Một số kĩ năng sống cần giáo dục cho sinh viên học viện chính trị công an nhân dân

Giáo dục KNS cho SV Học viện Chính trị CAND là một trong những nội dung giáo dục cần thiết, đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ công tác. Bởi, sau khi tốt nghiệp, SV sẽ trở thành những người cán bộ, chiến sĩ công an làm công tác bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự an toàn xã hội thì những KNS cần rèn luyện phải liên quan đến hoạt động nghiệp vụ của lực lượng công an như kĩ năng: nói, viết, trình bày, thuyết phục; hợp tác, làm việc nhóm; tổ chức công việc; kĩ năng quản lí, sử dụng

pdf6 trang | Chia sẻ: huongthu9 | Ngày: 19/08/2021 | Lượt xem: 217 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Một số kĩ năng sống cần giáo dục cho sinh viên học viện chính trị công an nhân dân, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
VJE Tạp chí Giáo dục, Số 433 (Kì 1 - 7/2018), tr 27-31; 49 27 MỘT SỐ KĨ NĂNG SỐNG CẦN GIÁO DỤC CHO SINH VIÊN HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ CÔNG AN NHÂN DÂN Vũ Thị Hương Lý - Học viện Chính trị Công an nhân dân Ngày nhận bài: 07/03/2018; ngày sửa chữa: 12/03/2018; ngày duyệt đăng: 27/04/2018. Abstract: Life skills education is an important content to train skills and improve knowledge for cadets at People’s Public Security Political Academy with aim to meet the requirements of building a revolutionary, regular, elite and modern people’s public security force. Based on the characteristics in learning and limitations on life skills of students at the People’s Public Security Political Academy, the article points out some key life skills for students that must be trained in current period. Keywords: Life skills, education, students, public security, People’s Public Security Political Academy. 1. Mở đầu Sinh viên (SV) Học viện Chính trị Công an nhân dân (CAND) bên cạnh những đặc điểm chung của SV Việt Nam như giàu nghị lực, ước mơ, hoài bão thì cần có những đặc điểm riêng đáp ứng những tiêu chuẩn về chính trị, tư tưởng, thể lực, trí lực của Bộ Công an. SV Học viện Chính trị CAND bao gồm những đối tượng: Là học sinh (HS) đã tốt nghiệp trung học phổ thông được trúng tuyển trong kì thi tuyển sinh quốc gia của Bộ GD-ĐT và Bộ Công an; những hạ sĩ quan, chiến sĩ đang công tác tại các đơn vị công an và con em vùng đồng bào dân tộc ít người được cử đi học. Do quy luật phát triển không đồng đều về mặt tâm lí bởi điều kiện, hoàn cảnh sống, môi trường giáo dục nên SV Học viện Chính trị CAND không được phát triển tối ưu như nhau. Do đó, việc giáo dục kĩ năng sống (KNS) cho SV là một trong những nội dung giáo dục cần thiết nhằm đáp ứng mục tiêu đào tạo ra những cán bộ, chiến sĩ Công an có lập trường chính trị vững vàng, có trình độ sâu về chuyên môn nghiệp vụ, có phẩm chất đạo đức tốt đáp ứng được yêu cầu xây dựng lực lượng CAND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Bài viết này đề cập những KNS cần được giáo dục cho SV chính quy của Học viện Chính trị CAND. 2. Nội dung nghiên cứu 2.1. Một số vấn đề lí luận 2.1.1. Khái niệm “kĩ năng sống” Có nhiều quan niệm khác nhau về KNS: Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) “KNS là khả năng để có hành vi thích ứng (adaptive) và tích cực (positive), giúp các cá nhân có thể ứng xử hiệu quả trước các nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày” [1; tr 3]. Theo Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF): “KNS là cách tiếp cận giúp thay đổi hoặc hình thành hành vi mới” [1; tr 3]. Cách tiếp cận này lưu ý đến sự cân bằng về tiếp thu kiến thức, hình thành thái độ và kĩ năng. Theo Tổ chức văn hoá, khoa học và giáo dục Liên hợp quốc (UNESCO), KNS gắn với 4 trụ cột của giáo dục, đó là: Học để biết (learning to know), gồm các kĩ năng tư duy như: tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định, giải quyết vấn đề, nhận thức được hậu quả...; Học để làm (Learning to do) gồm kĩ năng thực hiện công việc và các nhiệm vụ như: kĩ năng đặt mục tiêu, đảm nhận trách nhiệm,...; Học để khẳng định mình (Learning to be) gồm các kĩ năng cá nhân như: ứng phó với căng thẳng, kiểm soát cảm xúc, tự nhận thức...; Học để chung sống với người khác (Learning to live together) gồm các kĩ năng xã hội như: giao tiếp, thương lượng, tự khẳng định, hợp tác, làm việc theo nhóm, thể hiện sự cảm thông [1; tr 3]. Từ những khái niệm trên đây có thể thấy, KNS bao gồm một loạt các kĩ năng cụ thể, cần thiết cho cuộc sống hàng ngày của con người. Bản chất của KNS là kĩ năng tự quản lí bản thân và kĩ năng xã hội cần thiết để cá nhân tự lực trong cuộc sống, học tập và làm việc hiệu quả; nói cách khác “KNS là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, là khả năng ứng xử phù hợp với những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống” [1; tr 3]. 2.1.2. Khái niệm “Giáo dục kĩ năng sống” Giáo dục KNS là một quá trình tác động sư phạm có mục đích, có kế hoạch nhằm hình thành năng lực hành động tích cực, có liên quan tới kiến thức và thái độ, giúp cá nhân có ý thức về bản thân, giao tiếp, quan hệ xã hội, thực hiện công việc, ứng phó hiệu quả với các yêu cầu thách thức của cuộc sống hàng ngày... 2.1.3. Tầm quan trọng của giáo dục kĩ năng sống - Về mặt sức khoẻ: Xây dựng hành vi sức khoẻ lành mạnh cho cá nhân và cộng đồng; biết giải quyết nhu cầu VJE Tạp chí Giáo dục, Số 433 (Kì 1 - 7/2018), tr 27-31; 49 28 cá nhân cần thiết cho sự phát triển; tự bảo vệ sức khoẻ cá nhân và cộng đồng - Về mặt giáo dục: Tạo mối quan hệ tốt giữa thầy - trò, bạn - bạn; tạo hứng thú trong học tập; chủ động, tự giác trong học tập, tu dưỡng chuẩn mực đạo đức. - Về mặt văn hóa xã hội: Xây dựng hành vi mang tính xã hội tích cực, xây dựng môi trường và xã hội lành mạnh; sống hòa hợp trong một xã hội văn hóa đa dạng, có nền kinh tế phát triển, đất nước hội nhập quốc tế. - Về mặt kinh tế - chính trị: Tự nhận thức nhu cầu và quyền trẻ em, xác định nghĩa vụ của mình đối với bản thân, gia đình và xã hội, giúp ổn định chính trị quốc gia. - KNS giúp phát triển các kĩ năng cá nhân và xã hội; giữ gìn bản thân an toàn, trở thành người có trách nhiệm và có tinh thần độc lập, sáng tạo, biết làm chủ tình cảm, cảm xúc của bản thân. - KNS giúp con người quyết định hành vi tích cực, duy trì lối sống đúng đắn, lành mạnh, có trách nhiệm đối với sức khỏe bản thân và cộng đồng. 2.2. Cơ sở xác định những kĩ năng sống cần rèn luyện cho sinh viên Học viện Chính trị Công an nhân dân 2.2.1. Những yêu cầu nghề nghiệp Xuất phát từ đặc trưng của công tác công an là một nghề đặc biệt, khác hoàn toàn với những loại hình lao động khác trong xã hội. Đây là một công việc khó khăn, gian khổ, nhiều hiểm nguy, đòi hỏi sự hi sinh to lớn. Do đó, những yêu cầu về nghề nghiệp của công tác công an đã đặt ra cho người cán bộ, chiến sĩ công an phải là những người có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước và sự nghiệp cách mạng; có phẩm chất đạo đức tốt; có kiến thức cơ bản về pháp luật, nghiệp vụ công an; có kiến thức chuyên môn nghiệp vụ về công tác xây dựng lực lượng CAND; có sức khỏe tốt để hoàn thành nhiệm vụ được giao. Để đáp ứng những yêu cầu của nghề nghiệp, đòi hỏi SV phải có được những kĩ năng sau: - Các kĩ năng để học tập và nghiên cứu: Dựa trên việc đào tạo chuyên môn, SV cần có kĩ năng học tập và nghiên cứu, bao gồm kĩ năng tư duy phê phán để nhận định, phân tích đường lối, chính sách cụ thể và đánh giá đúng các vấn đề chính trị - xã hội. - Các kĩ năng phát triển cá nhân như: sự tự tin, quyết đoán, chủ động, hiểu biết rộng về xã hội và thế giới. - Các kĩ năng sáng tạo và linh hoạt trong công việc: Người sĩ quan CAND trong hoạt động nghiệp vụ của mình đòi hỏi phải là người có kĩ năng phân tích, tổng hợp, tham mưu đề xuất với các cấp lãnh đạo các mặt công tác công an kịp thời với hoạt động thực tiễn thường xuyên biến động của công tác đảm bảo an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự an toàn xã hội. Do đó, sáng tạo trong công việc và linh hoạt trước những tình huống sinh động của thực tiễn là yêu cầu cần thiết. Hoạt động chống phá nhà nước của các thế lực thù địch và các loại tội phạm thường diễn ra rất manh động, với nhiều âm mưu, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt và có sử dụng công nghệ cao. Vì vậy, trong công tác nghiệp vụ của lực lượng công an luôn đòi hỏi tinh thần tập thể, kĩ năng làm việc đồng đội và làm chủ công nghệ thông tin và công nghệ khác... 2.2.2. Những đặc điểm tâm lí của sinh viên Học viện Chính trị Công an nhân dân - Sự thích nghi với cuộc sống và hoạt động mới SV Học viện Chính trị CAND là những thanh niên có tuổi đời rất trẻ từ nhiều môi trường, hoàn cảnh sống khác nhau mới nhập ngũ nên sự thích nghi với cuộc sống và môi trường mới là điều kiện cần thiết để họ có thể hoàn thành tốt được nhiệm vụ học tập, rèn luyện trong những năm học tại Học viện. Do đó, những đặc điểm tâm lí của SV Học viện Chính trị CAND sẽ được hình thành và chịu sự chi phối của những hoạt động cơ bản của nhà trường, bao gồm: + Hoạt động về thể chất: Đây là hoạt động đòi hỏi cường độ, tốc độ rèn luyện thể lực cao, nhanh và mạnh mẽ trong điều kiện tự nhiên khắc nghiệt tại thao trường, bãi tập của hoạt động huấn luyện điều lệnh, quân sự, võ thuật, thể dục thể thao. + Môi trường học tập, sinh hoạt theo chế độ tập trung với yêu cầu cao về ý thức tổ chức kỉ luật nghiêm ngặt của lực lượng vũ trang. Trong những năm đầu ở nhà trường công an, SV phải thích nghi với hoạt động rèn luyện thể lực, hoạt động học tập gắn với thao trường tập luyện, giảng đường và môi trường sinh hoạt sống tập trung trong doanh trại được quản lí bằng kỉ luật nghiêm ngặt của Điều lệnh công an. Để SV thích nghi được với những vấn đề trên đòi hỏi SV phải có ý chí, nghị lực, quyết tâm vượt khó. Hoạt động học tập của SV ở bậc đại học với tính chất, yêu cầu, nội dung, phương pháp học tập mới mang tính chất nghiên cứu khoa học và nghề nghiệp của những chuyên gia tương lai với nét đặc trưng là sự căng thẳng nhiều về trí tuệ. Vì vậy, trong những giai đoạn đầu, SV đều thể hiện sự kém thích nghi, lúng túng, căng thẳng, mệt mỏi, hiệu quả học tập không cao. - Đời sống xúc cảm, tình cảm Tuổi SV là thời kì phát triển tích cực nhất của những loại tình cảm cao đẹp như tình cảm trí tuệ, tình cảm đạo đức, tình cảm thẩm mĩ, tình bạn, tình yêu, trong đó tình yêu nam nữ là một lĩnh vực rất đặc trưng. Trong lĩnh vực này, ở SV công an nói chung và SV Học viện Chính trị CAND nói riêng gặp nhiều mâu thuẫn nội tại: Đó là mâu VJE Tạp chí Giáo dục, Số 433 (Kì 1 - 7/2018), tr 27-31; 49 29 thuẫn giữa thời gian hạn hẹp do SV phải sống tập trung hoàn toàn trong nội trú với nhu cầu được tự do tìm hiểu yêu đương của tuổi trẻ. Những mâu thuẫn này luôn tồn tại cùng với khát khao được giải quyết ở SV. Thực tế đã cho thấy, những hiện tượng vi phạm kỉ luật của SV trong quá trình học tập có nguyên nhân từ mâu thuẫn này. Đặc biệt, ở lứa tuổi SV khi hoạt động nhận thức về yêu cầu nghề nghiệp đang trong giai đoạn được hình thành cùng kinh nghiệm thực tiễn công tác còn hạn chế, họ chưa có khả năng điều chỉnh cảm xúc tự nhiên của tuổi trẻ bằng hành động ý chí thì đây là điều khó tránh khỏi. Vì vậy, đây là một nội dung quan trọng cần phải xây dựng trong chương trình giáo dục KNS cho SV Học viện Chính trị CAND. - Sự phát triển một số phẩm chất nhân cách SV Học viện Chính trị CAND mang đầy đủ các đặc điểm nhân cách của SV và SV công an như: Khả năng lập kế hoạch và hành động một cách độc lập; sự biến đổi mạnh mẽ về động cơ, về giá trị nghề nghiệp; xác định con đường sống tích cực, bắt đầu thể nghiệm bản thân trong mọi lĩnh vực cuộc sống; tự ý thức phát triển mạnh mẽ; thế giới quan được hình thành rõ rệt và ngày càng phát triển [2; tr 30]. Bên cạnh đó, SV Học viện Chính trị CAND có những đặc điểm riêng. - Thứ nhất, sự phát triển nhân cách hướng vào việc hình thành, phát triển nhân cách của người sĩ quan chính trị tương lai; củng cố và phát triển xu hướng nghề nghiệp, hình thành phẩm chất và năng lực cần thiết đối với nghề nghiệp của người sĩ quan công an trong công tác Đảng, công tác chính trị; - Thứ hai, nhu cầu nhận thức của SV Học viện Chính trị CAND có những nét đặc thù thể hiện ở động cơ học tập, nghiên cứu về công tác công an mang tính chuyên môn sâu ở lĩnh vực công tác Đảng, công tác tham mưu xây dựng lực lượng với tính tự giác, tích cực cao. - Thứ ba, định hướng giá trị về nghề nghiệp được SV xác định rõ ràng, đặc biệt là những giá trị về đạo đức, chính trị, xã hội. Mối quan tâm lớn nhất của SV Học viện Chính trị CAND là có khả năng đảm nhiệm được các hoạt động của công tác công an đáp ứng được yêu cầu thực tiễn công tác công an hiện nay. Mức độ phát triển của các phẩm chất nhân cách này của SV Học viện Chính trị CAND có liên quan đến năng lực học tập của SV. Những SV có kết quả học tập cao thường chủ động, tích cực trong việc tự nhận thức, tự đánh giá, tự kiểm tra hành động, thái độ cư xử, cử chỉ giao tiếp của bản thân để hướng tới tự hoàn thiện nhân cách. Còn những SV có kết quả học tập thấp có biểu hiện thụ động đã ảnh hưởng đến việc tự giáo dục, tự hoàn thiện bản thân. 2.3. Một số kĩ năng sống cần rèn luyện cho sinh viên Học viện Chính trị Công an nhân dân 2.3.1. Kĩ năng tự đánh giá Ở lứa tuổi SV, kinh nghiệm sống còn nhiều hạn chế, chưa có kinh nghiệm trong công tác, chưa nhận thức được điểm mạnh, điểm yếu của bản thân, chưa biết cách giải quyết hợp lí khi gặp những mâu thuẫn, xung đột tâm lí... Điều đó khiến cho kết quả học tập, rèn luyện của SV chưa cao. Vì vậy, cần rèn luyện kĩ năng tự đánh giá bản thân cho SV, để SV tự ý thức được mình đang thiếu những gì trước yêu cầu của công việc để có kế hoạch tự trang bị, tự học tập, không ỷ lại hay trông chờ vào nhà trường. Để giúp SV Học viện Chính trị CAND phát triển kĩ năng tự đánh giá, cần tăng cường cho SV thực hành, trải nghiệm với các hoạt động học tập, rèn luyện trong thực tiễn công tác công an như: hoạt động dân vận, tình nguyện vì cộng đồng... Từ đó, SV sẽ có khả năng tự nhận thức, đánh giá được những năng khiếu, hạn chế của bản thân trong giao tiếp, ứng xử, vận động quần chúng tham gia vào phong trào bảo vệ an ninh tổ quốc ở địa phương, vận dụng kiến thức pháp luật và nghiệp vụ công an vào tuyên truyền, phổ biến chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước tới nhân dân, vận động nhân dân xây dựng đời sống văn hóa mới... Bên cạnh đó, tạo điều kiện cho SV giao lưu văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao với SV trong và ngoài học viện, đặc biệt là hoạt động giao lưu văn nghệ với đoàn viên thanh niên tại địa phương. Đây là hoạt động giúp SV phát triển các kĩ năng giao tiếp, mạnh dạn, tự tin, thiết lập các mối quan hệ gần gũi với tổ chức, cá nhân ngoài lực lượng công an. 2.3.2. Kĩ năng giao tiếp Giao tiếp là kĩ năng cơ bản trong công tác nghiệp vụ của lực lượng công an, trong quá trình thi hành công vụ, người cán bộ công an thường xuyên phải giao tiếp với các đối tượng khác nhau, thường xuyên phải viết, trình bày các loại văn bản pháp luật, văn bản nghiệp vụ chuyên môn, văn bản về công tác Đảng, công tác chính trị và công tác quần chúng. Chính vì vậy, việc rèn luyện cho SV kĩ năng nói, viết, trình bày khoa học, logic, chặt chẽ là một yêu cầu cần thiết. Đặc biệt, trong công tác nghiệp vụ, người cán bộ công an phải có kĩ năng thuyết phục vận động quần chúng trong hoạt động phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn các loại tội phạm và những hành vi vi phạm xã hội. Để trở thành người cán bộ công an có kĩ năng giao tiếp, ứng xử chuẩn mực, nghệ thuật và khôn khéo, có khả năng thuyết phục để có thể làm chủ trong mọi tình huống giao tiếp thì cần phải được rèn luyện. Do đó, nhà trường cần xây dựng những chương trình rèn luyện kĩ năng giao VJE Tạp chí Giáo dục, Số 433 (Kì 1 - 7/2018), tr 27-31; 49 30 tiếp cho SV thông qua các câu lạc bộ của SV như câu lạc bộ hùng biện; tổ chức các cuộc thi như thi hùng biện, thi xử lí tình huống ứng xử của lực lượng công an... Trong nội dung thực hành, thực tế, thực tập tại địa phương cần đưa nội dung thực hiện công tác vận động quần chúng vào chương trình để SV có điều kiện rèn luyện kĩ năng ứng xử, giao tiếp và thuyết phục. Bên cạnh đó, việc rèn luyện cho SV có thói quen tự rèn luyện kĩ năng giao tiếp, thuyết phục cũng là một trong những biện pháp mang lại hiệu quả cao, trong những giờ học lí thuyết trên giảng đường, những giờ luyện tập ngoài thao trường, bãi tập người giảng viên, huấn luyện viên thường xuyên phải tạo ra được những “tình huống có vấn đề” trong giao tiếp, ứng xử để SV có điều kiện thực hành trải nghiệm; qua đó, SV sẽ thu được những kinh nghiệm cần thiết trong quá trình rèn luyện văn hóa ứng xử, giao tiếp. 2.3.3. Kĩ năng hợp tác, làm việc nhóm Xuất phát từ đặc điểm học tập của SV công an nói chung và SV Học viện Chính trị CAND nói riêng là học tập và sinh hoạt theo chế độ tập trung thành các tiểu đội, trung đội và đại đội. Do đó, SV có điều kiện để rèn luyện kĩ năng hợp tác, làm việc nhóm. Tuy nhiên, thực tế cho thấy kĩ năng này ở SV Học viện Chính trị CAND còn chưa tốt với những biểu hiện như: trong học tập và rèn luyện, các “nhóm học tập” được thành lập nhưng hoạt động thưa thớt, kém hiệu quả, trong các hoạt động tình nguyện vì cộng đồng mức độ tham gia tích cực của các thành viên trong nhóm không đồng đều, có những cá nhân tích cực, nhiệt tình nhưng vẫn còn những cá nhân ngại việc, ỷ lại. Trong các phong trào thi đua, kết quả giải thưởng cao thường tập trung vào giải cá nhân, giải thưởng tập thể còn hạn chế. Công tác công an là công việc khó khăn, gian khổ, hiểm nguy, đòi hỏi trong công tác nghiệp vụ rất cần tinh thần tập thể đoàn kết, thống nhất cao mới có thể hoàn thành được nhiệm vụ. Vì vậy, giáo dục, rèn luyện cho SV kĩ năng hợp tác, làm việc nhóm là một nội dung không thể thiếu. Kĩ năng hợp tác, làm việc nhóm là một kĩ năng không dễ hình thành nếu không được thường xuyên thực hành luyện tập. Vì thế, để có được kĩ năng này, đòi hỏi SV cần được rèn luyện thường xuyên, liên tục trong mọi hoạt động học tập, rèn luyện. Để rèn luyện kĩ năng này cho SV, các lực lượng giáo dục phải thường xuyên nêu yêu cầu cho SV thông qua các hình thức học tập. Ví dụ: trong giờ học lí thuyết trên giảng đường, giảng viên tổ chức các hoạt động học tập theo nhóm, theo dự án để tăng cường kĩ năng phối hợp, hợp tác giữa các cá nhân thực hiện một nhiệm vụ học tập hay trong hoạt động rèn luyện quân sự, võ thuật huấn luyện viên tăng cường hoạt động rèn luyện theo nhóm. Trong những “nhóm học tập” giảng viên /huấn luyện viên cần xác định được những cá nhân có thể lực, năng lực học tập tốt hỗ trợ, giúp đỡ những cá nhân yếu hơn. Bên cạnh việc nêu yêu cầu thì giảng viên/huấn luyện viên thường xuyên tổ chức hoạt động rèn luyện qua thực tế, luyện tập cho SV. Ví dụ: Trong công tác dân vận, cần đan xen tổ chức cho những nhóm SV (từ 3 người trở lên) được ăn cùng, ở cùng, làm việc cùng trong một nhà dân để tăng cường tinh thần đoàn kết, gắn bó như “người cùng một nhà”. 2.3.4. Kĩ năng xác định giá trị sống phù hợp Việc cá nhân xác định đúng và ứng xử đúng với các trạng thái cảm xúc là vô cùng quan trọng vì nó sẽ quyết định đến hiệu quả hành động, đó là các giá trị mà cá nhân muốn hướng tới hoặc né tránh. Giá trị chính là cái có ý nghĩa đối với cá nhân, là động lực thúc đẩy cá nhân hành động để đạt được những mục đích đề ra trong cuộc sống. Đối với SV Học viện Chính trị CAND, rèn luyện KNS cho SV gắn với việc rèn luyện kĩ năng xác định giá trị sống phù hợp, bởi, giá trị sống của họ gắn liền với sứ mệnh chính trị được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó, đó là những con người suốt đời tận tụy hi sinh bảo vệ chế độ, vì cuộc sống hạnh phúc, bình yên của nhân dân. Xác định đúng đắn giá trị sống của mình, SV Học viện Chính trị CAND sẽ có thái độ nghiêm túc, tận tụy trong học tập, rèn luyện, trau dồi phẩm chất chính trị trung thành với Đảng, tận tụy với dân “vì nước quên thân, vì nhân dân phục vụ”. 2.3.5. Kĩ năng tổ chức công việc, quản lí sử dụng thời gian hợp lí Trước yêu cầu xây dựng lực lượng CAND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại đòi hỏi người SV Học viện Chính trị CAND cần có tác phong hành động nhanh nhẹn, linh hoạt, chính xác, hiệu quả... Trong đó, kĩ năng tổ chức công việc hiệu quả đòi hỏi SV phải biết tổ chức hoạt động của bản thân một cách hợp lí, khoa học, biết lược bỏ những hoạt động làm mất thời gian, ảnh hưởng tới hoạt động chủ đạo của bản thân. Kĩ năng sử dụng thời gian hợp lí yêu cầu SV có khả năng phân bố hài hòa, hợp lí công việc học tập, rèn luyện với nghỉ ngơi, thư giãn để phục hồi năng lượng thần kinh, cơ bắp hao phí. Để có được kĩ năng này cần rèn luyện cho SV kĩ năng lập kế hoạch học tập, rèn luyện theo điều kiện thực tế và năng lực của bản thân; hình thành thói quen làm việc theo đúng kế hoạch về thời gian, yêu cầu công việc; kĩ năng tự kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện để có sự điều chỉnh phù hợp với thực tế và mang tính khả quan. 2.3.6. Kĩ năng điều chỉnh cảm xúc xã hội: gồm kĩ năng nhận biết, kiểm soát, điều khiển cảm xúc của bản thân và VJE Tạp chí Giáo dục, Số 433 (Kì 1 - 7/2018), tr 27-31; 49 31 người khác phù hợp với hoàn cảnh, tình huống. Rèn luyện những kĩ năng xúc cảm xã hội là vô cùng cần thiết với SV Học viện Chính trị CAND, trong đó quan trọng nhất là khả năng biết bộc lộ, biết kiểm soát xúc cảm của bản thân. Hoạt động nghề nghiệp của SV sau khi tốt nghiệp đòi hỏi ở họ kĩ năng kết hợp hài hòa giữa lí trí với cảm xúc, thể hiện ở khả năng biểu lộ cảm xúc. Khi tiếp xúc với người dân thì mang lại cảm giác gần gũi, an tâm, tin cậy còn khi tiếp xúc với các đối tượng phạm tội thể hiện sự cương quyết, khôn khéo, cứng rắn, thể hiện sự trầm tĩnh, ổn định của tâm trạng, làm chủ xúc cảm. Rèn luyện kĩ năng này chính là sự chuẩn bị tốt nhất cho nghề nghiệp trong tương lai của SV. 2.4. Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của một số kĩ năng sống cần rèn luyện cho sinh viên Học viện Chính trị Công an nhân dân Để khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của một số KNS cần rèn luyện cho SV Học viện Chính trị CAND, chúng tôi tiến hành khảo sát trên 120 SV của Học viện Chính trị CAND từ tháng 01-02/2018. Kết quả ở bảng 1, 2. Kết quả bảng 1, 2 cho thấy, đa số SV được khảo sát đều cho rằng: Những KNS cần rèn luyện cho SV Học viện Chính trị CAND là rất cần thiết; đặc biệt là kĩ năng hợp tác, làm việc nhóm; kĩ năng điều chỉnh cảm xúc xã hội, có sự khác nhau về mức độ cần thiết giữa các KNS cần rèn luyện cho SV. Những KNS cần rèn luyện cho SV Học viện Chính trị CAND được cho là rất khả thi, khả thi nhất là kĩ năng hợp tác, làm việc nhóm, kĩ năng tự đánh giá, kĩ năng xác định giá trị sống phù hợp; ít khả thi hơn là kĩ năng điều chỉnh cảm xúc xã hội và kĩ năng giao tiếp. 3. Kết luận Giáo dục KNS cho SV Học viện Chính trị CAND là một trong những nội dung giáo dục cần thiết, đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ công tác. Bởi, sau khi tốt nghiệp, SV sẽ trở thành những người cán bộ, chiến sĩ công an làm công tác bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự an toàn xã hội thì những KNS cần rèn luyện phải liên quan đến hoạt động nghiệp vụ của lực lượng công an như kĩ năng: nói, viết, trình bày, thuyết phục; hợp tác, làm việc nhóm; tổ chức công việc; kĩ năng quản lí, sử dụng Bảng 1. Tính cần thiết của một số KNS cần rèn luyện cho SV Học viện Chính trị CAND TT Nội dung Tính cần thiết Điểm TB Thứ bậc Rất cần thiết Cần thiết Không cần thiết SL % SL % SL % 1 Kĩ năng tự đánh giá 88 73,3 24 20,0 8 6,7 320 3 2 Kĩ năng giao tiếp 76 63,3 34 28,3 10 8,3 306 5 3 Kĩ năng hợp tác, làm việc nhóm 98 81,7 16 13,3 6 5,0 332 1 4 Kĩ năng xác định giá trị sống phù hợp 69 57,5 46 38,3 5 4,2 304 6 5 Kĩ năng tổ chức công việc, quản lí sử dụng thời gian hợp lí 78 65,0 35 29,2 7 5,8 311 4 6 Kĩ năng điều chỉnh cảm xúc xã hội 98 81,7 14 11,7 8 6,7 330 2 (Chú thích: SL: Số lượng; TB: Trung bình) Bảng 2. Tính khả thi một số KNS cần rèn luyện cho SV Học viện Chính trị CAND TT Nội dung Tính khả thi Điểm TB Thứ bậc Rất khả thi Khả thi Không khả thi SL % SL % SL % 1 Kĩ năng tự đánh giá 76 63,3 37 30,8 7 5,8 309 2 2 Kĩ năng giao tiếp 65 54,2 45 37,5 10 8,3 295 6 3 Kĩ năng hợp tác, làm việc nhóm 87 72,5 26 21,7 7 5,8 320 1 4 Kĩ năng xác định giá trị sống phù hợp 73 60,8 42 35,0 5 4,2 308 3 5 Kĩ năng tổ chức công việc, quản lí sử dụng thời gian hợp lí 71 59,2 42 35,0 7 5,8 304 4 6 Kĩ năng điều chỉnh cảm xúc xã hội 69 57,5 43 35,8 8 6,7 301 5 (Xem tiếp trang 49) VJE Tạp chí Giáo dục, Số 433 (Kì 1 - 7/2018), tr 45-49 49 [2] Nguyễn Thị Kim Dung (2006). Tài liệu hướng dẫn tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp. Dự án phát triển giáo dục trung học phổ thông, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. [3] Lê Phương Nga (chủ biên - tái bản lần thứ 10, 2013). Phương pháp dạy học tiếng Việt ở tiểu học I. NXB Đại học Sư phạm. [4] Lê Phương Nga (chủ biên, tái bản lần thứ 10, 2013). Phương pháp dạy học tiếng Việt ở tiểu học II. NXB Đại học Sư phạm. [5] Nguyễn Sỹ Thư - Đinh Thị Kim Thoa (2013). Phát triển năng lực giáo dục học sinh. NXB Giáo dục Việt Nam. [6] Bộ GD-ĐT (2017). Chương trình giáo dục phổ thông - Chương trình tổng thể. [7] Ban Chấp hành Trung ương (2013). Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC... (Tiếp theo trang 16) vai trò của tổ chức Đoàn Thanh niên, đây là yếu tố quan trọng trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ vừa “hồng” vừa “chuyên” góp phần xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Tài liệu tham khảo [1] Ban Bí thư Trung ương Đảng (2002). Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5. NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật. [2] Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh - Những chặng đường phát triển (2014). NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật. [3] Ban Bí thư Trung ương Đảng (2002). Hồ Chí Minh toàn tập, tập 9. NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật. [4] Ban Bí thư Trung ương Đảng (2002). Hồ Chí Minh toàn tập, tập 12. NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật. [5] Đảng Cộng sản Việt Nam (1987). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI. NXB Sự thật. [6] Đảng Cộng sản Việt Nam (2006). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật, tr 133. [7] Ban Bí thư Trung ương Đảng (2002). Hồ Chí Minh toàn tập, tập 11. NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật. [8] Ban Bí thư Trung ương Đảng (2002). Hồ Chí Minh toàn tập, tập 10. NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật. [9] Ban Chấp hành Trung ương. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ X, XI, XII. NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật. MỘT SỐ KĨ NĂNG SỐNG CẦN GIÁO DỤC... (Tiếp theo trang 31) thời gian hợp lí; điều chỉnh cảm xúc. Những kĩ năng này cần được tổ chức với nhiều hình thức đa dạng khác nhau, trong đó đặc biệt là hình thức thông qua công tác dân vận và những hoạt động thiện nguyện vì cộng đồng. Tài liệu tham khảo [1] Nguyễn Thị Thanh Bình (2011). Giáo trình chuyên đề Giáo dục kĩ năng sống. NXB Đại học Sư phạm. [1] Phan Thanh Long (chủ biên, 2013) - Trần Quang Cấn - Nguyễn Văn Diện. Lí luận giáo dục. NXB Đại học Sư phạm. [2] Nguyễn Văn Đồng (2009). Tâm lí học giao tiếp. NXB Chính trị - Hành chính. [3] Hội khoa học Tâm lí - giáo dục Việt Nam (2010). Kỉ yếu Hội thảo khoa học “20 năm khoa học tâm lí - giáo dục Việt Nam: Thành tựu và triển vọng”. [4] Phạm Văn Tư (chủ biên, 2014) - Nguyễn Xuân Long - Nguyễn Hiệp Thương - Vũ Thị Ngọc Tú. Tâm lí học xã hội. NXB Đại học Sư phạm. [5] Nguyễn Đức Trí (chủ biên, 2011). Giáo trình giáo dục học nghề nghiệp. NXB Giáo dục Việt Nam. [6] Thái Duy Tuyên (2001). Giáo dục học hiện đại (Những nội dung cơ bản). NXB Đại học Quốc gia Hà Nội. [7] Lê Thị Bừng (2007). Tâm lí học ứng xử. NXB Giáo dục. KÍNH MỜI BẠN ĐỌC ĐẶT MUA TẠP CHÍ GIÁO DỤC NĂM 2018 Tạp chí Giáo dục ra 1 tháng 2 kì, đặt mua thuận tiện tại các bưu cục địa phương, (Mã số C192) hoặc đặt mua trực tiếp tại Tòa soạn (số lượng lớn) theo địa chỉ: TẠP CHÍ GIÁO DỤC, Số 4 Trịnh Hoài Đức, quận Đống Đa, Hà Nội. Kính mời bạn đọc, các đơn vị giáo dục, trường học đặt mua Tạp chí Giáo dục năm 2018. Mọi liên hệ xin gửi về địa chỉ trên hoặc liên lạc qua số điện thoại: 024.37345363; Fax: 024.37345363. Xin trân trọng cảm ơn. TẠP CHÍ GIÁO DỤC

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfmot_so_ki_nang_song_can_giao_duc_cho_sinh_vien_hoc_vien_chin.pdf