Biến động hoạt độ GPX trong cây lan Đai châu ở thời kì đầu luyện ex vitro trong nghiên cứu này có điểm tương đồng với biến động hoạt độ GPX ở cây cỏ ngọt, theo đó, hoạt độ GPX ở cây cỏ ngọt ở các ngày 2, 7, 14 của quá trình luyện ex vitro tăng cao hơn hai lần so với cây in tro, sau đó giảm dần ở giai đoạn ngày 21 (bằng 1,2 lần so với ở cây in vitro) và ngày 28 (bằng với ở cây in vitro)9. Sự biến động hoạt độ GPX của cây lan Đai châu trong nghiên cứu này cũng có thể so sánh với sự biến động ascorbate peroxidase (APX) ở cây Đầu đài Ấn Độ12, hoạt độ enzyme này của cây in vitro thấp hơn so với ở cây ex vitro trong 28 ngày luyện cây. Hai enzyme này đã được chứng minh cùng có hoạt độ tăng lên khi cây gặp điều kiện bất lợi31. Sự tăng trở lại hoạt độ GPX ở các thời điểm ngày 84 và 140 trong nhà lưới có thể liên quan đến sự sinh trưởng của cây lan Đai châu đã thích nghi với môi trường tự nhiên, vì GPX đã được chứng minh có hoạt độ cao liên quan đến sự làm cứng thành tế bào, một bộ phận của quá trình biệt hóa ở thực vật9. Nhìn chung, kết quả phân tích hàm lượng proline, hoạt độ enzyme GPX có sự liên quan đến hàm lượng nước, hàm lượng chất khô cũng như cường độ thoát hơi nước trong nghiên cứu này. Ở giai đoạn in vitro, cây có hàm lượng nước cũng như cường độ thoát hơi nước cao hơn so với cây luyện ex vitro, ngược lại, hàm lượng proline và hoạt độ GPX thấp hơn. Trong các thời điểm ngày 7, 14, 28 của quá trình luyện, khi cây được đưa ra khỏi bình in vitro, đã có hiện tượng stress mất nước diễn ra ở các mức độ khác nhau, dẫn tới kích hoạt các phản ứng hoạt hóa enzyme chống oxi hóa guaiaciol peroxidase cũng như sinh tổng hợp chất bảo vệ thẩm thấu proline, dẫn tới cường độ thoát hơi nước giảm xuống, tích lũy chất khô. Đã có nghiên cứu chỉ ra khi sử dụng proline ngoại sinh đã làm tăng sự tích lũy sinh khối và kiểm soát sự mất nước tốt hơn ở cây lan Cattleya walkeriana in vitro32. Ở các thời điểm 84 và 140 ngày trong nhà lưới, hàm lượng nước trong cây được khôi phục, tác động của stress mất nước giảm xuống, nên hoạt độ GPX và hàm lượng proline đều giảm xuống. Các dấu hiệu này đều góp phần chứng minh quá trình luyện cây ex vitro đã thành công, cây đã không còn bị stress khi được đưa ra khỏi môi trường in vitro.
7 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 4 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Một số biến đổi sinh lí, hóa sinh của cây phong lan Đai châu (Rhynchostylis gigantea) nguồn gốc in vitro trong giai đoạn luyện Ex Vitro và ở nhà lưới, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Tự nhiên, 4(4):753-759
Open Access Full Text Article Bài nghiên cứu
Trường Đại học Hùng Vương
Liên hệ
Cao Phi Bằng, Trường Đại học Hùng Vương
Email: phibang.cao@hvu.edu.vn
Lịch sử
Ngày nhận: 27-2-2019
Ngày chấp nhận: 23-9-2020
Ngày đăng: 25-10-2020
DOI :10.32508/stdjns.v4i4.960
Bản quyền
© ĐHQG Tp.HCM. Đây là bài báo công bố
mở được phát hành theo các điều khoản của
the Creative Commons Attribution 4.0
International license.
Một số biến đổi sinh lí, hóa sinh của cây phong lan Đai châu
(Rhynchostylis gigantea) nguồn gốc in vitro trong giai đoạn luyện
ex vitro và ở nhà lưới
Cao Phi Bằng*
Use your smartphone to scan this
QR code and download this article
TÓM TẮT
Thời kì luyện ex vitro và trong nhà lưới có vai trò rất lớn đối với sự phát triển của cây giống in vitro,
trong thời kì này, cây có nguồn gốc in vitro phải thích nghi rất nhanh chóng với sự thay đổi của môi
trường. Cây phong lan Đai châu (Rhynchostylis gigantea) có giá trị thẩm mĩ, kinh tế nên được nhân
giống in vitro rộng rãi hiện nay. Công trình này có mục tiêu nghiên cứu các biến đổi sinh lí của cây
phong lan Đai châu có nguồn gốc vi nhân giống ở các thời kì luyện ex vitro và trong nhà lưới. Khi so
với ở cây in vitro (92,7%), hàm lượng nước trong lá cây giảm xuống ở hai thời điểm ngày 14 (90,36%)
và ngày 28 (90,17%) nhưng phục hồi ở các thời điểm 84 ngày (92,52%) và 140 ngày (92,34%). Hàm
lượng chất khô trong lá cây lan Đai châu biến đổi ngược lại so với hàm lượng nước, giá trị hàm
lượng chất khô cao nhất ở ngày 14 (9,63%) và ngày 28 (9,83%). Cường độ thoát hơi nước qua lá
lan Đai châu ở các thời điểm của quá trình luyện cây và trong nhà lưới đều thấp hơn so với ở ngày
0 (0,146 g/dm2/h). Hoạt độ guaiacol peroxidase trong lá cây ở tất cả các thời điểm luyện ex vitro
và trong nhà lưới đều cao hơn so với ở ngày 0 (13,2 UI/g lá tươi), cao nhất ở ngày 14 (36,4 UI/g lá
tươi). Trong khi đó, hàm lượng proline trong lá cây cao hơn ở các thời điểm ngày 7 và ngày 14 (lần
lượt bằng 132,4 và 150,8 m g/g lá tươi) nhưng thấp hơn ở ngày 84 và ngày 140 (lần lượt bằng 44,3
và 55,3 m g/g lá tươi) so với ở ngày 0 (73,7 m g/g lá tươi).
Từ khoá: in vitro, luyện ex vitro, guaiacol peroxidase, lan Đai châu (Rhynchostylis gigantea),
proline
MỞĐẦU
LanĐai châu hay lan Ngọc điễm, Nghinh Xuân có tên
khoa học là Rhynchostylis gigantea thuộc chi Rhyn-
chostylis, họ Phong lan (Orchidaceae). Loài lan này
có hoa đẹp, phù hợp với mục tiêu trang trí, được ưa
chuộng và có giá trị kinh tế cao. Do đó, một số nghiên
cứu nhân giống in vitro lan Đai châu đã được thực
hiện để đáp ứng được nhu cầu của con người với số
lượng lớn 1–3.
Giai đoạn luyện ex vitro giữ vai trò rất quan trọng
đối với công nghệ nhân giống in vitro các loại cây
trồng. Trong quá trình này, cây con phải thích nghi
với sự thay đổi của môi trường sống từ nhân tạo (giàu
đường, phytohormone và có độ ẩm cao) đến tự nhiên
trong một thời gian ngắn4. Vì vậy, nhiều nghiên cứu
về các biến đổi sinh lí hóa sinh trong giai đoạn luyện
cây ex vitro ở một số loài thực vật đã được tiến hành
như ở cây táo5, cây dâu tằm (Morus nigra L.)6, cây
Etlingera elatior 7, lan Hoàng thảo (Dendrobium)8, cỏ
ngọt (Stevia rebaudiana)9. Nhiều biến đổi về sinh lý,
hóa sinh rất đáng chú ý giúp thực vật có thể thích nghi
với môi trường mới đã được nghiên cứu, trong đó
có hoạt độ một số enzyme chống oxi hóa cũng như
các chất bảo vệ thẩm thấu. Các enzyme peroxidase
(POX), superoxide dismutase (SOD), catalase được
quan tâm do có vai trò loại bỏ các gốc oxi hóa tự do
cũng như H2O2 trong mô thực vật, giúp bảo vệ thực
vật chống lại các stress bất lợi củamôi trường10. Hoạt
độ SOD tăng mạnh sau bảy ngày luyện cây, nhưng
giảm xuống ở cuối quá trình luyện ex vitro, trong khi
đó, hoạt độ catalase và ascorbate peroxidase (APX)
tăng dần trong suốt quá trình luyện cây ex vitro ở cây
Tam phỏng11. Hoạt độ của các enzyme trên của cây
Đầu đài ẤnĐộ (Tylophora indica) đều tăng trong thời
kì luyện ex vitro so với cây in vitro 12. So với ở cây cỏ
ngọt in vitro, hoạt độ guaiacol peroxidase (GPX) tăng
cao trong cây ở giai đoạn 2, 7, 14 và 21 ngày nhưng
giảm về mức ban đầu ở ngày 28 của quá trình luyện
ex vitro9. Bên cạnh đó, proline, một chất bảo vệ thẩm
thấu, giúp cây chống lại stress cũng được nghiên cứu ở
cây in vitro trong giai đoạn luyện ex vitro13,14. Trong
nghiên cứu gần đây của chúng tôi, những biến đổi về
hàm lượng sắc tố quang hợp, huỳnh quang diệp lục
cũng nhưhoạt độ catalase của cây lanĐai châu in vitro
trong thời gian sớm (đến thời điểm 28 ngày) của quá
trình luyện cây đã được báo cáo 15. Mục tiêu của bài
báo này là nghiên cứu một số biến đổi của một số đặc
điểm sinh lí, hóa sinh của cây lan Đai châu có nguồn
Trích dẫn bài báo này: Bằng C P. Một số biến đổi sinh lí, hóa sinh của cây phong lan Đai châu (Rhyn-
chostylis gigantea) nguồn gốc in vitro trong giai đoạn luyện ex vitro và ở nhà lưới. Sci. Tech. Dev. J. -
Nat. Sci.; 4(4):753-759.
753
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Tự nhiên, 4(4):753-759
gốc in vitro trong thời kì luyện cây ex vitro và thời kì
cây non trong nhà lưới gồm các biến đổi về hàm lượng
nước, chất khô, cường độ thoát hơi nước, hàm lượng
proline và hoạt độ POX. Các chỉ tiêu này có ý nghĩa
lớn đối với sự trao đổi nước, khả năng giữ nước và
hoạt động phân giải H2O2 vốn có ảnh hưởng lớn tới
khả năng tồn tại cũng như sinh trưởng, phát triển của
cây in vitro trong thời kỳ luyện ex vitro và ở nhà lưới.
Những kết quả nghiên cứu về một số biến đổi sinh lí,
hóa sinh này có ý nghĩa lớn, cung cấp các thông tin
khoa học bổ ích, làm sáng tỏ cơ sở của biện pháp kĩ
thuật để luyện cây ex vitro.
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
Vật liệu nghiên cứu
Cây phong lan Đai châu in vitro có rễ được nuôi cấy
trên môi trường MS16 có bổ sung 30 g/L đường su-
crose, 2 g/L than hoạt tính, 6 g/L agar (hãng sản
xuất Qualigens, Mumbai, India). Mười bình cây (5
cây/bình) được đặt trong phòng nuôi cây với điều kiện
nhiệt độ 25C/22C (ngày/đêm), chu kì 12 h sáng/12
h tối, chiếu sáng với đèn huỳnh quang (hãng Rạng
Đông, Việt Nam, cường độ ánh sáng khoảng 1920–
1990 lux). Cây có 2-3 lá được sử dụng cho quá trình
luyện ex vitro. Bình chứa cây được cho tiếp xúc với
ánh sáng tự nhiên 7 ngày bằng cách đặt trong nhà
lưới, sau đó agar được loại bỏ, ngâm cây 5 phút trong
dung dịch KMnO4 0,1%, đặt trên bề mặt thoáng (có
khay chứa nước ở dưới) trong thời gian 7 ngày kế
tiếp, phun sương hai lần/ngày, sau đó cây được trồng
trong chậu nhựa (đường kính 10 cm) có giá thể là hỗn
hợp rêu và than sinh học (tỷ lệ 1:1), đặt trong nhà
lưới tại Khoa Khoa học Tự nhiên, Trường Đại học
Hùng Vương, thời gian nghiên cứu từ tháng 3/2016
đến tháng 9/2016. Các mẫu lá được thu vào các thời
điểm: cây in vitro trước khi chuyển ra tiếp xúc với ánh
sáng tự nhiên (ngày 0), cây in vitro đã tiếp xúc với ánh
sáng tự nhiên 7 ngày (ngày 7), cây ex vitro được cho
ra khỏi bình và đặt trên bề mặt thoáng 7 ngày (ngày
14), cây được trồng trên giá thể sau 28, 84 và 140 ngày
tính từ ngày 0 (ngày 28, ngày 84 và ngày 140).
Phương pháp nghiên cứu
Ba lá của ba cây khác nhau (một lá/cây) được thu
ngẫu nhiên để thực hiện các phân tích sinh lí, hóa
sinh. Cây lan tươi được cân bằng cân kĩ thuật (Pio-
neer TM, Ohaus Corp., Mỹ), sau đó sấy khô đến khối
lượng không đổi ở 80oC, cân khối lượng khô. Hàm
lượng nước, hàm lượng chất khô được tính trên cơ sở
khối lượng tươi và khối lượng khô của mẫu nghiên
cứu17. Cường độ thoát hơi nước được xác định bằng
phương pháp cân nhanh 17. Hàm lượng proline được
xác định theo phươngphápquanghọc theoBates và cs
(1973)18. 0,2 g lá tươi mỗi mẫu được nghiền với 5 mL
sulfosalicylic acid 3%, li tâm tốc độ 10000 vòng/phút ở
4oC trong 20 phút, 2 mL dịch nổi sau li tâm được cho
phản ứng với 2 mL ninhydrin và 2 mL acid acetic, ủ
trong nước nóng 100oC trong 60 phút sau đó ủ trong
nước đá 5 phút. Bổ sung vào ống nghiệm phản ứng 4
mL toluen, lắc đều, lấy phần dịch nổi màu hồng và đo
giá trị mật độ quang (OD) ở bước sóng 520 nm. Hàm
lượng proline được xác định dựa vào đường chuẩn17.
Hoạt độGPXđược xác định bằng phương pháp quang
phổ với cơ chất phản ứng là guaiacol theo Fielding
and Hall (1978)19. 0,4 g lá tươi mỗi mẫu được nghiền
trong 1 mL đệm phosphate 0,1 M pH 7. Li tâm ở tốc
độ 10000 vòng/phút ở 4oC trong 10 phút. 0,1 mL dịch
li tâm được chuyển sang ống phản ứng, bổ sung 3 mL
dung dịch đệm phosphate 0,1 M pH 7, 0,05 mL dung
dịch guaiacol và 0,03 mL dung dịch H2O2 12,3 mM,
đo giá trị OD ở 430 nm 17. Các chỉ tiêu phân tích ở
mỗi thời điểm gồm bamẫu được thu ngẫu nhiên. Các
giá trị trung bình, độ lệch chuẩn (SD), và sự khác biệt
giữa các giá trị trung bình được kiểm định bằng phép
kiểm tra Duncan (p=0,05) bằng phần mềm SPSS.
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Hàm lượng nước, chất khô
Hình 1: Hàm lượng nước trong lá phong lan Đai
châu thời kì luyện ex vitro và trong nhà lưới. Thanh
sai số thể hiện giá trị độ lệch chuẩn. Các thanh sai
số được đánh dấu cùng chữ cái không khác nhau có
ý nghĩa thống kê (p=0,05) khi kiểm định với phép
kiểm tra Duncan.
Khi chuyển cây in vitro ra khỏi bình nuôi cây trong
quá trình luyện cây ex vitro, độ ẩm không khí là một
trong những điều kiện sống thay đổi rõ nét nhất, từ
thường ở mức gần bão hòa hoặc bão hòa trong môi
trường in vitro giảm xuống khoảng 70–80% ở không
khí bên ngoài. Khi chuyển cây từ in vitro sang ex vitro,
754
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Tự nhiên, 4(4):753-759
Hình 2: Hàm lượng chất khô trong lá phong lan Đai
châu thời kì luyện ex vitro và trong nhà lưới. Thanh
sai số thể hiện giá trị độ lệch chuẩn. Các thanh sai
số được đánh dấu cùng chữ cái không khác nhau có
ý nghĩa thống kê (p=0,05) khi kiểm định với phép
kiểm tra Duncan.
sự giảm hàm lượng nước trong mô cây táo 5 hoặc cây
riềng đã được báo cáo 20.
Khi nghiên cứu hàm lượng nước trong cây phong lan
Đai châu trong và sau quá trình luyện cây ex vitro,
chúng tôi nhận thấy hàm lượng nước cao khi cây còn
trong bình nuôi in vitro (ngày 0 và ngày 7 của quá
trình luyện ex vitro), đạt trên 92% khối lượng tươi.
Tuy nhiên, khi đưa cây ra khỏi bình in vitro, hàm
lượng nước giảm xuống còn 90,36% khối lượng tươi
(ngày 14). Hàm lượng nước trong cây Đai châu vẫn
thấp ở ngày 28 nhưng sau đó tăng lên bằng mức hàm
lượng nước trong cây in vitro ở các cây 84 và 140 ngày
tuổi, lần lượt bằng 92,52% và 92,34% sinh khối tươi
(Hình 1).
Hàm lượng chất khô trong cây lan Đai châu thời kì
luyện ex vitro và trong vườn ươm biến đổi ngược lại
với hàm lượng nước (Hình 2). Cây in vitro có hàm
lượng chất khô không cao, lần lượt đạt 7,29% (ngày 0)
và 7,74% (ngày 7) khối lượng tươi. Hàm lượng chất
khô tăng lên ở thời điểm ngày 14 và ngày 28, bằng
9,63% và 9,83% khối lượng tươi. Tuy nhiên, đến thời
điểm ngày 84 và ngày 140, hàm lượng chất khô trong
cây lần lượt đạt 7,51% và 7,65%. Sự biến đổi hàm
lượng nước và hàm lượng chất khô trong cây lan Đai
châu ở thời kì luyện ex vitro có thể do sự thay đổi về
độ ẩm củamôi trường sống. Trong những thời kì đầu,
khi độ ẩm môi trường giảm xuống đột ngột, cây mất
nước dẫn tới hàm lượng nước giảm, ngược lại hàm
lượng chất khô tăng lên. Một nguyên nhân khác có
thể làm hàm lượng nước giảm, hàm lượng chất khô
tăng là hoạt động quang hợp của cây mạnh hơn ở cây
ex vitro so với cây in vitro như ở khoai tây21. Các
kết quả nghiên cứu của chúng tôi khẳng định những
nghiên cứu khác về hàm lượng nước trong cây táo ở
thời kì luyện ex vitro, ở loài này, cây in vitro có hàm
lượng nước cao (gần 90%), hàm lượng nước này giảm
xuống khoảng 60% vào ngày thứ 5 rồi tăng dần trở lại,
đạt tới gần 90% vào ngày thứ 25 và 30 của quá trình
luyện cây5. Kết quả phân tích cho thấy hàm lượng
nước của cây lan Đai châu cho thấy sau thời gian mất
nước mạnh ở giai đoạn đầu của quá trình luyện cây
ex vitro, hàm lượng nước đã khôi phục ở mức cao sau
84 ngày thể hiện trạng thái nước bình thường của cây
trong nhà lưới (lan Đai châu là cây thuộc nhóm thực
vật mọng nước CAM).
Cường độ thoát hơi nước
Thoát hơi nước là quá trình sinh lý giữ vai trò quan
trọng trong việc duy trì trạng thái nước, nhiệt độ lá,
sự hấp thu dinh dưỡng khoáng đồng thời giữ vai trò
quan trọng đối với hoạt động quang hợp và hô hấp ở
thực vật22.
Hình 3: Cường độ thoát hơi nước qua lá phong lan
Đai châu thời kì luyện ex vitro và trong nhà lưới.
Thanh sai số thể hiện giá trị độ lệch chuẩn. Các
thanh sai số được đánh dấu cùng chữ cái không
khác nhau có ý nghĩa thống kê (p=0,05) khi kiểm
định với phép kiểm tra Duncan.
Cường độ thoát hơi nước mạnh nhất ở lá của cây
phong lan Đai châu in vitro (ngày 0), đạt mức 0,146
g/dm2/h. Ở ngày 7, cường độ thoát hơi nước giảm
xuống mức 0,097 g/dm2/h. Cường độ thoát hơi nước
của lá giảm xuống mức thấp nhất ở thời điểm ngày
14, có thể, ở thời điểm này, cây đã mất nước nhiều
nhất, hàm lượng nước trong cây còn thấp nhất nên
lượng nước đi ra theo con đường thoát hơi nước giảm
thấp. Ở các thời điểm ngày 28, ngày 84 và ngày 140,
cường độ thoát hơi nước của lá cây lan Đai châu đều
thấp hơn so với ở ngày 0 (Hình 3). Một số nghiên cứu
cũng đã chỉ ra cây in vitro có cường độ thoát hơi nước
qua lá lớn, nguyên nhân có thể do độ mở khí khổng
lớn hoặc do cây in vitro có ít sáp hoặc ít lông trên bề
mặt lá trong khi mật độ khí khổng lớn. Khi cây được
755
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Tự nhiên, 4(4):753-759
đưa ra ngoài tự nhiên, cường độ thoát hơi nước giảm
do khí khổng đóng bớt lại hoặc có thể do tổ chức sáp
hoặc lông trên bề mặt lá phát triển hơn, mật độ khí
khổng giảm, sự tiêu phí nước qua quá trình thoát hơi
nước đã ổn định, giúp cây thích nghi với môi trường
tự nhiên 21,23–27.
Hàm lượng proline
Hình 4: Hàm lượng proline trong lá phong lan Đai
châu thời kì luyện ex vitro và trong nhà lưới. Thanh
sai số thể hiện giá trị độ lệch chuẩn. Các thanh sai
số được đánh dấu cùng chữ cái không khác nhau có
ý nghĩa thống kê (p=0,05) khi kiểm định với phép
kiểm tra Duncan.
Proline thuộc nhómacid amine tự do, ưa nước, có khả
năng hòa tan mạnh trong nước và tạo áp suất thẩm
thấu cho tế bào. Acid amine này được tích lũy trong
tế bào thực vật trong điều kiện sinh lí bình thường và
khi bị stress. Từ lâu, proline được chứng minh có rất
nhiều vai trò trong sự phát triển cũng như tính chống
chịu của thực vật, đặc biệt khi môi trường sống thay
đổi28,29.
Kết quả phân tích hàm lượng proline trong mô lá của
cây phong lan Đai châu ở các giai đoạn luyện cây
(Hình 4) cho thấy rằng hàm lượng proline trong lá
đạt 73,74 mg/g ở 0 ngày nhưng tăng lên132,36 mg/g ở
ngày 7. Hàm lượng của acid amine này trong lá tiếp
tục tăng cao ở thời điểm ngày 14 (150,83 mg/g lá tươi).
Ở các thời điểm sau, hàm lượng proline giảm xuống,
bằng (ngày 28) hoặc thấp hơn (ngày 84 và ngày 140)
so với ở thời điểm ban đầu. Có thể khi chuyển cây ra
khỏi phòng nuôi cây, ánh sáng và sựmất nước đã kích
hoạt cơ chế tự vệ bằng cách tăng sinh tổng hợp pro-
line giống như ở nhiều loài thực vật đã biết khác khi
bị đặt trong điều kiện stress28,29. Rất gần đây, trong
nghiên cứu về quá trình luyện cây Pitcairnia encholiri-
oides (họ Dứa, Bromeliaceae) in vitro của Resende et
al. (2016), hàm lượng proline trong lá cây ex vitro
(ngày 180) cao hơn so với cây in vitro (ngày 150 trong
ống nghiệm không đóng nắp) chứa môi trường dinh
dưỡng nhân tạo có bổ sung GA3. Tuy nhiên, ở loài
này, trong điều kiện ống nghiệm được đóng nắp, hàm
lượng proline hầunhư không thay đổi giữa cây ex vitro
so với cây in vitro. Cũng trong cùng nghiên cứu, nếu
môi trường dinh dưỡng nhân tạo có bổ sung NAA thì
hàm lượng proline trong lá cây in vitro lại cao hơn so
với trong lá cây ex vitro 13. Hàm lượng proline (amino
acid được tổng hợp trong điều kiện cây bị tác động
của stress) giảm xuống ở cuối giai đoạn luyện cây gợi
ý rằng cây đã không còn chịu tác động của stress mất
nước. Kết quả nghiên cứu này cũng có sự liên hệ với
hàm lượng nước cao trong mô lá cây lan Đai châu và
sự thoát hơi nước đã ổn định ở cây đã thích nghi với
môi trường vào cuối giai đoạn luyện cây.
Hoạt độ guaiacol peroxidase (GPX)
Ở thực vật, các POX liên quan đến rất nhiều các quá
trình sinh lý như sự phát triển vách tế bào, chữa lành
vết thương, các cơ chế chống tác nhân gây bệnh và loại
bỏ H2O2 hình thành trong dịch bào cũng như lục lạp,
chống độc tính của kim loại nặng cũng như các gốc
oxi tự do hình thành từ các stress oxi hóa hay trao
đổi chất tế bào 30. Hoạt độ POX thường tăng lên khi
cây chịu tác động của các stress sinh học và phi sinh
học31.
Hình 5: Hoạt độ GPX phong lan Đai châu thời kì
luyện ex vitro. Thanh sai số thể hiện giá trị độ lệch
chuẩn. Các thanh sai số được đánh dấu cùng chữ
cái không khác nhau có ý nghĩa thống kê (p=0.05)
khi kiểm định với phép kiểm tra Duncan.
Hoạt độ GPX của mô lá cây phong lan Đai châu đã
được phân tích trong quá trình luyện cây và ở cây non
trong vườn ươm (Hình 5). So với cây ở ngày 0, cây
lan Đai châu ở các thời điểm nghiên cứu sau của quá
trình luyện cây ex vitro hay trong nhà lưới đều có hoạt
độ GPX cao hơn. Hoạt độ GPX tăng mạnh ở ngày 7
(bằng 2,23 lần so với ở ngày 0) và tăng cao nhất ở ngày
14 (bằng 2,77 lần so với ở ngày 0) khi cây mất nhiều
nước nhất. Sau đó hoạt độ GPX giảm xuống ở ngày
756
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Tự nhiên, 4(4):753-759
28 (bằng 1,37 lần so với ở ngày 0) và lại tăng lên ở các
ngày 84 và 140 (lần lượt bằng 1,74 và 2,11 lần so với ở
ngày 0).
Biến động hoạt độ GPX trong cây lan Đai châu ở thời
kì đầu luyện ex vitro trong nghiên cứu này có điểm
tương đồng với biến động hoạt độ GPX ở cây cỏ ngọt,
theo đó, hoạt độ GPX ở cây cỏ ngọt ở các ngày 2, 7,
14 của quá trình luyện ex vitro tăng cao hơn hai lần
so với cây in tro, sau đó giảm dần ở giai đoạn ngày 21
(bằng 1,2 lần so với ở cây in vitro) và ngày 28 (bằng
với ở cây in vitro)9. Sự biến động hoạt độ GPX của
cây lan Đai châu trong nghiên cứu này cũng có thể
so sánh với sự biến động ascorbate peroxidase (APX)
ở cây Đầu đài Ấn Độ 12, hoạt độ enzyme này của cây
in vitro thấp hơn so với ở cây ex vitro trong 28 ngày
luyện cây. Hai enzyme này đã được chứng minh cùng
có hoạt độ tăng lên khi cây gặp điều kiện bất lợi 31. Sự
tăng trở lại hoạt độ GPX ở các thời điểm ngày 84 và
140 trong nhà lưới có thể liên quan đến sự sinh trưởng
của cây lan Đai châu đã thích nghi với môi trường tự
nhiên, vì GPX đã được chứng minh có hoạt độ cao
liên quan đến sự làm cứng thành tế bào, một bộ phận
của quá trình biệt hóa ở thực vật 9.
Nhìn chung, kết quả phân tích hàm lượng proline,
hoạt độ enzyme GPX có sự liên quan đến hàm lượng
nước, hàm lượng chất khô cũng như cường độ thoát
hơi nước trong nghiên cứu này. Ở giai đoạn in vitro,
cây có hàm lượng nước cũng như cường độ thoát hơi
nước cao hơn so với cây luyện ex vitro, ngược lại, hàm
lượng proline và hoạt độ GPX thấp hơn. Trong các
thời điểm ngày 7, 14, 28 của quá trình luyện, khi cây
được đưa ra khỏi bình in vitro, đã có hiện tượng stress
mất nước diễn ra ở các mức độ khác nhau, dẫn tới
kích hoạt các phản ứng hoạt hóa enzyme chống oxi
hóa guaiaciol peroxidase cũng như sinh tổng hợp chất
bảo vệ thẩm thấu proline, dẫn tới cường độ thoát hơi
nước giảm xuống, tích lũy chất khô. Đã có nghiên
cứu chỉ ra khi sử dụng proline ngoại sinh đã làm
tăng sự tích lũy sinh khối và kiểm soát sự mất nước
tốt hơn ở cây lan Cattleya walkeriana in vitro32. Ở
các thời điểm 84 và 140 ngày trong nhà lưới, hàm
lượng nước trong cây được khôi phục, tác động của
stressmất nước giảm xuống, nên hoạt độGPX và hàm
lượng proline đều giảm xuống. Các dấu hiệu này đều
góp phần chứng minh quá trình luyện cây ex vitro đã
thành công, cây đã không còn bị stress khi được đưa
ra khỏi môi trường in vitro.
KẾT LUẬN
Trong nghiên cứu này, một số đặc điểm sinh lí của
cây phong lan Đai châu có nguồn gốc in vitro ở thời
kì ex vitro và trong nhà lưới đã được phân tích. So
với ở ngày 0, cây ở ngày 7 trong quá trình luyện cây
vẫn có hàm lượng nước tương đương nhưng cường
độ thoát hơi nước giảm thấp hơn, ngược lại, hoạt độ
GPX và hàm lượng proline lại cao hơn. Hàm lượng
nước và cường độ thoát hơi nước của cây giảm thấp
nhất ở ngày 14, ngược lại, hàm lượng proline và hoạt
độ GPX tăng cao nhất. Cây ở các thời điểm ngày 84
và ngày 140 trong nhà lưới có hàm lượng nước tương
đương với thời kì in vitro nhưng cường độ thoát hơi
nước cũng như hàm lượng proline thấp hơn. Ngược
lại, hoạt độ GPX trong cây ở các thời điểm này đều
cao hơn so với ở ngày 0.
DANHMỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
GPX: guaiacol peroxidase
POX: peroxidase
XUNGĐỘT LỢI ÍCH
tác giả cam đoan không có xung đột lợi ích trong công
bố bài báo này.
ĐÓNGGÓP CỦA TÁC GIẢ
Tác giả Cao Phi Bằng thiết kế, thực hiện nghiên cứu
và phân tích kết quả nghiên cứu, viết bản thảo bài báo.
TÀI LIỆU THAMKHẢO
1. Bui VL, Phuong NTH, Hong LTA, Thanh Van KT. High fre-
quency shoot regeneration from Rhynchostylis gigantea (Or-
chidaceae) using thin cell layers. Plant Growth Regul.
1999;28(3):179–185. Available from: https://doi.org/10.1023/
A:1006210100775.
2. Rittirat S, Te-chato S, Kongruk S. Micropropagation of Chang
Daeng (Rhynchostylis gigantea var. Sagarik) by embryogenic
callus. Sonklanakarin J Sci Technol. 2011;33(6):659.
3. Li Z-Y, Xu L. In vitro propagation of white-flower mutant of
Rhynchostylis gigantea (Lindl.) Ridl. through immature seed-
derived protocorm-like bodies. J Hortic For. 2009;1(6):093–
097.
4. Chandra S, Bandopadhyay R, Kumar V, Chandra R. Acclima-
tization of tissue cultured plantlets: from laboratory to land.
Biotechnol Lett. 2010;32(9):1199–1205. PMID: 20455074.
Available from: https://doi.org/10.1007/s10529-010-0290-0.
5. Díaz-Pérez JC, Sutter EG, Shackel KA. Acclimatization and sub-
sequent gas exchange, water relations, survival and growth
of microcultured apple plantlets after transplanting them in
soil. Physiol Plant. 1995;95(2):225–232. Available from: https:
//doi.org/10.1111/j.1399-3054.1995.tb00831.x.
6. Misalova A, Durkovic J, Mamonova M, Priwitzer T, Lengyelova
A, Hladka D, et al. Changes in leaf organisation, photosyn-
thetic performance and wood formation during ex vitro ac-
climatisation of black mulberry (Morus nigra L.). Plant Biol
(Stuttg). 2009;11(5):686–693. PMID: 19689776. Available from:
https://doi.org/10.1111/j.1438-8677.2008.00166.x.
7. Silva AR, de Melo NF, Yano-Melo AM. Acclimatization of mi-
cropropagated plants of Etlingera elatior (Jack) R. M. Sm. in-
oculated with arbuscular mycorrhizal fungi. S Afr J Bot.
2017;113:164–169. Available from: https://doi.org/10.1016/j.
sajb.2017.08.014.
8. Silva JAT, Hossain MM, Sharma M, Dobránszki J, Cardoso JC,
Songjun Z. Acclimatization of in Vitro-derived Dendrobium.
Hortic Plant J. 2017;3(3):110–124. Available from: https://doi.
org/10.1016/j.hpj.2017.07.009.
757
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Tự nhiên, 4(4):753-759
9. Acosta-Motos JR, Noguera-Vera L, Barba-Espín G, Piqueras A,
Hernández JA. Antioxidant Metabolism and chlorophyll flu-
orescence during the acclimatisation to Ex Vitro Conditions
of micropropagated Stevia rebaudiana Bertoni Plants. An-
tioxidants. 2019;8(12):615. PMID: 31817031. Available from:
https://doi.org/10.3390/antiox8120615.
10. Sairam RK, Deshmukh PS, Saxena DC. Role of antioxidant sys-
tems in wheat genotypes tolerance to water stress. Biol Plant.
1998;41(3):387–394. Available from: https://doi.org/10.1023/
A:1001898310321.
11. Jahan AA, Anis M. Changes in antioxidative enzymatic re-
sponses during acclimatization of in vitro raised plantlets of
Cardiospermum halicacabum L. against oxidative stress. J
Plant Physiol Pathol. 2014;4(2). Available from: https://doi.org/
10.4172/2329-955X.1000137.
12. Faisal M, Anis M. Effect of light irradiations on photosyn-
thetic machinery and antioxidative enzymes during ex vitro
acclimatization of Tylophora indica plantlets. J Plant Inter-
act. 2010;5(1):21–27. Available from: https://doi.org/10.1080/
17429140903137652.
13. Resende CF, Braga VF, Pereira PF, Silva CJ, Vale VF, Bianchetti
RE, et al. Proline levels, oxidative metabolism and photosyn-
thetic pigments during in vitro growth and acclimatization
of Pitcairnia encholirioides LB Sm.(Bromeliaceae). Braz J Biol.
2016;76(1):218–227. PMID: 26909639. Available from: https:
//doi.org/10.1590/1519-6984.19314.
14. Huh YS, Lee JK, Nam SY. Improvement of ex vitro acclima-
tization of mulberry plantlets by supplement of abscisic
acid to the last subculture medium. J Plant Biotechno.
2017;44(4):431–437. Available from: https://doi.org/10.5010/
JPB.2017.44.4.431.
15. Bằng CP, Huyền TTT, Phương TTT. Biến động hàm lượng sắc tố
quang hợp, huỳnh quang chlorophyll và hoạt độ catalase của
cây phong lan đai châu (Rhynchostylis gigantea) trong thời kì
luyện ex vitro. Hội nghị khoa họcQuốc gia lần thứ 2 vềNghiên
cứu và giảng dạy Sinh học ở Việt Nam. Đà Nẵng, Việt Nam:
NXB Đại học Quốc gia Hà Nội. 2016;p. 75–82.
16. Murashige T, Skoog F. A revised medium for rapid growth
and bio-assays with tobacco tissue cultures. Physiol Plant.
1962;15(3):473–497. Available from: https://doi.org/10.1111/
j.1399-3054.1962.tb08052.x.
17. Mã NV, Hồng LV, Phong ÔX. Phương pháp nghiên cứu Sinh lý
học thực vật. Hà Nội: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội. 2013;p.
97–100–166–168.
18. Bates LS, Waldren RP, Teare ID. Rapid determination of free
proline for water-stress studies. Plant Soil. 1973;39(1):205–
207. Available from: https://doi.org/10.1007/BF00018060.
19. Fielding JL, Hall JL. A biolchemical and cytochemical study of
peroxidase activity in roots of Pisum sativum: I. a compari-
son of DAB-peroxidase and guaiacol-peroxidase with partic-
ular emphasis on the properties of cell wall activity. J Exp Bot.
1978;29(4):969–981. Available from: https://doi.org/10.1093/
jxb/29.4.969.
20. Dương VX, Bằng CP. Biến đổi sinh lý, hóa sinh của cây riềng
bản địa Bắc Kạn (Alpinia sp.) in vitro trong thời kì ra ngôi ex
vitro. Hội nghị khoa học Quốc gia lần thứ 2 về Nghiên cứu và
giảng dạy Sinh học ở Việt Nam. Đà Nẵng, Việt Nam: NXB Đại
học Quốc gia Hà Nội. 2016;p. 910–917.
21. Pospóšilová J, Tichá I, Kadleček P, Haisel D, Plzáková Š. Ac-
climatization of micropropagated plants to ex vitro condi-
tions. Biol Plant. 1999;42(4):481–497. Available from: https:
//doi.org/10.1023/A:1002688208758.
22. Yoo CY, Pence HE, Hasegawa PM, Mickelbart MV. Regulation
of transpiration to improve crop water use. Crit. Rev Plant Sci.
2009;28(6):410–431. Available from: https://doi.org/10.1080/
07352680903173175.
23. Kumar K, Rao IU.Morphophysiologicals problems in acclimati-
zation of micropropagated plants in-ex vitro conditions-A re-
view. J OrnamHortic Plants. 2012;2(4):271–283.
24. Tichá I, RadochováB, KadlečekP. Stomatalmorphologyduring
acclimatizationof tobaccoplantlets to ex vitro conditions. Biol
Plant. 1999;42(3):469–474. Available from: https://doi.org/10.
1023/A:1002450210939.
25. Pospíšilová J, Wilhelmová Na, Synková H, Čatský J, Krebs D,
Tichá I, et al. Acclimation of tobacco plantlets to ex vitro con-
ditions as affected by application of abscisic acid. J Exp
Bot. 1998;49(322):863–869. Available from: https://doi.org/10.
1093/jxb/49.322.863.
26. Chirinéa CF, Pasqual M, Araujo AGd, Pereira AR, Castro EMd.
Acclimatization and leaf anatomy of micropropagated fig
plantlets. Rev Bras Frutic. 2012;34(4):1180–1188. Available
from: https://doi.org/10.1590/S0100-29452012000400027.
27. Darwesh, Rasmia SS. Morphology, physiology and anatomy in
vitro affected acclimatization ex vitro date palm plantlets: A
Review. Int. J. Chem. Environ Biol Sci. 2015;3(2):183–190.
28. Szabados L, Savoure A. Proline: a multifunctional amino acid.
Trends Plant Sci. 2010;15(2):89–97. PMID: 20036181. Available
from: https://doi.org/10.1016/j.tplants.2009.11.009.
29. Hayat S, Hayat Q, Alyemeni MN, Wani AS, Pichtel J, Ahmad A.
Role of proline under changing environments: a review. Plant
Signal Behav. 2012;7(11):1456–1466. PMID: 22951402. Avail-
able from: https://doi.org/10.4161/psb.21949.
30. Shigeto J, Tsutsumi Y. Diverse functions and reactions of class
III peroxidases. New Phytol. 2016;209(4):1395–1402. PMID:
26542837. Available from: ttps://doi.org/10.1111/nph.13738.
31. Lotfi N, Vahdati K, Hassani D, Kholdebarin B, Amiri R, editors.
Peroxidase, guaiacol peroxidase and ascorbate peroxidase ac-
tivity accumulation in leaves and roots of walnut trees in re-
sponse to drought stress. VI InternationalWalnut Symposium.
2010;p. 309–316. Available from: https://doi.org/10.17660/
ActaHortic.2010.861.42.
32. Silva AB, Reis CO, Cazetta JO, Carlin SD, Landgraf PRC, Reis MC.
Effects of exogenous proline and a natural ventilation system
on the in vitro growth of orchids. Biosc J. 2016;32(3):619–
626. Available from: https://doi.org/10.14393/BJ-v32n3a2016-
31368.
758
Science & Technology Development Journal – Natural Sciences, 4(4):753-759
Open Access Full Text Article Research Article
Hung Vuong University, Vietnam
Correspondence
Cao Phi Bang, Hung Vuong University,
Vietnam
Email: phibang.cao@hvu.edu.vn
History
Received:27-2-2019
Accepted:23-9-2020
Published:25-10-2020
DOI :10.32508/stdjns.v4i4.960
Copyright
© VNU-HCM Press. This is an open-
access article distributed under the
terms of the Creative Commons
Attribution 4.0 International license.
Some physiological and biochemical changes of micropropagated
Rhynchostylis gigantea during ex vitro acclimatization and
greenhouse stages
Cao Phi Bang*
Use your smartphone to scan this
QR code and download this article
ABSTRACT
The ex vitro acclimatization and greenhouse periods play a significant role for the in vitro originated
plantlets. In these stages, the micropropagated plantlets have to rapidly adapt to environmental
changes. Rhynchostylis gigantea is widely in vitro produced due to highly aesthetic and economic
value. The aim of this work was to update the physiological changes of micropropagated R. gigantea
plantlets during ex vitro acclimatization and greenhouse stages. The analysis results showed that
leaf water content was significantly decreased at day 14 (90.36%) and day 28 (90.17%) stages but
increased at day 84 (92.52%) and day 140 (92.34%) stages in compared to in vitro stages, day 0
(92.7%). Dry matter content was changing in the opposite direction to the leaf water content with
the highest values at day 14 (9.63%) and day 28 (9.83%), respectively. The leaf transpiration rate was
the highest at day zero (0.146 g/dm2/h) in compared to all other studied points. Oppositively, GPX
activity was the lowest in plantlets at day zero (13.2 UI/g fresh leaf ) and the highest in planlets at
day 14 (36,4 UI/g fresh leaf ). The leaf proline content was higher at day 7 and day 14 stages (132.3
and 150.8 m g/g fresh leaf, respectively) but lower at day 84 and day 140 stages (44.3 and 53.3 m g/g
fresh leaf, respectively) than at day zero (73.7 m g/g fresh leaf ).
Key words: ex vitro acclimatization, in vitro, guaiacol peroxidase, proline, Rhynchostylis gigantea
Cite this article : Bang C P. Some physiological and biochemical changes of micropropagated Rhyn-
chostylis gigantea during ex vitro acclimatization and greenhouse stages. Sci. Tech. Dev. J. - Nat. Sci.;
4(4):753-759.
759
Các file đính kèm theo tài liệu này:
mot_so_bien_doi_sinh_li_hoa_sinh_cua_cay_phong_lan_dai_chau.pdf