Về tiền sử phẫu thuật vùng bụng chậu, chúng tôi
nhận thấy phẫu thuật trước đây ở vùng bụng hay thậm
chí trên tử cung không làm tăng nguy cơ bất thường tử
cung – vòi tử cung nhưng tiền sử phẫu thuật trên vòi
tử cung có thể ảnh hưởng đáng kể đến kết quả phim
chụp cản quang và sự khác biệt này có ý nghĩa thống
kê với p = 0,016 (bảng 3). Thật sự vòi tử cung có cấu
trúc giải phẫu rất tinh tế và chức năng quan trọng trong
sinh lý thụ tinh và di chuyển của phôi. Vòi tử cung dễ bị
tổn thương và khả năng phục hồi kém. Tỉ lệ tái phát tắc
vòi sau phẫu thuật tái tạo vòi tử cung tăng nhanh trong
vòng 1 năm sau phẫu thuật.
Một trong những biến số được xem là quan trọng
trong quá trình nghiên cứu của chúng tôi là áp lực bơm
chất cản quang vào buồng tử cung. Chúng tôi chưa
nhận thấy nghiên cứu nào nêu lên đặc điểm này để
so sánh. Thật ra đây phải là biến số định lượng với
kết quả xác định thông qua đồng hồ áp lực gắn vào
catheter. Tuy nhiên, do hạn chế về mặt phương tiện
nên chúng tôi không thể có được kết quả như dự kiến
mà chỉ có thể dựa trên cảm giác chủ quan người bơm
có nặng tay, khó khăn khi đẩy dịch vào buồng tử cung
hay không, đồng thời đánh giá cảm giác căng tức của
bệnh nhân để kết luận chung là bơm dịch khó khăn.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi ghi nhận 15 trường
hợp bơm dịch khó khăn và yếu tố này liên quan với kết
quả phim chup cản quang bất thường (46,7% so với
16,2%). Nguy cơ tổn thương tử cung – vòi tử cung tăng
gấp 4 lần khi thực hiện bơm nặng tay, đẩy thuốc khó
khăn và làm tăng cảm giác đau bệnh nhân (p = 0,004).
Vì vậy cần thiết ghi nhận đầy đủ những khó khăn khi
bơm khi xem xét kết quả phim chụp cản quang.
Như vậy, khảo sát qua chụp cản quang tử cung
– vòi tử cung ở các trường hợp vô sinh chúng tôi ghi
nhận 5,7% có bất thường buồng tử cung và 13,4% có
bất thường vòi tử cung. Một số yếu tố như tuổi đời, loại
vô sinh, tiền sử phẫu thuật trên vòi tử cung hay áp lực
bơm nặng tay liên quan đến tăng tỉ lệ bất thường kết
quả phim chụp. Vì thế nên cân nhắc chỉ định chụp phim
cho những trường hợp này một cách thường quy để
phát hiện sớm các bất thường.
6 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 10 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Khảo sát kết quả chụp tử cung – vòi tử cung ở các trường hợp vô sinh, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 13 - 08 / 2013 167
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
SCIENTIFIC RESEARCH
SUMMAry
Objectives: investigate the images of uterine cavity and
fallopian tube patency by hysterosalpingopraphy in infertile
women and learn the involved factors.
Subjects and methods: Cross-sectional descriptive study
on 157 infertile women examined at Hue University Hospital with
clinical examination, history and hysterosalpingopraphy.
Results: in 157 infertile women with mean-age 30.4 ± 5.4,
there was 5.7% cases with abnormal uterine cavity and 13.4%
abnormal tubal patency. In which, proximal blockage was 4.5%,
distal blockage and hydrosalping were 8.9%. Some factors
included age over 35 years (p = 0.02; OR = 2.49), secondary
infertility (p=0.029; OR = 2.27), past history with tubal operation (p
= 0.016) or high pressure of pushing fluid (p=0.004; OR = 4.005)
associated with abnormal findings on hysterosalpingopraphy.
Conclusion: hysterosalpingopraphy helps detect many
abnormalities in the uterine cavity and the fallopian tubes,
especially in people over 35 year old, with a history of tubal
surgery, secondary infertility. It is recommended to indicated
hysterosalpingopraphy routinely for these cases for early
detection of abnormalities.
KHẢO SÁT KẾT QUẢ CHỤP TỬ CUNG –
VÒI TỬ CUNG Ở CÁC TRƯỜNG HỢP
VÔ SINH
Investigation of hysterosalpingopraphy in infertile
women
Lê Minh Tâm*, Lê Thị Hồng Vũ**
* Bộ môn Phụ Sản, Trường
Đại học Y Dược Huế
** Khoa Thăm dò chức năng,
BV Trung ương Huế
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 13 - 08 / 2013168
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Nếu nguyên nhân vô sinh chủ yếu ở nam giới chỉ
liên quan đến chất lượng tinh trùng, thì ở nữ giới rất
nhiều nguyên nhân có thể ngăn cản khả năng có thai tự
nhiên. Tổn thương vòi tử cung chiếm tỉ lệ khoảng 30-
40% và là nguyên nhân thường gặp thứ hai gây vô sinh
nữ sau nguyên nhân rối loạn chức năng phóng noãn.
Bất thường vòi tử cung có thể do viêm nhiễm đường
sinh dục, tiền căn phẫu thuật vùng chậu, vòi tử cung,
bất thường bẩm sinh hay lạc nội mạc tử cung.
Hiện nay, việc khảo sát đường sinh dục nữ nói
chung và tử cung – vòi tử cung nói riêng ở các trường
hợp vô sinh chủ yếu dựa vào các phương tiện chẩn
đoán hình ảnh như siêu âm phụ khoa qua đường bụng
hay đường âm đạo, chụp tử cung - vòi tử cung có thuốc
cản quang (HSG), nội soi buồng tử cung và trong một
số trường hợp nghi ngờ có thể chỉ định chụp cắt lớp vi
tính, chụp cộng hưởng từ, sinh thiết buồng tử cung làm
mô bệnh học [2]. Tiêu chuẩn vàng chẩn đoán hình
thái và độ thông vòi tử cung vẫn là nội soi ổ bụng [12,
14]. Với nội soi, đòi hỏi phải gây mê, có tính xâm nhập,
tiền ẩn một số nguy cơ về tai biến và không thể xem là
một phương pháp sàng lọc [4].
Kể từ năm 1910, khi Rendflesish lần đầu tiên ứng
dụng tia X vào kĩ thuật chụp buồng tử cung, chụp phim
tử cung - vòi tử cung có bơm thuốc cản quang được
xem là một phương pháp được ưu tiên chọn lựa ở
nhiều trung tâm để đánh giá độ thông của hai vòi tử
cung, đặc biệt ở những trường hợp có những yếu tố
nguy cơ cao bệnh lý vòi tử cung [15]. Vòi tử cung được
ngấm thuốc cản quang và hiện lên trên phim. Nghiệm
pháp Côtte xác định thuốc có thông vào ổ bụng hay
không. Đây là một thủ thuật không xâm lấn, không cần
gây mê, thu nhiều thông tin giá trị và ít biến chứng [11].
Theo nghiên cứu của Đinh Bích Thủy ở 200 phụ
nữ vô sinh tắc vòi tử cung qua chụp tử cung - vòi tử
cung và đối chiếu với nội soi ổ bụng xác định được
tỉ lệ dương tính giả 10,7%. Tỉ lệ vòi tử cung tắc thật
khi chụp phim và sau khi nội soi là 89,3% [12]. Tỉ lệ
dương tính giả trong tắc eo và kẽ (28/43) cao hơn chẩn
đoán tắc bóng và loa (15/43). Nghiên cứu của Kitilla
năm 2007 cũng ghi nhận độ đặc hiệu của phim chụp
cản quang đến 89% [6]. Preutthipan, S. đánh giá độ
chính xác của HSG so với so buồng tử cung nhằm phát
hiện các bất thường trong buồng tử cung ở bệnh nhân
vô sinh lấy tiêu chuẩn vàng là nội soi ổ bụng. Trong
tổng số 336 bệnh nhân nghiên cứu, soi buồng tử cung
phát hiện thêm 4 trường hợp bất thường mà kết quả
HSG trước đó bình thường. Hình ảnh chụp HSG có độ
nhạy 98.0%, độ đặc hiệu 34.9%, giá trị dự báo dương
69.9%, giá trị dự báo âm 92.0%, độ chính xác 73.2%
với tỉ lệ âm tính giả 8.0% [10]. Đề tài này được tiến
hành nhằm góp phần đánh giá kết quả chụp tử cung –
vòi tử cung ở các trường hợp vô sinh và tìm hiểu một
số yếu tố liên quan.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Tổng số 157 trường hợp được chẩn đoán là vô
sinh theo tiêu chuẩn của WHO, đến khám tại Bệnh viện
Trường Đại học Y Dược Huế từ tháng 10/2011 đến
tháng 10/2012 được nhận vào mẫu và đồng ý tham gia
nghiên cứu.
Nghiên cứu tiến hành theo phương pháp mô tả
cắt ngang. Tất cả các đối tượng đến khám vào thời
điểm bất kỳ trong chu kỳ kinh nguyệt, được phỏng vấn
theo bộ câu hỏi soạn sẵn về các thông tin hành chính,
tiền sử sản phụ khoa, tiền sử kinh nguyệt và ngoại
khoa, xét nghiệm dịch âm đạo loại trừ viêm nhiễm.
Sau đó, bệnh nhân sẽ được hẹn đến từ chu kỳ sau, khi
sạch kinh 2 ngày để chụp phim tử cung – vòi tử cung.
Chất cản quang được dùng là Urographin 370 mgI/ml
của hãng Bayer HealthCare, có thể chụp từ 4 đến 6
phim. Chụp phim thứ nhất trước khi bơm thuốc, thuốc
vào buồng tử cung, thuốc tới loa vòi, ra khỏi loa vòi
và phim cuối cùng sau khi tháo thuốc 15 phút để làm
nghiệm pháp Côtte.
Các trường hợp có viêm nhiễm sinh dục, mắc
bệnh lây truyền qua đường tình dục (bệnh lậu hay
chlamydia) cần điều trị đặc hiệu trước khi tiến hành.
Loại khỏi nghiên cứu những bệnh nhân có tiền sử bị
dị ứng với thuốc cản quang hoặc đã bị phản ứng dị
ứng nghiêm trọng (sốc phản vệ), có vấn đề rối loạn
đông máu hoặc đang dùng thuốc chống đông máu
(aspirin hoặc warfarin). Xử lý số liệu bằng phần mềm
SPSS 19.0.
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 13 - 08 / 2013 169
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Bảng 1. Kết quả khảo sát tử cung
Hình ảnh tử cung Số lượng
(n)
Tỉ lệ %
Tư thế tử cung
Gập trước
Trung gian
Gập sau
64
53
40
40,8
33,8
25,4
Kích thước tử cung
Bình thường
Giãn lớn
Teo nhỏ
157
0
0
100
0
0
Bất thường buồng tử cung
Dính buồng tử cung
Hình lồi cố định
Hình khuyết cố định
Bờ nham nhở
3
1
3
2
1,9
0,6
1,9
1,3
Kết quả chụp HSG ghi nhận 9 trường hợp có bất
thường buồng tử cung (chiếm 5,7%).
Bảng 2. Kết quả khảo sát vòi tử cung
Hình ảnh vòi tử
cung
Số lượng
(n)
Tỉ lệ %
Thông hai bên 136 86,6
Tắc gần 1 bên 3 1,9
Tắc gần 2 bên 4 2,5
Tắc xa 1 bên 5 3,2
Tắc xa 2 bên 2 1,3
Giãn ứ dịch 1 bên 2 1,3
Giãn ứ dịch 2 bên 5 3,2
Tổng 157 100
Bảng 3. Một số yếu tố liên quan với bất thường hình ảnh tử cung – vòi tử cung
Các thông số
Bất thường TC-VTC
n (%)
TC-VTC bình thường
n (%)
Chung n (%) Khác biệt
Nhóm tuổi
< 35
≥ 35
19 (15,6)
11 (31,4)
103 (84,4)
24 (68,6)
122
35
p = 0,02
OR = 2,49
Địa dư
Thành thị
Nông thôn
16 (21,1)
14 (17,3)
60 (78,9)
67 (82,7)
76
81
p > 0,05
Loại vô sinh
Vô sinh I
Vô sinh II
17 (15,2)
13 (28,9)
95 (84,8)
32 (71,1)
112
45
p = 0,029
OR = 2,27
Thời gian vô sinh
<3 năm
≥ 3 năm
16 (23,9)
14 (11,9)
51 (76,1)
75 (88,1)
67
89
p > 0,05
Tiền sử
Không
PT vùng bụng
PT Tử cung
PT Vòi tử cung
25 (16,9)
1 (33,3)
2 (50)
2 (100)
123 (83,1)
2 (66,7)
2 (50)
0 (0)
148
3
4
2
p = 0,365
p = 0,082
p = 0,016
Tư thế tử cung
Gập trước
Trung gian
Gập sau
12 (18,8)
8 (15,1)
10 (25,0)
52 (81,2)
45(84,9)
30 (75,0)
64
53
40
p > 0,05
Áp lực bơm dịch
Bình thường
Nặng tay
23 (16,2)
7 (46,7)
119 (83,8)
8 (53,3)
142
15
p = 0,004
OR = 4,005
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 13 - 08 / 2013170
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Tổng số 21 trường hợp (chiếm 13,4%) có bất
thường vòi tử cung trên phim HSG.
Tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 30,4
± 5,4. Có sự khác biệt có ý nghĩa với tăng nguy cơ
bất thường tử cung – vòi tử cung ở nhóm tuổi trên 35
(31,4% so với 15,6%), vô sinh thứ phát (28,9% so với
15,2%) và nhóm có áp lực bơm nặng tay (46,7% so với
16,2%).
IV. BÀN LUẬN
Hiện nay, chụp tử cung – vòi tử cung có bơm
thuốc cản quang là kĩ thuật được ưu tiên lựa chọn để
đánh giá độ thông của vòi tử cung. Áp dụng phương
pháp thăm dò này trên 157 trường hợp vô sinh chúng
tôi ghi nhận được 5,7% trường hợp có bất thường tại
buồng tử cung và 13,4% trường hợp bất thường tại
vòi tử cung. Theo một số tác giả tư thế tử cung có thể
ảnh hưởng đến khả năng sinh sản, tư thế giải phẫu
sinh lý tốt nhất là ngã trước. Thực tế, đặc điểm này chỉ
mang tính chất tương đối, bị ảnh hưởng bởi các cơ
quan lân cận, đặc biệt là lượng nước tiểu trong bàng
quang. Ở bảng 1, tử cung ngã trước chiếm tỉ lệ cao
nhất, tuy nhiên đặc điểm này không liên quan đến bất
thường hình ảnh tử cung vòi tử cung (bảng 3). Bất
thường buồng tử cung được ghi nhận các đặc điểm
dính buồng tử cung (không ngấm thuốc một vị trí trong
buồng tử cung), hình lồi cố định hay bờ nham nhở (tổn
thương niêm mạc tử cung) hoặc hình khuyết cố định
(polyp nội mạc hay u xơ dưới niêm mạc) với tỉ lệ tương
đương nhau (1,9% cho mỗi loại). Đây là một kết quả
đáng khích lệ với phim chụp tử cung vòi tử cung vì
thật sự khả năng phát hiện bất thường tử cung của
phim chụp có nhiều hạn chế so với siêu âm [3]. Một
số bất thường đã được xác định trên siêu âm như u
xơ kẽ, u xơ dưới thanh mạc, u lạc nội mạc trong cơ tử
cung hay thậm chí tử cung đôi (1 trường hợp) thì kết
quả chụp phim cản quang cũng không phát hiện được,
trong trường hợp tử cung đôi được giải thích là do ống
sonde chỉ đặt đơn thuần vào một buồng tử cung. Theo
Preutthipan và cộng sự khi đánh giá độ chính xác của
phim chụp cản quang so với nội soi buồng tử cung
nhằm phát hiện các bất thường trong buồng tử cung
ở 336 bệnh nhân vô sinh thì soi buồng tử cung giúp
phát hiện thêm 4 trường hợp bất thường mà kết quả
phim chụp cản quang trước đó bình thường. Tác giả
này kết luận phim chụp cản quang có độ nhạy 98,0%,
độ đặc hiệu 34,9%, giá trị dự báo dương 69,9%, giá trị
dự báo âm 92,0%, độ chính xác 73,2% với tỉ lệ âm tính
giả 8,0% [10]. Tương tự Tsankova và cộng sự cũng ghi
nhận trong 143 trường hợp vô sinh có 15/63 (23,8%)
có tổn thương phát hiện qua nội soi nhưng kết quả
phim chụp cản quang ghi nhận bình thường [13].
Về kết quả khảo sát độ thông của vòi tử cung,
chúng tôi ghi nhận 21 trường hợp (chiếm 13,4%) có bất
thường vòi tử cung trên phim chụp cản quang. Tỉ lệ này
trong một số nghiên cứu khác nhau thay đổi từ 10,4%
[13] đến 21% [7], hay 25,2% [8]. Sự khác nhau về tỉ
lệ này một phần thuộc về cách tính toán bất thường ít
nhất một vòi hay cả hai vòi tử cung. Ngoài ra sự khác
biệt quần thể nghiên cứu cũng có thể gây nên sự khác
biệt này. Về vị trí tổn thương, chúng tôi ghi nhận tỉ lệ
tổn thương phần xa (tắc xa và giãn ứ dịch) chiếm đến
66,7% (14/21) so với tắc gần chỉ 33,3%. Nhận định này
cũng tương tự một số kết quả nghiên cứu khác [1, 7].
Rõ ràng, các kết quả khác nhau đều có cùng giá trị rằng
tổn thương vòi tử cung là một nguyên nhân đáng lưu ý
ở các trường hợp vô sinh.
Phân tích một số yếu tố liên quan đến bất thường
tử cung - vòi tử cung ở bệnh nhân vô sinh, chúng tôi
nhận thấy độ tuổi, loại vô sinh, tiền sử phẫu thuật trên
tử cung – vòi tử cung hay áp lực bơm dịch ảnh hưởng
đến kết quả bất thường với sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê. Độ tuổi là yếu tố quan trọng để tiên lượng khả
năng sinh sản của phụ nữ. Nói chung, khi độ tuổi càng
lớn, khả năng sinh sản càng giảm đi do giảm dự trữ
buồng trứng. Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi có
độ tuổi trung bình là 30,4 ± 5,4. Trong nghiên cứu này,
chúng tôi nhận thấy bất thường tử cung – vòi tử cung
gặp nhiều hơn ở nhóm tuổi trên 35 một cách có ý nghĩa
(p = 0,02; OR = 2,49). Điều này có thể giải thích khi tuổi
đời càng cao, thời gian phơi nhiễm với các yếu tố nguy
cơ khác càng cao như xuất hiện u xơ tử cung, viêm
nhiễm sinh dục, phẫu thuật phụ khoa hay tiền sử sinh
đẻ trước đó làm tăng nguy cơ tổn thương đường sinh
dục. Chính vì thế, những bệnh nhân vô sinh trên 35 tuổi
nên được khảo sát đường sinh dục một cách thường
quy ngay từ thời điểm thăm khám đầu tiên nhằm phát
hiện sớm và xử trí kịp thời các bất thường nếu có.
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 13 - 08 / 2013 171
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Bất thường tử cung - vòi tử cung thường gặp hơn
ở nhóm vô sinh thứ phát 2,27 lần so với vô sinh nguyên
phát với p < 0,05 (bảng 3). Nhận định này tương tự
với kết quả của nhiều nghiên cứu khác nhau [1, 5, 7]
và Bello và cộng sự nhận thấy bất thường vòi tử cung
liên quan với vô sinh thứ phát nhiều gấp 3 lần vô sinh
nguyên phát (P< 0.05, OR = 3, CI = 95%). [1] Nghiên
cứu trên các trường hợp vô sinh thứ phát, Lash và cộng
sự đã kết luận rằng nguy cơ bất thường vòi tử cung
trên phim chụp HSG tăng gấp 1.75 (95% CI 1.16-2.64)
lần so với những trường hợp vô sinh nguyên phát [9]
và không có sự khác biệt giữa cách sinh thường hay
mổ lấy thai với bất thường vòi tử cung. Như vậy có thể
nói, tiền sử sinh đẻ cũng là một yếu tố nguy cơ gây tổn
thương đường sinh dục và việc chỉ định khảo sát bằng
phim chụp cản quang là cần thiết cho các trường hợp
vô sinh thứ phát.
Về tiền sử phẫu thuật vùng bụng chậu, chúng tôi
nhận thấy phẫu thuật trước đây ở vùng bụng hay thậm
chí trên tử cung không làm tăng nguy cơ bất thường tử
cung – vòi tử cung nhưng tiền sử phẫu thuật trên vòi
tử cung có thể ảnh hưởng đáng kể đến kết quả phim
chụp cản quang và sự khác biệt này có ý nghĩa thống
kê với p = 0,016 (bảng 3). Thật sự vòi tử cung có cấu
trúc giải phẫu rất tinh tế và chức năng quan trọng trong
sinh lý thụ tinh và di chuyển của phôi. Vòi tử cung dễ bị
tổn thương và khả năng phục hồi kém. Tỉ lệ tái phát tắc
vòi sau phẫu thuật tái tạo vòi tử cung tăng nhanh trong
vòng 1 năm sau phẫu thuật.
Một trong những biến số được xem là quan trọng
trong quá trình nghiên cứu của chúng tôi là áp lực bơm
chất cản quang vào buồng tử cung. Chúng tôi chưa
nhận thấy nghiên cứu nào nêu lên đặc điểm này để
so sánh. Thật ra đây phải là biến số định lượng với
kết quả xác định thông qua đồng hồ áp lực gắn vào
catheter. Tuy nhiên, do hạn chế về mặt phương tiện
nên chúng tôi không thể có được kết quả như dự kiến
mà chỉ có thể dựa trên cảm giác chủ quan người bơm
có nặng tay, khó khăn khi đẩy dịch vào buồng tử cung
hay không, đồng thời đánh giá cảm giác căng tức của
bệnh nhân để kết luận chung là bơm dịch khó khăn.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi ghi nhận 15 trường
hợp bơm dịch khó khăn và yếu tố này liên quan với kết
quả phim chup cản quang bất thường (46,7% so với
16,2%). Nguy cơ tổn thương tử cung – vòi tử cung tăng
gấp 4 lần khi thực hiện bơm nặng tay, đẩy thuốc khó
khăn và làm tăng cảm giác đau bệnh nhân (p = 0,004).
Vì vậy cần thiết ghi nhận đầy đủ những khó khăn khi
bơm khi xem xét kết quả phim chụp cản quang.
Như vậy, khảo sát qua chụp cản quang tử cung
– vòi tử cung ở các trường hợp vô sinh chúng tôi ghi
nhận 5,7% có bất thường buồng tử cung và 13,4% có
bất thường vòi tử cung. Một số yếu tố như tuổi đời, loại
vô sinh, tiền sử phẫu thuật trên vòi tử cung hay áp lực
bơm nặng tay liên quan đến tăng tỉ lệ bất thường kết
quả phim chụp. Vì thế nên cân nhắc chỉ định chụp phim
cho những trường hợp này một cách thường quy để
phát hiện sớm các bất thường.
1. Bello, T.O., (2006),Tubal abnormalities on
hysterosalpingography in primary and secondary
infertility. West Afr J Med. 25(2),pp: 130-3.
2. Carrascosa, P., M. Baronio, C. Capunay,
E.M. Lopez, C. Sueldo, and S. Papier, (2008),Clinical
use of 64-row multislice computed tomography
hysterosalpingography in the evaluation of female
factor infertility. Fertil Steril. 90(5),pp: 1953-8.
3. de Almeida, I., C. Souza, F. Reginatto, J.S.
Cunha Filho, A. Facin, F. Freitas, Y. Lavic, and E.P.
Passos, (2000),[Hysterosonosalpingography and
hysterosalpingography in the diagnosis of tubal patency
in infertility patients]. Rev Assoc Med Bras. 46(4),pp:
342-5.
4. Fatum, M., N. Laufer, and A. Simon,
(2002),Investigation of the infertile couple: should
diagnostic laparoscopy be performed after normal
hysterosalpingography in treating infertility suspected
to be of unknown origin? Hum Reprod. 17(1),pp: 1-3.
5. Kiguli-Malwadde, E. and R.K. Byanyima,
(2004),Structural findings at hysterosalpingography in
patients with infertility at two private clinics in Kampala,
Uganda. Afr Health Sci. 4(3),pp: 178-81.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 13 - 08 / 2013172
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
6. Kitilla, T., (2006),Tubo-peritoneal infertility:
comparision of pre-operative hysterosalpingography
and laparotomy findings (Tikur Anbessa Hospital, 1995
- 2002). Ethiop Med J. 44(2),pp: 167-74.
7. Kitilla, T., (2010),Hysterosalpingography in
the evaluation of infertility: a five years review. (FGAE,
2001 -5). Ethiop Med J. 48(4),pp: 267-75.
8. Kouame, N., A.M. N’Goan-Domoua, N. Konan,
A. Setcheou, O. Tra-Bi, D. N’Gbesso R, and A.K.
Keita, (2012),[Contribution of transvaginal ultrasound
to hysterosalpingography in the etiological research
on female infertility in Abidjan]. Afr J Reprod Health.
16(4),pp: 43-9.
9. Lash, M.M., A. Yaghamee, W. Strohsnitter, and S.
Lalwani, (2008),Association between secondary infertility
and fallopian tube obstruction on hysterosalpingography.
J Reprod Med. 53(9), pp: 677-80.
10. Preutthipan, S. and V. Linasmita,
(2003),A prospective comparative study between
hysterosalpingography and hysteroscopy in the
detection of intrauterine pathology in patients with
infertility. J Obstet Gynaecol Res. 29(1),pp: 33-7.
11. Stovall, D.W., (1997),The role of
hysterosalpingography in the evaluation of infertility. Am
Fam Physician. 55(2),pp: 621-8.
12. Thủy, Đ.B., (2008),Chẩn đoán độ thông vòi tử
cung qua phim chụp tử cung - vòi tử cung và qua nội
soi ổ bụng. Tạp chí Y Học TP. Hồ Chí Minh. Tập 12(Phụ
bản của Số 4.),pp: 350-352.
13. Tsankova, M., B. Nalbanski, I. Borisov, and
S. Borisov, (2000),[A comparative study between
hysterosalpingography and laparoscopy in evaluating
female infertility]. Akush Ginekol (Sofiia). 39(1),pp: 20-
2.
14. Tsuji, I., K. Ami, A. Miyazaki, N. Hujinami, and
H. Hoshiai, (2009),Benefit of diagnostic laparoscopy
for patients with unexplained infertility and normal
hysterosalpingography findings. Tohoku J Exp Med.
219(1),pp: 39-42.
15. Wilkes, S., G. Rubin, A. Crosland, N. Hall, and
A. Murdoch, (2009),Patient and professional views
of open access hysterosalpingography for the initial
management of infertility in primary care. Br J Gen
Pract. 59(562),pp: 336-42.
TÓM TẮT
Mục tiêu: khảo sát kết quả chụp tử cung – vòi tử cung ở các trường hợp vô sinh và tìm hiểu một số yếu tố
liên quan.
Phương pháp nghiên cứu: mô tả cắt ngang 157 trường hợp vô sinh đến khám tại Bệnh viện Trường Đại học
Y Dược Huế thông qua khám lâm sàng, hỏi tiền sử và chụp phim tử cung – vòi tử cung.
Kết quả: khảo sát 157 trường hợp vô sinh với độ tuổi trung bình 30,4 ± 5.4 chúng tôi ghi nhân 5,7% có bất
thường buồng tử cung và 13,4% có bất thường vòi tử cung. Trong đó tắc gần 4,5%, tắc xa và giãn ứ dịch chiếm
8,9%. Một số yếu tố như tuổi đời trên 35 tuổi (p = 0,02; OR = 2,49), vô sinh thứ phát (p=0,029; OR = 2,27), tiền sử
phẫu thuật trên vòi tử cung (p = 0,016) hay áp lực bơm nặng tay (p=0,004; OR = 4,005) liên quan đến tăng tỉ lệ bất
thường kết quả phim chụp.
Kết luận: chụp tử cung – vòi tử cung có cản quang giúp phát hiện nhiều bất thường tại tử cung và vòi tử cung,
đặc biệt ở những người trên 35 tuổi, có tiền sử phẫu thuật vòi tử cung, vô sinh thứ phát. Nên cân nhắc chỉ định chụp
phim cho những trường hợp này một cách thường quy để phát hiện sớm các bất thường.
NGƯỜI THẨM ĐỊNH: PGS.TS Lê Trọng Khoan
Các file đính kèm theo tài liệu này:
khao_sat_ket_qua_chup_tu_cung_voi_tu_cung_o_cac_truong_hop_v.pdf