác,
sử dụng và phát triển thành sản
phẩm thương mại như rượu mú
từn, trà hoa vàng hòa tan và
viên nang cứng trà hoa vàng
bước đầu đã được thị trường
đón nhận.
3. Định hướng, giải pháp
Có thể nói, công tác bảo tồn,
khai thác và phát triển các
nguồn gen cây trồng, vật nuôi,
dược liệu quý trên địa bàn tỉnh
Nghệ An đã thu được những kết
quả đáng ghi nhận. Tuy nhiên,
các số liệu trên cho thấy, so với
con số về giống cây trồng, vật
nuôi quý hiện có trên địa bàn
tỉnh Nghệ An, số lượng nguồn
gen được lưu giữ, bảo tồn và
phát triển còn đang rất khiêm
tốn. Trong khi đó, các cây con
đặc sản đang hàng ngày, hàng
giờ bị khai thác quá mức làm
cho chúng có nguy cơ tuyệt
chủng cao hơn các cây con
thông thường. Và sâu xa hơn
nữa, nếu để mất các giống cây
con đặc sản thì các giá trị tri
thức, các giá trị văn hóa gắn liền
với chúng cũng sẽ bị mất theo.
Trong thời gian tới, Nghệ An
cần tiếp tục triển khai thực hiện
công tác bảo tồn, khai thác sử
dụng bền vững, có hiệu quả các
nguồn gen với định hướng rõ
ràng, nhiệm vụ cụ thể: Ứng
dụng khoa học và công nghệ
hiện đại kết hợp hài hòa với tri
thức truyền thống trong bảo
tồn và sử dụng bền vững nguồn
gen; Bảo vệ với sử dụng bền
vững nguồn gen góp phần bảo
tồn đa dạng sinh học và bảo vệ
thiên nhiên, môi trường được
thực hiện trên cơ sở mạng lưới
quỹ gen thống nhất toàn quốc;
Bảo tồn và lưu giữ an toàn các
nguồn gen hiện có, khai thác sử
dụng bền vững, có hiệu quả
nguồn gen động vật, thực vật
và vi sinh vật; Tìm kiếm, điều
tra thu thập và đưa vào bảo tồn
các nguồn gen bản địa mới
được phát hiện, không loại bỏ
bất kỳ nguồn gen nào trước khi
chưa có căn cứ khoa học, bằng
chứng xác minh, giám định
gen; Đánh giá, xác định giá trị
nguồn gen, mức độ đe dọa tới
các giống, loài bản địa đặc
hữu, quý hiếm hiện có và mới
được thu thập. Đề xuất phương
án bảo tồn hiệu quả nguồn gen:
Xác định và giới thiệu được
những nguồn gen đặc hữu, giá
trị kinh tế cao vào sản xuất và
đời sống; Tư liệu hóa nguồn
gen, xây dựng hệ thống sơ sở
dữ liệu, thông tin về nguồn gen
trên địa bàn tỉnh, phục vụ quản
lý nhà nước và nghiên cứu
khoa học, trao đổi thông tin với
mạng lưới quỹ gen quốc gia;
Khai thác và phát triển nhanh
các nguồn gen thành sản phẩm
thương mại; Tập trung khai
thác các nguồn gen có đặc
điểm quý, giá trị kinh tế, thành
các giống bổ sung vào cơ cấu
giống của tỉnh cho các địa
phương, tạo ra một số sản
phẩm đặc thù, chủ lực của từng
địa phương phục vụ xuất khẩu
và tiêu dùng nội địa.
Để bảo tồn, khai thác nguồn
gen cây con bản địa một cách
đầy đủ, hợp lý, rất cần sự chung
tay của các cấp, ngành trong
tỉnh và sự quan tâm của người
dân, xã hội và cần triển khai
nhiều giải pháp đồng bộ như:
Xây dựng bộ máy, hệ thống tổ
chức bảo tồn nguồn gen cây
trồng, vật nuôi đang nằm rải rác
trong các cộng đồng dân cư trên
khắp cả tỉnh Nghệ An, ở địa bàn
đồng bằng, trung du và miền
núi; Phải có hệ thống quản lý,
mạng lưới đủ mạnh, rộng khắp
trên tất cả vùng miền của tỉnh
trong tổ chức bảo tồn và đánh giá
nguồn gen cây trồng, vật nuôi
bản địa; Tổ chức xây dựng cơ sở
dữ liệu và thông tin nguồn gen
cũng như khai thác và sử dụng
nguồn gen cây trồng, vật nuôi
một cách hợp lý, hiệu quả./.
Nguồn: Báo cáo công tác bảo tồn
nguồn gen và công bố kết quả bước
đầu về bảo tồn nguồn gen trên địa bàn
tỉnh Nghệ An - Trung tâm Ứng dụng
tiến bộ KH&CN Nghệ An năm 2016.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
ket_qua_cong_tac_bao_ton_va_phat_trien_nguon_gen_tai_nghe_an.pdf