Khảo sát hành vi phòng chống lao cho cộng đồng của cán bộ y tế và các yếu tố liên quan tại tỉnh Cà Mau năm 2007

KẾT LUẬN & ĐỀ NGHỊ Hầu hết CBYT tham gia nghiên cứu có hành vi tốt về phòng chống bệnh lao còn thấp, chưa đáp ứng với yêu cầu thực tế. Kiến thức phòng chống lao của CBYT tốt thì thái độ, hành vi của họ đối với bệnh nhân, cộng đồng càng tốt nhưng cần phải tăng cường TT-GDSK nhất là về kiến thức nguy cơ gây bệnh và dịch tể học. Đối tượng cần phải giúp đỡ để nâng cao kiến thức, thái độ và thay đổi hành vi phòng chống lao là tất cả các y, bác sĩ và những người tham gia CSSSKBĐ trong tỉnh Cà Mau. Tuy nhiên, cần phải quan tâm nhiều đến đối tượng là y tá; y sĩ và điều dưỡng, người tham gia CSSKBĐ, kể cả y tế công hay ngoài công lập. Vai trò của nguồn tiếp cận thông tin có tầm quan trọng tác động đối với CBYT nhất là hình thức tập huấn về CTCL hoặc tổ chức hội thảo. Do đó, CTCL cần phải tăng cường công tác này. Chú ý tuyên truyền kiến thức dịch tễ và nguy cơ mắc bệnh lao. CTCL tham mưu cho Sở Y tế có giải pháp can thiệp nhằm hạn chế sử dụng thuốc chống lao cho bệnh khác, nhất là bệnh lý đường hô hấp. Với nghiên cứu tương tự nhưng kỹ thuật lấy mẫu phải ngẫu nhiên hơn với bảng câu hỏi phỏng vấn trực tiếp chi tiết hơn, phân tích rõ ràng hơn nhằm giải đáp được câu hỏi tại sao CBYT có kiến thức phòng chống lao tốt gần 80% mà hành vi phòng chống lao tốt chỉ đạt 56,3%.

pdf8 trang | Chia sẻ: hachi492 | Ngày: 26/01/2022 | Lượt xem: 62 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Khảo sát hành vi phòng chống lao cho cộng đồng của cán bộ y tế và các yếu tố liên quan tại tỉnh Cà Mau năm 2007, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 12 * Phụ bản của Số 4 * 2008 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Y Tế Công Cộng và Y Học Dự Phòng 1 KHẢO SÁT HÀNH VI PHÒNG CHỐNG LAO CHO CỘNG ĐỒNG CỦA CÁN BỘ Y TẾ VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI TỈNH CÀ MAU NĂM 2007 Dương Minh Tùng và Cs* TÓM TẮT Đặt vấn đề: Lao là bệnh truyền nhiễm qua đường không khí chưa được khống chế trong cộng đồng. Bệnh có thể phòng ngừa và trị lành nếu phát hiện sớm và điều trị đủ thời gian. Hiện tại bệnh lao phần lớn phát hiện muộn, thường trong trình trạng nặng, trầm trọng. Cán bộ y tế (CBYT) có vai trò quan trọng trong công tác phát hiện và điều trị lành bệnh lao. Mục tiêu nghiên cứu: Xác định được các mức độ hành vi phòng chống lao cho cộng đồng của CBYT và các yếu tố liên quan. Phương pháp nghiên cứu: Mô tả bằng điều tra cắt ngang. Đối tượng là 551 CBYT đang tham gia hoạt động y tế tại tỉnh Cà Mau. Chọn mẫu phỏng vấn theo phương pháp thuận tiện từ tháng 05 đến tháng 07 năm 2007. Nhập số liệu bằng chương trình Epidata 3.02 và phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 11.5 Kết quả nghiên cứu: 56,3% CBYT tham gia nghiên cứu có hành vi tốt về phòng chống bệnh lao. Trình độ chuyên môn đại học và trên đại học luôn có hành vi tốt hơn so với nhóm khác. Vẫn còn 24,5% y tá và 14,0% y sĩ, điều dưỡng sử dụng thuốc ưu tiên điều trị bệnh lao như Streptomycine, Kanamycin hoặc Rimifon cho bệnh nhân có bệnh đường hô hấp khi chưa loại trừ bệnh lao. CBYT vừa làm y tế công vừa tham gia khám ngoài giờ có hành vi phòng chống lao tốt nhất. Ngược lại, nhóm chỉ tham gia chăm sóc sức khoẻ ban đầu(CSSKBĐ) có hành vi tốt thấp nhất dù số lượng tham gia nghiên cứu nhiều hơn. 70,6% CBYT có tham gia tập huấn CTCL thì hành vi phòng chống lao tốt (60,9%) hơn nhóm không có tham gia (53,4%) (p<0,001). Kết luận: CBYT đang công tác tại Cà Mau thực hiện công tác phòng chống lao còn hạn chế nhất là lực lượng y sĩ, điều dưỡng, y tá và người tham gia CSSKBĐ. Truyền thông GDSK cho CBYT thông qua các lớp tập huấn chương trình chống lao(CTCL) luôn có hiệu quả, cần phát huy. ABSTRACT SURVEY ON TUBERCULOSIS PREVENTIVE BEHAVIOR TO COMMUNITY OF HEALHWORKERS IN CA MAU PROVINCE, VIETNAM Duong Minh Tung, et al * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 12 - Supplement of No 4 - 2008: 66 - 71 Background: Tuberculosis is an airborne infectious disease that is preventable and curable if TB disease is detected early and fully treated. Nowadays, Most of the TB patients were detected late, seriously ill. Most of TB patients were detected a late disease, serious illness. The healthworkers have important role in increase detection and cure of tuberculosis. Objectives: Assess the level and determinants for TB preventive behavior in community of healthworkers in Ca Mau province. Method: This is a cross-sectional study. The participants were 551 healthworkers who were working in the health system in Ca Mau province, Vietnam from May to July, 2007. The questionnaire talbe were selected by convenient system. Data were entered using EpiData 3.02 and analyzed by statistical software SPSS 11.5. Results: The results from the study showed that more than one-half (56.37%) of the respondents had good * Trung tâm Phòng chống bệnh Xã hội Cà Mau Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 12 * Phụ bản của Số 4 * 2008 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Y Tế Công Cộng và Y Học Dự Phòng 2 level of TB preventive behavior. The respondents had University upper and university specialized leveling always had another group better behavior. Still continue 24.5% health visitors and 14.0% physician assistants used anti- TB medication as Streptomycin, Kanamycine or Ramiro for patients there were respiratory disease when haven't been eliminated tuberculosis. Healthworkers both make the governmental health care and participant examined overtime have behaviour protect against best. Contrariwise, only people who assist at health care initial that there were low behaviour though number of respondents. 70.6% responders had participated the tuberculosis program training who had behaviour good level of TB preventive behavior (60.9%) than group without who participate (53.4%) (p<0,001) Conclusion: Healthworkers are working in Ca Mau province that have had low level of TB preventive behavior. Especially, health visitors, physician assistants and people assist at health care initial. The health education communications for Health Workers by training courses of Tuberculosis program need to develop. ĐẶT VẤN ĐỀ Chương trình chống lao (CTCL) bảo vệ 100% dân số tỉnh Cà Mau từ cuối năm 1996 bởi chiến lược DOTS (hoá trị liệu ngắn ngày có kiểm soát). Bệnh lao được phát hiện và quản lý điều trị miễn phí trong 8 tháng điều trị. Hệ thống tổ chức CTCL đã hoàn chỉnh từ tỉnh đến xã phường. Các bệnh viện tuyến huyện trong tỉnh có đủ điều kiện phát hiện bệnh lao bằng phương pháp thử đàm và chụp X quang phổi(7) Qua theo dõi nhiều năm và hiện tại vẫn tồn tại tình trạng bệnh nhân đến khám phát hiện muộn > 80% trong tổng số bệnh nhân thu nhận quản lý điều trị trong CTCL tỉnh Cà Mau. Năm 2001 CTCL tỉnh có nghiên cứu về vấn đề này và kết quả cho thấy bệnh lao phát hiện muộn do sự chậm trễ từ CBYT là chủ yếu (71%)(6) Bệnh lao phát hiện sớm và điều trị kịp thời là phương pháp phòng ngừa bệnh cho cộng đồng tốt nhất. Thông thường bệnh nhân tự biết có dấu hiệu nghi lao, tự tìm đến thầy thuốc để được tư vấn và khám phát hiện bệnh. Do đó, CBYT là đối tượng rất quan trọng tìm ra các dấu chứng nghi lao, chỉ định xét nghiệm hoặc hướng dẫn bệnh nhân khám phát hiện lao sớm nhất và tại nơi gần nhất. Tuy nhiên, trong thực tế bệnh nhân cũng ít quan tâm đến sức khoẻ bản thân nên khi có ho, sốt.... bệnh nhân thường hay tự mua thuốc điều trị hoặc đến khám ban đầu tại cơ sở y tế tư, tổ y tế ấp hoặc Trạm y tế xã nhưng nhiều CBYT kể cả công và tư chưa nắm chắc cách dấu hiệu phát hiện, biện pháp phòng chống bệnh lao nên thường kéo dài quá mức cần thiết thời gian xác định bệnh, kéo dài sự lây lan cho cộng đồng và gây nguy hại trực tiếp sức khoẻ bệnh nhân. Những hành vi trên trực tiếp tác động làm cho bệnh lao phát hiện muộn, trong trình trạng trầm trọng. Mục tiêu nghiên cứu Xác định được các mức độ hành vi phòng chống lao cho cộng đồng. Xác định được các mức độ kiến thức, thái độ phòng chống lao của CBYT tham gia. Xác định được nguồn tiếp cận thông tin nào giúp cho CBYT tìm hiểu tốt về bệnh lao. Xác định được mối liên quan giữa các mức độ hành vi phòng chống lao đối với các đặc điểm chung, kiến thức, thái độ cũng như nguồn tiếp cận thông tin phòng chống bệnh lao của CBYT tham gia nghiên cứu. ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu Theo phương pháp mô tả điều tra cắt ngang. Đối tượng nghiên cứu Dân số mục tiêu là tất cả CBYT đang tham gia hoạt động y tế tại tỉnh Cà Mau. Dân số chọn mẫu chính là CBYT đang làm công tác y tế được mời tham gia tập huấn chương trình chống lao (CTCL) từ tháng 05 đến tháng 07 năm 2007. Công thức tính mẫu n = Z21/2 P (1-P)/d2. Trong đó n là số phiếu điều tra, Z21/2 = 1,96 tương đương Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 12 * Phụ bản của Số 4 * 2008 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Y Tế Công Cộng và Y Học Dự Phòng 3 khoảng tin cậy 95%, P = tỉ lệ ước đoán mức độ hành vi phòng chống lao tốt cho cộng đồng dựa vào các nghiên cứu trước đây. Mẫu đạt tối đa khi p = 0,5; d = sai số cho phép = 0,05. Số mẫu yêu cầu trong nghiên cứu này tối thiểu là 384. Kỹ thuật chọn mẫu theo phương pháp thuận tiện. Tất cả CBYT tham gia tập huấn đủ tiêu chuẩn chọn mẫu tại 9 đơn vị hành chính huyện và xã trong tỉnh Cà Mau. Phương pháp xử lý số liệu Nhập số liệu trên máy vi tính bằng phần mềm EPIDATA 3.02 và phân tích số liệu bằng chương trình SPSS 11.5. KẾT QUẢ Đặc điểm chung Bảng 1 cho thấy có tổng số 551 CBYT tham gia nghiên cứu. Trong đó có hơn phân nửa là nam giới (61,5%). Khoảng hai phần ba CBYT tham gia là y sĩ, điểu dưỡng và nữ hộ sinh, chỉ có khoảng một phần tư là bác sĩ (20,3%) và bác sĩ CK1 (4,4%). CBYT tham gia chủ yếu đang làm việc trong hệ thống y tế công (biên chế và hợp đồng) chiếm 82% số người tham gia. Chuyên khoa đang làm việc chủ yếu là đa khoa (32.8%); ngoại sản (17,6%), nội khoa (16,2%), chuyên khoa lao chỉ có 6,7%. Về hình thức tham gia khám bệnh, nhiều nhất là CBYT tham gia CSSKBĐ (48,3%); hơn một phần ba CBYT là vừa hành nghề y tế công, vừa khám bệnh ngoài giờ (31,8%) và chỉ có 3,8% đang hành nghề y tế tư nhân đơn thuần. Kiến thức và thái độ phòng chống lao Kết quả khảo sát kiến thức phòng chống lao chung cho thấy 77,7% CBYT có kiến thức tốt về phòng chống lao. Số còn lại có kiến thức trung bình và kém chiếm tỉ lệ không nhỏ (22,3%). Nghiên cứu cũng phân tích theo ba nhóm kiến thức cụ thể hơn. CBYT có kiến thức tốt về dấu hiệu nghi lao, chẩn đoán (94,7%) nhiều hơn kiến thức về điều trị, phòng ngừa (80%). Kiến thức tốt về nguy cơ nhiễm lao và dịch tễ thấp nhất (68,8%). Đa số CBYT tham gia nghiên cứu có thái độ tốt về phòng chống bệnh lao (90,6%). Tuy nhiên vẫn có 9,4% chưa thể hiện thái độ đúng đắn về công tác phòng chống lao. Hành vi phòng chống lao: 56,3% CBYT được đánh giá có hành vi phòng chống lao tốt; còn lại trung bình và kém là 31,9 % và 11,8%. Bảng 1: Đặc điểm chung của 551 CBYT tham gia nghiên cứu Đặc điểm chung Số lượng (n = 551) Tỉ lệ % Nam 339 6,5 .1. Giới tính Nữ 212 38,5 Bác sĩ và chuyên khoa 1 136 24,7 Y sĩ, điều dưỡng 342 62,1 Y tá 49 8,9 3. Trình độ chuyên môn Làm chuyên môn khác 24 4,4 Y tế công lập 452 82,0 3. Hình thức tham gia trong ngành y tế Y tế ngoài công lập 99 18,0 4. Hình thức tham gia khám bệnh trong hệ thống y tế Chỉ hành nghề y tế công 89 16,2 Hành nghề y tế công và khám bệnh ngoài giờ 175 31,8 Chỉ hành nghề y tế tư nhân 21 3,8 Tham gia CSSKBD 266 48,3 Mối quan hệ giữa đặc điểm chung của CBYT và hành vi phòng chống lao Bảng 2: Mối quan hệ giữa đặc điểm chung của CBYT và hành vi phòng chống lao Mức độ về hành vi (%) Đặc điểm chung của CBYT Số lượng Tốt TB Kém P – value* 1. Giới tính <0,001 Nam 339 63,1% 28,9% 8,0% Nữ 212 45,3% 36,8% 17,9% 2. Hình thức tham gia trong ngành y tế 0,824 Y tế công lập 452 56,9% 31,4% 11,7% Y tế ngoài công lập 99 53,5% 34,3% 12,1% 3.Trình độ chuyên môn <0,001 Bác sĩ và chuyên khoa 1 112 74,3% 20,6% 5,1% Y sĩ, Điều dưỡng, Hộ sinh 342 53,2% 34,8% 12,0% Y tá 49 34,7% 44,9% 20,4% Chuyên môn khác 24 41,7% 29,2% 29,2% 4.Hình thức tham gia khám bệnh trong hệ thống y tế <0,001 Khám bệnh ngoài giờ 175 70,3% 22,9% 6,9% Y tế tư nhân 21 66,7% 23,8% 9,5% Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 12 * Phụ bản của Số 4 * 2008 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Y Tế Công Cộng và Y Học Dự Phòng 4 Mức độ về hành vi (%) Đặc điểm chung của CBYT Số lượng Tốt TB Kém P – value* Khám bệnh y tế công 89 60,7% 25,8% 13,5% Tham gia CSSKBĐ 226 44,7% 40,6% 14,7% * P – value bởi Pearson Chi-Square Tests CBYT công có tham gia khám bệnh ngoài giờ có hành vi tốt (70,3%) hơn y tế tư nhân (66,7%), khám bệnh y tế công (60,7%) và chỉ tham gia CSSKBĐ (44,7%) (p<0,001). Bảng 3: Mối quan hệ giữa Trình độ chuyên môn và hành vi phòng chống lao (sử dụng thuốc Kanamycine, Streptomycine & Rimifon cho bệnh lý hô hấp chưa xác định lao) Sử dụng thuốc lao cho bệnh nhân chưa xác định lao (%) P – value* Trình độ chuyên môn Số lượng Có sử dụng Không sử dụng Bác sĩ và Chuyên khoa 1 136 5,1% 94,7% Y sĩ, điều dưỡng 342 19,0% 81,0% Y tá 49 24,5% 75,5% Chuyên môn khác 24 4,2% 95,8% <0,001 Vẫn còn không ít y sĩ điều dưỡng (19%) và y tá (24,5%) luôn sử dụng thuốc Kanamycine, Streptomycine và Rimifone cho bệnh lý đường hô hấp chưa xác định lao. Mối quan hệ giữa kiến thức CBYT và hành vi phòng chống lao Bảng 4: Mối quan hệ giữa kiến thức của CBYT và hành vi phòng chống lao Mức độ về hành vi (%) Kiến thức của CBYT Số lượng Tốt TB Kém P – value* 1. Kiến thức chung <0,001 Tốt 428 60,7% 28,5% 10,7% Trung bình và kém 123 40,7% 43,9% 15,4% 2. Kiến thức về nguy cơ, dịch tễ <0,05 Tốt 379 59,9% 29,3% 10,8% Trung bình và kém 172 48,3% 37,8% 14,0% 3. Kiến thức về dấu hiệu nghi lao, chẩn đoán 0,235 Tốt 522 57,1% 31,2% 11,7% Trung bình và kém 29 41,4% 44,8% 13,8% 4. Kiến thức về điều trị, phòng ngừa 0,065 Mức độ về hành vi (%) Kiến thức của CBYT Số lượng Tốt TB Kém P – value* Tốt 441 58,7% 30,2% 11,1% Trung bình và kém 110 46,4% 39,1% 14,5% * P – value bởi Pearson Chi-Square Tests Nhóm có kiến thức chung tốt có về hành vi phòng chống lao tốt (60,7%) hơn nhóm CBYT có kiến thức trung bình và kém (40,7%) (p<0,001). Nhóm CBYT có kiến thức tốt về nguy cơ và dịch tễ lao thì có vẻ hành vi phòng chống lao tốt (59,9%) hơn nhóm CBYT có kiến thức trung bình và kém (48,3%) (p<0,05). Mối quan hệ giữa nguồn tiếp cận thông tin của CBYT và hành vi phòng chống lao Bảng 5: Mối quan hệ giữa nguồn tiếp cận thông tin của CBYT và hành vi Mức độ về hành vi (%) Nguồn tiếp cận thông tin Số lượng Tốt TB Kém P – value* 1. Trường y khoa 0,326 Có 347 57,9% 29,7% 12,4% Không 204 53,4% 35,8% 10,8% 2. Tập huấn từ CTCL <,001 Có 389 60,9% 30,3% 8,7% Không 162 45,1% 35,8% 19,1% 3. Hội thảo, hội nghi <,05 Có 211 66,4% 26,1% 7,6% Không 340 50,0% 35,6% 14,4% 4. Tự tìm hiểu 0,449 Có 242 58,3% 31,8% 9,9% Không 309 54,7% 32,0% 13,3% * P - value bởi Pearson Chi-Square Tests Trong bảng 5 phản ảnh phần lớn CBYT được tham gia tập huấn CTCL thường có hành vi phòng chống lao tốt (60,9%) hơn những người không tham dự (45,1%), p<0,001). BÀN LUẬN Kết quả của nghiên cứu này cho thấy chỉ có hơn phân nữa (56,3%) CBYT tham gia nghiên cứu có mức hành vi phòng chống lao tốt. Chỉ có 82,8% CBYT có hướng dẫn bệnh nhân ho kéo dài trên 2 tuần hoặc nghi lao đi thử đàm, đối với chụp X quang khoảng 76,6% và chỉ có 64,1% hướng dẫn đến phòng khám chuyên khoa. Đặc biệt, có đến 15,4% CBYT có sử dụng thuốc Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 12 * Phụ bản của Số 4 * 2008 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Y Tế Công Cộng và Y Học Dự Phòng 5 Kanamycine, Streptomycine và Rimifon (những thuốc ưu tiên sử dụng cho bệnh lao) dùng cho bệnh nhân có bệnh đường hô hấp. Thực tế trên lý giải được phần nào nguyên nhân phát hiện bệnh lao muộn của bệnh nhân. Đây là hành vi trực tiếp tác động kéo dài thời gian phát hiện bệnh lao do thử đàm âm tính, mặc dầu bệnh nhân mắc lao thật sự, gián tiếp tăng nguy cơ lao kháng thuốc. Nguyên nhân thường do trình độ thấp, lớn tuổi có kinh nghiệm sử dụng thuốc nhưng chưa kịp cập nhật kiến thức mới. Trình độ chuyên môn có tác động mạnh đến hành vi phòng chống lao. Y sĩ, điều dưỡng và y tá bị giới hạn kiến thức chuyên môn, thường ít tiếp cận thông tin mới và ít tham gia khám bệnh trực tiếp nên có hành vi kém về phòng chống lao. CBYT vừa tham gia khám bệnh công và vừa khám bệnh ngoài giờ (nhóm khám ngoài giờ) có hành vi tốt hơn nhóm khác, nhất là nhóm chỉ tham gia CCSKBĐ. Trong thực tế nhóm CSSKBĐ đông nhất và phần lớn tiếp xúc với bệnh nhân đầu tiên nhưng hạn chế về trình độ chuyên môn, ít tiếp cận thông tin về phòng chống lao. CBYT có kiến thức chung về bệnh lao tốt thì có hành vi tốt về công tác phòng chống lao (p<0,001). Tuy nhiên, nhóm tham gia nghiên cứu nắm chắc hơn về nguy cơ gây bệnh và dịch tễ thì có hành vi phòng chống lao tốt (59,9%) hơn nhóm không nắm vững (48,3%) (p<0,05). Nguyên nhân có thể do quá trình TT – GDSK chưa quan tâm, đẩy mạnh truyền thông nội dung này. CBYT có tham gia tập huấn CTCL thì có hành vi phòng chống lao tốt (60,9%) hơn nhóm CBYT không tham gia (p<0,001). Kết quả này càng khẳng định công tác truyền thông trực tiếp, tập huấn và hội thảo về công tác chống lao rất quan trọng. Đặc biệt là hoạt động cung cấp tài liệu chuyên sâu là không thể thiếu. KẾT LUẬN & ĐỀ NGHỊ Hầu hết CBYT tham gia nghiên cứu có hành vi tốt về phòng chống bệnh lao còn thấp, chưa đáp ứng với yêu cầu thực tế. Kiến thức phòng chống lao của CBYT tốt thì thái độ, hành vi của họ đối với bệnh nhân, cộng đồng càng tốt nhưng cần phải tăng cường TT-GDSK nhất là về kiến thức nguy cơ gây bệnh và dịch tể học. Đối tượng cần phải giúp đỡ để nâng cao kiến thức, thái độ và thay đổi hành vi phòng chống lao là tất cả các y, bác sĩ và những người tham gia CSSSKBĐ trong tỉnh Cà Mau. Tuy nhiên, cần phải quan tâm nhiều đến đối tượng là y tá; y sĩ và điều dưỡng, người tham gia CSSKBĐ, kể cả y tế công hay ngoài công lập. Vai trò của nguồn tiếp cận thông tin có tầm quan trọng tác động đối với CBYT nhất là hình thức tập huấn về CTCL hoặc tổ chức hội thảo. Do đó, CTCL cần phải tăng cường công tác này. Chú ý tuyên truyền kiến thức dịch tễ và nguy cơ mắc bệnh lao. CTCL tham mưu cho Sở Y tế có giải pháp can thiệp nhằm hạn chế sử dụng thuốc chống lao cho bệnh khác, nhất là bệnh lý đường hô hấp. Với nghiên cứu tương tự nhưng kỹ thuật lấy mẫu phải ngẫu nhiên hơn với bảng câu hỏi phỏng vấn trực tiếp chi tiết hơn, phân tích rõ ràng hơn nhằm giải đáp được câu hỏi tại sao CBYT có kiến thức phòng chống lao tốt gần 80% mà hành vi phòng chống lao tốt chỉ đạt 56,3%. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Bệnh viên Lao - Bệnh phổi trung ương (2006), Thông tin về bệnh lao và Lao/HIV dành cho nhân viên y tế tuyến cơ sở, CTCL, Tr. 5. 2. Bệnh viện Lao - Bệnh phổi (2006), Sổ tay hướng dẫn CBYT, Nhà xuất bản y học, tr 4 3. Bùi Đức Dương, Nguyễn Thiên Hương (2001), Bệnh lao lâm sàng, Nhà xuất bản y học, tr.31 4. Chương trình chống lao, dịch tễ học bệnh lao. Cập nhật tại địa chỉ www.cimsi.org.vn, ngày 15 tháng 5 năm 2007. 5. Lao siêu kháng thuôc, Bệnh viện lao - bệnh phổi Hà Nội. Cập nhật tại địa chỉ www.bvlaobp.org, ngày 17 tháng 7 năm 2007. 6. Tô Anh Kiệt (2002), Khảo sát những yêu tố liên quan đến điều trị muộn của bệnh nhân lao phổi M(+) mới tại Cà Mau, Đề tài nghiên cứu cấp ngành. Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 12 * Phụ bản của Số 4 * 2008 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Y Tế Công Cộng và Y Học Dự Phòng 6 7. Trung tâm PCCBXH Cà Mau, kế hoạch hoạt động CTCL tỉnh Cà Mau 5 năm 2005 –2010 8. WHO Tuberculosis Fact Sheet N°104 Revised 2004/WHO. Available at http:/www.who.int/int- fs/en/fact104.html. Accessed Oct 15,2004. 9. World Health Organization (2007), Tuberculosis Control in the Western Pacific Region in 2007. WPR Philippine, page 7. Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 12 * Phụ bản của Số 4 * 2008 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Y Tế Công Cộng và Y Học Dự Phòng 7 Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 12 * Phụ bản của Số 4 * 2008 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Y Tế Công Cộng và Y Học Dự Phòng 8

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfkhao_sat_hanh_vi_phong_chong_lao_cho_cong_dong_cua_can_bo_y.pdf
Tài liệu liên quan