Ba chủng Trichoderma Tr.6, Tr.7 và Tr.8
tiếp tục được kiểm tra khả năng ức chế sinh
trưởng với hai loài nấm bệnh khác là F.
oxysporum và P. capsici gây thối rễ và thối quả
ở cây trồng. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các
chủng nấm Trichoderma đều đối kháng mạnh
với F. oxysporum và P. capsici, đặc biệt chủng
Tr.6 có hiệu quả kháng cả hai loài nấm nêu trên
lên tới 90% (Hình 4).
Theo nghiên cứu của ElKomy và cộng sự [5],
hiệu quả đối kháng của Trichoderma với nấm F.
oxysporum nằm trong khoảng 68-71%. Ngoài cơ
chế ký sinh và cạnh tranh giúp cho nấm
Trichoderma có khả năng kháng lại một số nấm
gây bệnh trên cây trồng thì các loài Trichoderma
còn có khả năng sinh các chất kháng nấm dưới
dạng các chất bay hơi, enzyme ngoại bào và các
chất kháng sinh. Các chất này có tác dụng phá vỡ
màng lipid, tham gia vào hoạt động đối kháng
trực tiếp và cảm ứng khả năng đề kháng với các
tác nhân gây bệnh ở cây trồng [11]
Trên thế giới, nấm T. asperellum và T.
harzianum được xác nhận là an toàn và đã được
sử dụng để sản xuất chế phẩm sinh học thương
mại như Mycostop, Tenet, Trianum P dùng trong
phòng trừ nấm bệnh trong đất cho cây trồng [12].
Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay vẫn chưa có
nhiều chế phẩm sử dụng Trichoderma trong
phòng trừ nấm bệnh một cách hiệu quả, đặc biệt
là đối với vi nấm gây bệnh trên cây có múi. Với
hoạt tính kháng nấm vượt trội, các chủng
Trichoderma phân lập được trong nghiên cứu
này có tiềm năng ứng dụng vào sản xuất chế
phẩm sinh học phòng trừ nấm gây bệnh trên cây
trồng và có thể sử dụng cho các nghiên cứu
chuyên sâu hơn về cơ chế sinh chất kháng nấm,
cơ chế cạnh tranh.
7 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 3 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Phân lập và tuyển chọn các chủng Trichoderma có khả năng đối kháng vi nấm gây bệnh trên cây cam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
VNU Journal of Science: Natural Sciences and Technology, Vol. 36, No. 3 (2020) 98-104
98
Original Article
Isolation and Characterization of Trichoderma Strains
Antagonistic Against Pathogenic Fungi on Orange Crops
Vu Xuan Tao1, Tran Van Tuan2,
1Center of Experimental Biology, National Center for Technological Progress, Ministry of Science and
Technology, C6 Thanh Xuan Bac, Thanh Xuan, Hanoi, Vietnam
2Department of Microbiology, Faculty of Biology, VNU University of Science,
334 Nguyen Trai, Thanh Xuan, Hanoi, Vietnam
Received 29 May 2020
Revised 24 June 2020; Accepted 29 June 2020
Abstract: Agricultural production is greatly influenced by diseases caused by fungi. Penicillium
digitatum is a common fungus that causes blue mold in citrus fruits. In addition, Fusarium and
Phytophthora species are also recognized as citrus pathogens, involving in root rot and fruit rot.
Currently, the use of microbial bioproducts to control fungal pathogens is always prioritized for an
organic and sustainable agriculture. Trichoderma species are considered as safe filamentous fungi
that antagonize against many fungal plant pathogens. In this study, 10 strains of Trichoderma were
isolated and monitored for their antagonistic capacity towards the citrus pathogen P. digitatum. The
strains Trichoderma Tr.6, Tr.7 and Tr.8 exhibited inhibitory efficacy of 95-100% against P.
digitatum. Additionally, these three strains also strongly suppressed the growth of two other
common plant pathogens Fusarium oxysporum and Phytophthora capsici. Based on the
morphological characteristics and the sequence analysis of the internal transcribed spacer (ITS)
region of rDNA, all three strains Tr.6, Tr.7 and Tr.8 were identified as Trichoderma asperellum.
These Trichoderma strains represent promising potentials for applications in the production of
bioproducts for the control of pathogenic fungi infecting citrus and other crops.
Keywords: Orange crops, fungal antagonism, Penicillium digitatum, Fusarium oxysporum,
Phytophthora capsici, Trichoderma asperellum.
________
Corresponding author.
Email address: tuantran@vnu.edu.vn
https://doi.org/10.25073/2588-1140/vnunst.5086
V.X. Tao, T.V. Tuan / VNU Journal of Science: Natural Sciences and Technology, Vol. 36, No. 3 (2020) 98-104 99
Phân lập và tuyển chọn các chủng Trichoderma có khả năng
đối kháng vi nấm gây bệnh trên cây cam
Vu Xuan Tao1, Tran Van Tuan2,
1Trung tâm Sinh học Thực nghiệm, Viện Ứng dụng Công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ,
C6 Thanh Xuân Bắc, Thanh Xuân, Hà Nội, Việt Nam
2Bộ môn Vi sinh vật học, Khoa Sinh học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội,
334 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội, Việt Nam
Nhận ngày 29 tháng 5 năm 2020
Chỉnh sửa ngày 24 tháng 6 năm 2020; Chấp nhận đăng ngày 29 tháng 6 năm 2020
Tóm tắt: Sản xuất nông nghiệp chịu ảnh hưởng rất lớn bởi các bệnh hại cây trồng do vi nấm gây ra.
Nấm Penicillium digitatum là vi nấm phổ biến gây bệnh thối mốc xanh ở quả có múi. Ngoài ra, nấm
Fusarium và Phytophthora cũng được ghi nhận là vi nấm bệnh trên cây có múi, như bệnh thối rễ và
thối quả. Hiện nay, việc kiểm soát các vi nấm gây bệnh cây trồng sử dụng các chế phẩm sinh học
nhằm hướng tới một nền nông nghiệp sạch và bền vững đang ngày càng được chú ý. Nấm
Trichoderma được đánh giá là chi nấm an toàn, có khả năng đối kháng chống lại nhiều loài nấm gây
bệnh ở cây trồng. Trong nghiên cứu này, 10 chủng nấm Trichoderma đã được phân lập và đánh giá
khả năng đối kháng chống lại nấm P. digitatum gây hỏng cam. Các chủng Trichoderma Tr.6, Tr.7
và Tr.8 có hoạt tính kháng nấm P. digitatum vượt trội, đạt 95-100%. Đồng thời, ba chủng nấm này
cũng có khả năng kháng mạnh với hai loài nấm bệnh phổ biến khác là Fusarium oxysporum và
Phytophthora capsici. Dựa trên đặc điểm hình thái và trình tự vùng ITS của rDNA, cả ba chủng
Tr.6, Tr.7 và Tr.8 được xác định thuộc loài Trichoderma asperellum. Ba chủng nấm Trichoderma
tuyển chọn này có tiềm năng ứng dụng trong sản xuất chế phẩm sinh học dùng cho phòng trừ vi nấm
gây bệnh trên cây cam và các cây trồng khác.
Từ khóa: Cây cam, đối kháng nấm bệnh, Penicillium digitatum, Fusarium oxysporum, Phytophthora
capsici, Trichoderma asperellum.
1. Mở đầu
Hiện nay ở gần 90 nước trên thế giới thuộc
vùng nhiệt đới và á nhiệt đới, ngành trồng cây ăn
quả có múi đang rất phát triển, trong đó cam là
đối tượng chính. Đặc trưng đối với cây cam là
loại cây ăn quả lâu năm, quả có hàm lượng nước
và dinh dưỡng cao, đây cũng là điều kiện thuận
lợi cho sự phát triển của một số loại vi sinh vật,
đặc biệt là vi nấm gây bệnh. Nấm Penicillium
digitatum là nguyên nhân gây bệnh thối mốc
________
Tác giả liên hệ.
Địa chỉ email: tuantran@vnu.edu.vn
https://doi.org/10.25073/2588-1140/vnunst.5086
xanh và rụng quả ở cây có múi. P. digitatum có
khả năng sinh trưởng ở phổ nhiệt độ khá rộng từ
4-30oC, tối ưu ở nhiệt độ 25-30oC, không sinh
trưởng được ở trên 37oC. P. digitatum lây nhiễm
qua vết xước của quả có múi. Các vết xước, tổn
thương trên vỏ quả có thể do côn trùng hoặc tác
nhân vật lý gây ra. Nếu nấm nhiễm vào quả ở
giai đoạn trước khi thu hoạch thì sẽ gây hiện
tượng rụng quả. Bào tử nấm từ quả thối hỏng có
thể xâm nhập vào đất hoặc phát tán theo gió di
chuyển đến nhiều địa điểm khác nhau [1]. Nấm
V.X. Tao, T.V. Tuan / VNU Journal of Science: Natural Sciences and Technology, Vol. 36, No. 3 (2020) 98-104 100
Fusarium và Phytophthora được ghi nhận là tác
nhân gây bệnh thối rễ, thối quả ở cây có múi, đặc
biệt trên cây cam [2]. Hiện nay, để kiểm soát các
loài nấm gây hại này, biện pháp phổ biến là sử
dụng các loại thuốc có nguồn gốc hóa học, độc
hại cho con người và gây ô nhiễm môi trường.
Áp dụng biện pháp kiểm soát sinh học bằng
cách sử dụng phân bón hữu cơ hoặc chế phẩm
sinh học có chứa các vi sinh vật đối kháng là một
trong những ưu tiên hàng đầu trong sản xuất
nông nghiệp sạch và bền vững. Vi nấm
Trichoderma được đánh giá là chi nấm an toàn
và có hoạt tính đối kháng chống lại một số nấm
gây bệnh cây trồng nhờ các cơ chế sinh kháng
sinh, ký sinh và cạnh tranh [3]. Ngoài ra,
Trichoderma còn có khả năng kích thích sinh
trưởng ở cây trồng, sinh enzyme phân giải các
chất hữu cơ giúp cải tạo đất. Tại Việt Nam, các
chế phẩm phòng trừ nấm bệnh cho cây trồng còn
chưa nhiều. Một số chế phẩm sinh học hiện nay
(như chế phẩm BIMA của Trung tâm Công nghệ
sinh học thành phố Hồ Chí Minh) vẫn tập trung
chủ yếu vào phòng trừ nấm bệnh trong đất trồng
các cây như hồ tiêu, cà phê và cao cao.
Việc nghiên cứu, tuyển chọn thêm các chủng
Trichoderma có hoạt tính đối kháng mạnh sẽ góp
phần hỗ trợ thiết thực cho việc sản xuất các chế
phẩm sinh học để phòng trừ nấm gây bệnh trên
cây có múi và một số cây trồng quan trọng khác
ở nước ta.
2. Vật liệu và phương pháp
2.1. Vật liệu
Chủng nấm Penicillium digitatum, Fusarium
oxysporum, Phytophthora capsici do Bộ môn Vi
sinh vật học, Khoa Sinh học, Trường Đại học
Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội
cung cấp.
Chủng nấm Trichoderma harzianum KS3 là
chủng đang được dùng để sản xuất chế phẩm
Mocabi đối kháng một số nấm gây bệnh cây
trồng, được dùng làm đối chứng so sánh với các
chủng nấm phân lập được trong nghiên cứu này.
Chủng T. harzianum KS3 được chuyển giao bởi
giáo sư Kasem Soytong (Đại học King Mongkut,
Thái Lan) và được cung cấp bởi Công ty TNHH
Nông Sinh (Đan Phượng, Hà Nội).
Các mẫu đất vùng rễ một số cây trồng được
thu thập từ một số tỉnh miền Bắc (Nam Định,
Thanh Hóa, Thái Bình, Hà Nội, Hà Giang) để
phân lập các chủng Trichoderma.
2.2. Phương pháp
Thu mẫu đất: Mẫu đất vùng rễ của các cây
khỏe mạnh, phát triển tốt được lấy bằng dụng cụ
inox vô trùng được bọc trong giấy bạc. Mỗi điểm
thu đào xuống từ mặt đất 10-15cm và lấy khoảng
100g đất xung quanh vùng rễ của cây. Mẫu được
đựng trong túi polyetylen chịu nhiệt đã được vô
trùng trước khi sử dụng. Thời gian và địa điểm
thu mẫu được ghi trực tiếp trên vỏ túi bằng bút
chống xóa. Mẫu được bảo quản mát trong vòng
24-48 giờ và được sử dụng để phân lập nấm
Trichoderma ngay khi chuyển về phòng thí
nghiệm.
Phân lập và xác định đặc điểm hình thái
các chủng nấm Trichoderma: Môi trường được
sử dụng để phân lập là PDA có bổ sung kháng
sinh chloramphenicol (100 g/ml). Kháng sinh
chloramphenicol có tác dụng kháng khuẩn, ngăn
không cho vi khuẩn sinh trưởng. Các mẫu đất
được pha loãng bằng nước cất vô trùng đến các
nồng độ khác nhau từ 10-1 đến 10-5. Cấy trải mẫu
ở các nồng độ pha loãng này lên môi trường PDA
có bổ sung kháng sinh chloramphenicol. Các đĩa
được ủ ở 28oC cho đến khi thu nhận được các
khuẩn lạc nấm riêng rẽ. Các khuẩn lạc có sợi
trắng, bào tử màu xanh hoặc xanh vàng được
tách riêng, làm thuần và giữ trong ống nghiệm
để sử dụng cho các thí nghiệm tiếp theo. Các
chủng nấm sau thuần khiết được nuôi cấy trực
tiếp trên tiêu bản kính hiển vi vô trùng có chứa
môi trường PDA. Tiêu bản được giữ trong hộp
nhựa vô trùng có bổ sung giấy thấm và nước vô
trùng để duy trì độ ẩm. Mẫu được ủ ở 28oC trong
4-5 ngày. Hình thái của hệ sợi nấm và cuống sinh
bào từ được quan sát dưới kính hiển vi [4].
Tuyển chọn các chủng nấm Trichoderma
có hoạt tính đối kháng nấm gây bệnh: Môi
trường PDA được sử dụng để đánh giá hoạt tính
đối kháng của các chủng Trichoderma chống lại
V.X. Tao, T.V. Tuan / VNU Journal of Science: Natural Sciences and Technology, Vol. 36, No. 3 (2020) 98-104 101
nấm gây bệnh. Trên mỗi đĩa môi trường PDA đặt
hai miếng thạch có đường kính 5 mm đối diện
nhau. Một phía đặt miếng thạch chứa hệ sợi nấm
bệnh, phía đối diện đặt miếng thạch chứa hệ sợi
của chủng Trichoderma. Đĩa đối chứng chỉ cấy
nấm bệnh. Các đĩa được giữ ở nhiệt độ 25 ± 2oC
trong 5-7 ngày. Sau đó, tiến hành đo đường kính
của nấm gây bệnh trên đĩa đối kháng, tính phần
trăm đối kháng bằng công thức: I = (C-T)/C x
100 trong đó I = phần trăm đối kháng, C = đường
kính của nấm bệnh khi được cấy trên đĩa môi
trường, T = đường kính của nấm bệnh trên đĩa
đối kháng [5].
Định danh nấm Trichoderma dựa trên
trình tự vùng ITS của rDNA: Bào tử nấm được
thu từ đĩa nuôi cấy sử dụng nước vô trùng và
màng lọc Miracloth. DNA tổng số được chiết từ
hệ sợi nấm theo quy trình nhóm nghiên cứu đã
công bố [6]. Vùng ITS của rDNA được khuếch
đại từ mẫu DNA tổng số bằng PCR sử dụng cặp
mồi ITS1 (TCCGTAGGTGAACCTG
CGG)/ITS4(TCCTCCGCTTATTGATATGC)
đặc hiệu cho nấm [7]. Sản phẩm PCR được điện
di trên gel agarose 0,7% và tinh sạch bằng kit của
hãng Promega. Mẫu DNA tinh sạch được giải
trình tự bởi công ty 1st BASE (Singapore). Trình
tự ITS được so sánh với dữ liệu trong Ngân hàng
gen Quốc tế (GenBank) sử dụng chương trình
BLAST và phân tích vẽ cây phát sinh chủng loại
bằng phần mềm MEGA7.
3. Kết quả và thảo luận
3.1. Phân lập và đặc điểm hình thái của các
chủng Trichoderma
Từ các mẫu đất thu thập, bằng phương pháp
pha loãng mẫu và cấy trải trên môi trường PDA,
chúng tôi phân lập và thuần khiết được 10 chủng
Trichoderma. Sau 3-5 ngày nuôi cấy trên môi
trường PDA ở 28oC, các chủng nấm hình thành
hệ sợi màu trắng mang bào tử màu xanh nhạt tới
đậm hoặc màu vàng nhạt lan phủ trên bề mặt đĩa
thạch tạo thành các vòng tròn đồng tâm (Hình 1).
Khi quan sát dưới kính hiển vi với độ phóng
đại 400 lần cho thấy hình dạng sợi nấm, cuống
sinh bào tử có cấu trúc phân nhánh và có hình
chai. Bào tử đính (conidia) có dạng hình trứng,
ovan. Hệ sợi nấm còn hình thành thêm bào tử
vách dày (chlamydospore). Đây là những đặc
điểm đặc trưng của các loài thuộc chi nấm
Trichoderma [8] (Hình 2).
Hình 1. Hình thái khuẩn lạc của các chủng
Trichoderma trên môi trường PDA.
Hình 2. Cấu trúc cuống sinh bào tử đính và hệ
sợi mang bào tử vách dày của các chủng
Trichoderma.
3.2. Khả năng đối kháng của các chủng Trichoderma
Nấm Trichoderma đã được công nhận là vi
nấm có khả năng đối kháng chống lại nhiều nấm
gây bệnh cây trồng [9]. Trong nghiên cứu này,
tất cả 10 chủng Trichoderma được tiến hành
kiểm tra khả năng đối kháng với nấm P.
digitatum gây bệnh thối mốc xanh, rụng cam và
so sánh với chủng T. harzianum KS3 đang được
dùng cho sản xuất chế phẩm thương mại Mocabi
của Công ty TNHH Nông Sinh. Kết quả nghiên
cứu cho thấy, khả năng đối kháng với nấm P.
digitatum tùy vào từng chủng sẽ cho mức độ đối
kháng khác nhau. Ba chủng Trichoderma Tr.6,
V.X. Tao, T.V. Tuan / VNU Journal of Science: Natural Sciences and Technology, Vol. 36, No. 3 (2020) 98-104 102
Tr.7 và Tr.8 có hoạt tính đối kháng tốt nhất với
P. digitatum đạt 95-100%, cao hơn nhiều so với
chủng T. harzianum KS3 chỉ đạt 64% (Hình 3).
Đáng chú ý là ba chủng này cũng có khả năng
sinh trưởng mạnh nhất trong số 10 chủng phân
lập được (Hình 1). Theo nghiên cứu của
Kotasthane và cộng sự [10] về khả năng đối
kháng của các chủng Trichoderma với nấm bệnh
Sclerotium cho thấy kết quả về mức độ đối kháng
nằm trong khoảng 49,5-81% [10].
Hình 3. Khả năng đối kháng của các chủng
Trichoderma với nấm P. digitatum. Chủng thương
mại KS3 được sử dụng làm đối chứng để so sánh.
Ba chủng Trichoderma Tr.6, Tr.7 và Tr.8
tiếp tục được kiểm tra khả năng ức chế sinh
trưởng với hai loài nấm bệnh khác là F.
oxysporum và P. capsici gây thối rễ và thối quả
ở cây trồng. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các
chủng nấm Trichoderma đều đối kháng mạnh
với F. oxysporum và P. capsici, đặc biệt chủng
Tr.6 có hiệu quả kháng cả hai loài nấm nêu trên
lên tới 90% (Hình 4).
Theo nghiên cứu của ElKomy và cộng sự [5],
hiệu quả đối kháng của Trichoderma với nấm F.
oxysporum nằm trong khoảng 68-71%. Ngoài cơ
chế ký sinh và cạnh tranh giúp cho nấm
Trichoderma có khả năng kháng lại một số nấm
gây bệnh trên cây trồng thì các loài Trichoderma
còn có khả năng sinh các chất kháng nấm dưới
dạng các chất bay hơi, enzyme ngoại bào và các
chất kháng sinh. Các chất này có tác dụng phá vỡ
màng lipid, tham gia vào hoạt động đối kháng
trực tiếp và cảm ứng khả năng đề kháng với các
tác nhân gây bệnh ở cây trồng [11].
Hình 4. Khả năng đối kháng của các chủng
Trichoderma với nấm F. oxysporum và P. capsici.
Trên thế giới, nấm T. asperellum và T.
harzianum được xác nhận là an toàn và đã được
sử dụng để sản xuất chế phẩm sinh học thương
mại như Mycostop, Tenet, Trianum P dùng trong
phòng trừ nấm bệnh trong đất cho cây trồng [12].
Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay vẫn chưa có
nhiều chế phẩm sử dụng Trichoderma trong
phòng trừ nấm bệnh một cách hiệu quả, đặc biệt
là đối với vi nấm gây bệnh trên cây có múi. Với
hoạt tính kháng nấm vượt trội, các chủng
Trichoderma phân lập được trong nghiên cứu
này có tiềm năng ứng dụng vào sản xuất chế
phẩm sinh học phòng trừ nấm gây bệnh trên cây
trồng và có thể sử dụng cho các nghiên cứu
chuyên sâu hơn về cơ chế sinh chất kháng nấm,
cơ chế cạnh tranh.
3.3. Định danh các chủng nấm Trichoderma
bằng giải trình tự vùng ITS của rDNA
Để xác định chính xác đến loài cho ba chủng
Trichoderma Tr.6, Tr.7 và Tr.8, chúng tôi tiến
hành giải trình tự vùng ITS của rDNA. So với
các gen 18S rRNA và 28S rRNA của rDNA,
vùng ITS (gồm ITS1; 5,8S rRNA; ITS2) có mức
độ biến đổi cao hơn giữa các loài gần gũi. Do đó
trình tự vùng ITS đã được sử dụng như một chỉ
thị mã vạch trong nghiên cứu phân loại nấm, bao
gồm cả những loài thuộc chi Trichoderma [13-
16].
V.X. Tao, T.V. Tuan / VNU Journal of Science: Natural Sciences and Technology, Vol. 36, No. 3 (2020) 98-104 103
Hình 5. Định danh chủng Trichoderma Tr.6, Tr.7 và
Tr.8 dựa trên trình tự vùng ITS của rDNA. (A, B)
DNA và sản phẩm PCR vùng ITS trên gel agarose
0,7%, (C) Cây phát sinh chủng loại dựa trên trình tự
ITS của rDNA.
DNA tổng số của ba chủng Trichoderma
Tr.6, Tr.7 và Tr.8 được tách chiết và kiểm tra trên
gel agarose 0,7%. Kết quả cho thấy chất lượng
DNA đủ tốt cho các nghiên cứu tiếp theo (Hình
5A). Vùng ITS được khuếch đại bằng PCR sử
dụng cặp mồi ITS1/ITS4. Kết quả cho thấy một
băng DNA duy nhất có kích thước khoảng hơn
500 bp (Hình 5B). Kết quả so sánh trình tự ITS
với dữ liệu có trong GenBank và xây dựng cây
phát sinh chủng loại sử dụng phần mềm MEGA7
cho thấy ba chủng Trichoderma Tr.6, Tr.7 và
Tr.8 đều thuộc loài Trichoderma asperellum với
mức độ tương đồng về trình tự ITS đạt từ 99%
đến 100% (Hình 5C).
4. Kết luận
Đã phân lập và đánh giá được khả năng đối
kháng của 10 chủng Trichoderma từ các mẫu đất
với nấm P. digitatum gây bệnh ở cam. Các chủng
Tr.6, Tr.7 và Tr.8 có hiệu quả kháng nấm P.
digitatum vượt trội, đạt 95-100%. Đồng thời, ba
chủng Trichoderma này cũng thể hiện khả năng
kháng mạnh với hai loài nấm bệnh khác là F.
oxysporum và P. capsici. Ba chủng Trichoderma
Tr.6, Tr.7 và Tr.8 được định danh thuộc loài
Trichoderma asperellum dựa trên đặc điểm hình
thái và trình tự vùng ITS của rDNA.
Lời cảm ơn
Các tác giả xin cảm ơn CN. Trần Thị Thanh
Huyền đã hỗ trợ kỹ thuật cho một số thí nghiệm.
Công trình được hỗ trợ kinh phí từ đề tài
KH&CN cấp Bộ Khoa học và Công nghệ
“Nghiên cứu tạo chế phẩm sinh học kháng vi
nấm gây bệnh trên cây cam ở một số tỉnh phía
Bắc”
Tài liệu tham khảo
[1] S. Bautista-Baños, Penicillium digitatum,
Penicillium italicum (green mold, blue mold), in:
L. Palou (ed.), Postharvest Decay,
Elsevier, Amsterdam, 2014, pp. 45-102.
[2] M.W. Olsen, Diseases of citrus in Arizona,
University of Aiona, College of Agriculture and
Life Sciences, Tucson, 2000.
[3] M. Verma, S.K. Brar, R.D. Tyagi, R.Y.
Surampalli, J.R Valero, Antagonistic fungi,
Trichoderma spp.: panoply of biological control,
Biochemical Engineering Journal 37 (2007) 1-20.
https://doi.org/ 10.1016/j.bej.2007.05.012.
[4] X.T. Vu, T.T. Ngo, T.D.L. Mai, T.T. Bui, H.D Le,
T.V.H. Bui, Q.H. Nguyen, X.B. Ngo, V.T. Tran,
A highly efficient Agrobacterium tumefaciens-
mediated transformation system for the
postharvest pathogen Penicillium digitatum using
DsRed and GFP to visualize citrus host
colonization, Journal of Microbiological Methods
144 (2018) 134-144. https://doi.org/10.1016/
j.mimet.2017.11.019.
[5] M.H. ElKomy, A.A. Saleh, A. Eranthodi, Y.Y.
Molan, Characterization of novel Trichoderma
asperellum isolates to select effective biocontrol
agents against tomato Fusarium wilt, The Plant
Pathology Journal 31 (2015) 50-60. https://doi.
org/10.5423/PPJ.OA.09.2014.0087.
[6] V.T. Tran, T.B.X.L. Do, T.K. Nguyen, X.T. Vu,
B.N. Dao, H.H. Nguyen, A simple, efficient and
universal method for the extraction of genomic
DNA from bacteria, yeasts, molds and microalgae
suitable for PCR-based applications, Vietnam
V.X. Tao, T.V. Tuan / VNU Journal of Science: Natural Sciences and Technology, Vol. 36, No. 3 (2020) 98-104 104
Journal of Science, Technology and Engineering
59 4 (2017) 66-74. https://doi.org/10.31276/VJS
TE.59(4).66.
[7] M.A. Innis, D.H. Gelfand, J.J. Sninsky, T.J.
White, Amplification and direct sequencing of
fungal ribosomal RNA genes for phylogenetics,
in: T.J. White, T.D. Bruns, S.B. Lee, J.W. Taylor
(Eds.), PCR Protocols: A Guide to Methods and
Applications, Academic press, Massachusetts,
1990, pp. 315-322.
[8] L. Li, Q. Qu, B. Tian, K.Q. Zhang, Induction of
chlamydospores in Trichoderma harzianum and
Gliocladium roseum by antifungal compounds
produced by Bacillus subtilis C2, Journal of
Phytopathology 153 (2005) 686-693. https://doi.
org/10.1111/j.1439-0434.2005.01038.x.
[9] F.A.C. Lopes, A.S. Steindorff, A.M. Geraldine,
R.S. Brandão, V.N. Monteiro, M.L. Júnior, R.N.
Silva, Biochemical and metabolic profiles of
Trichoderma strains isolated from common bean
crops in the Brazilian Cerrado, and potential
antagonism against Sclerotinia sclerotiorum,
Fungal Biology 116 (2012) 815-824. https://doi.
org/10.1016/j.funbio.2012.04.0 15.
[10] A. Kotasthane, T. Agrawal, R. Kushwah, O.V.
Rahatkar, In-vitro antagonism of Trichoderma
spp. against Sclerotium rolfsii and Rhizoctonia
solani and their response towards growth of
cucumber, bottle gourd and bitter gourd,
European Journal of Plant Pathology 141 (2015)
523-543. https://doi.org/10.1007/s10658-014-05
60-0.
[11] H. Saba, D. Vibhash, M. Manisha, K.S. Prashant,
H. Farhan, A. Tauseef, Trichoderma a promising
plant growth stimulator and biocontrol
agent, Mycosphere 3 (2012) 524-531. https://doi.
org/10.5943/mycosphere/3/4/14.
[12] R. Bhattacharjee, U. Dey, An overview of fungal
and bacterial biopesticides to control plant
pathogens/diseases, African Journal of
Microbiology Research 8 (2014) 1749-1762. https
://doi.org/10.5897/AJMR2013.6356.
[13] J. Curran, F. Driver, J.W.O. Ballard, R.J. Milner,
Phylogeny of Metarhizium: analysis of ribosomal
DNA sequence data, Mycological Research 98
(1994) 547-552. https://doi.org/10.1016/S0953-
75 62(09)80478-4.
[14] C.L. Schoch, K.A. Seifert, S. Huhndorf, V.
Robert, J.L. Spouge, C.A. Levesque, W. Chen,
F.B. Consortium, Nuclear ribosomal internal
transcribed spacer (ITS) region as a universal
DNA barcode marker for Fungi, Proceedings of
the National Academy of Sciences 109 (2012)
6241-6246. https://doi.org/10.1073/pnas.1117018
109.
[15] C. Kullnig, G. Szakacs, C.P. Kubicek, Molecular
identification of Trichoderma species from
Russia, Siberia and the Himalaya, Mycological
Research 104 (2000) 1117-1125. https://doi.org/
10.1017/S0953756200002604.
[16] A. Hagn, S. Wallisch, V. Radl, J.C. Munch, M.
Schloter, A new cultivation independent approach
to detect and monitor common Trichoderma
species in soils, Journal of Microbiological
Methods 69 (2007) 86-92. https://doi.org/10.
1016/j.mimet.2006.12.004.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
phan_lap_va_tuyen_chon_cac_chung_trichoderma_co_kha_nang_doi.pdf