- Nghiên cứu di thực và thuần
hóa đối với một số loài cây thuốc
quý hiếm, có phân bố tự nhiên
hẹp, có yêu cầu khắt khe về môi
trường sống như Sâm ngọc linh,
Lan kim tuyến Từng bước đưa
các loài này ra môi trường nhân
trồng mới, hạn chế các tác động
tiêu cực đến vùng phân bố tự
nhiên.
- Bảo tồn, phát triển tri thức
truyền thống gắn liền với phát
triển du lịch: hiện nay, du lịch tại
khu vực Tây Nguyên đang trong
quá trình phát triển mạnh, thu hút
lượng lớn du khách trong nước và
quốc tế. Một trong các yếu tố thu
hút du lịch tại đây là sự đa dạng,
độc đáo về văn hóa của đồng bào
các dân tộc thiểu số. Do vậy, việc
kết hợp tốt giữa bảo tồn đa dạng
sinh học nói chung, bảo tồn cây
thuốc nói riêng cũng như bảo tồn
tri thức bản địa gắn liền với các
hoạt động du lịch sẽ làm tăng
thêm lực hút đối với du khách.
Bên cạnh những giải pháp
nêu trên, từ thực tế nghiên cứu,
chúng tôi cũng kiến nghị một số
nội dung cần thực hiện trong thời
gian tới như sau:
- Tiếp tục điều tra, đánh giá về
tiềm năng phát triển dược liệu tại
khu vực này.
- Tri thức truyền thống ngày
càng bị mai một do tài nguyên
thiên nhiên giảm dần, người già
mất đi, trong khi người trẻ lại có
nhiều lựa chọn mới trong sinh
kế. Do đó, cần nhanh chóng thu
thập, lưu giữ tri thức truyền thống
nói chung và tri thức trong sử
dụng cây thuốc nói riêng.
- Hiện nay đã có nhiều nghiên
cứu về đa dạng sinh học cũng
như nghiên cứu về dược liệu tại
khu vực Tây Nguyên, tuy nhiên
các nghiên cứu còn nhỏ lẻ, kết
quả được lưu giữ ở nhiều nơi khác
nhau, gây nên sự thiếu hụt thông
tin, chồng chéo về nội dung Đây
là sự lãng phí rất lớn, do đó cần
xây dựng một cơ sở dữ liệu hoàn
chỉnh về dược liệu của khu vực
Tây Nguyên
4 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 1 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Phát triển nguồn tài nguyên cây thuốc và tri thức bản địa khu vực Tây Nguyên, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
45
khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo
Số 4 năm 2020
đa dạng thực vật và tài nguyên cây
thuốc
Với nguồn tài nguyên đa dạng
và phong phú, kết hợp với sự
đa dạng về dân tộc, văn hóa, tri
thức truyền thống..., khu vực Tây
Nguyên không chỉ đa dạng về
nguồn tài nguyên cây thuốc mà
còn phong phú về tri thức, kinh
nghiệm sử dụng cây thuốc của
cộng đồng các dân tộc. Qua điều
tra, nghiên cứu và tổng hợp các
tài liệu tại Tây Nguyên, chúng
tôi đã ghi nhận được 4782 loài
thuộc 1458 chi và 257 họ thực
vật trong các ngành thực vật
bậc cao có mạch (Psilotophyta -
Khuyết lá thông, Lycopodiophyta
- Thông đất, Equisetophyta -
Cỏ tháp bút, Polypodiophyta -
Dương xỉ, Pinophyta - Thông và
Magnoliophyta - Ngọc lan) (bảng
1); trong đó ngành Ngọc lan
(Magnoliophyta) là đa dạng nhất,
với 4393 loài (chiếm 91,86% tổng
số loài).
Các kết quả cũng cho thấy,
Lâm Đồng là tỉnh có số loài thực
vật nhiều nhất (với 3255 loài)
và Đắc Nông là tỉnh có số loài ít
nhất, với 1079 loài.
Kết quả điều tra, tổng hợp và
đối chiếu với các tài liệu đã công
bố về cây thuốc, đã ghi nhận được
1713 loài cây làm thuốc (chiếm
35,82% tổng số loài thực vật) của
Phát triển nguồn tài nguyên cây thuốc
và tri thức bản địa khu vực tây nguyên
Bùi Văn Thanh, Nguyễn Thế Cường, Nguyễn Thị Vân Anh, Nguyễn Văn Sinh
viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật, viện hàn lâm Khoa học và Công nghệ việt nam
Thông qua thực hiện đề tài: “Nghiên cứu xây dựng cơ sở khoa học cho mô hình quản lý tổng hợp hệ
sinh thái núi Nam Trường Sơn nhằm bảo tồn và khai thác bền vững”, mã số TN18/T07 (thuộc Chương
trình KH&CN Tây Nguyên 2016-2020), đã ghi nhận tại Tây Nguyên có 4782 loài thuộc 1458 chi và 257
họ thực vật trong các ngành thực vật bậc cao có mạch; trong đó ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) là
đa dạng nhất, với 4393 loài (chiếm 91,86% tổng số loài). Đề tài cũng ghi nhận được 1713 loài cây làm
thuốc (chiếm 35,82% tổng số loài thực vật) của 257 họ trong các ngành thực vật bậc cao có mạch,
trong đó ngành Ngọc lan có 1582 loài (chiếm 92,35% tổng số loài làm thuốc); 167 loài cây thuốc quý
hiếm, ưu tiên bảo vệ, trong đó có 88 loài trong Sách Đỏ Việt Nam (2007), 53 loài có tên trong Nghị
định 06/2019/NĐ-CP.
Kết quả thống kê bước đầu ghi nhận khoảng 450 bài thuốc và 800-1000 loài cây thuốc được sử dụng
trong cộng đồng các dân tộc tại khu vực Tây Nguyên để chăm sóc sức khỏe. Một số loài cây thuốc
quý hiếm, có giá trị cao có thể đưa vào nhân trồng với quy mô lớn như Sâm ngọc linh, Đảng sâm
(hay còn gọi là Đẳng sâm), Thông đỏ, Giảo cổ lam, các loài Bình vôi, Hoàng đằng, Bí kỳ nam, Trầm
hương, Sâm cau, Lan kim tuyến
Bảng 1. Số lượng loài thực vật và cây thuốc tại các tỉnh Tây Nguyên.
Ngành thực vật Kom Tum Gia Lai
Đắk
Nông
Đắk
Lắk
Lâm
Đồng
Cả Tây
Nguyên
Nhóm Dương xỉ(*) 158 155 93 100 317 358
Ngành Hạt trần 20 18 7 20 25 31
Ngành Hạt kín/Ngọc lan 2472 1830 979 1551 2913 4393
Tổng số loài thực vật 2650 2003 1079 1671 3255** 4782
Số loài cây thuốc 841 783 725 751 1247 1713
*: nhóm dương xỉ bao gồm các ngành: psilotophyta - Khuyết lá thông, lycopodiophyta - Thông đất,
Equisetophyta - Cỏ tháp bút và polypodiophyta - dương xỉ.
**: số liệu từ Báo cáo quy hoạch đa dạng sinh học tỉnh lâm Đồng là 3,526 loài.
46
Khoa học - Công nghệ và đổi mới sáng tạo
Số 4 năm 2020
Bảng 3. Số loài thực vật và cây thuốc tại một số Vườn quốc gia và Khu bảo tồn ở Tây
Nguyên và Nam Trung Bộ.
STT Vườn quốc gia/Khu bảo tồn
Tổng số
loài thực vật Số loài cây thuốc
1 VQG BiDoup - Núi Bà 1945 -
2 VQG Cát Tiên (Cát Lộc) 772 -
3 VQG Chư Mom Ray 1149 425
4 VQG Chư Yang Sinh 948 715
5 VQG Kon Ka Kinh 1022 -
6 VQG Tà Đùng 1406 -
7 KBT Kon Chư Răng 863 357
8 KBT Nam Nung 881 -
9 KBT Ngọc Linh (Kon Tum) 1091 -
257 họ trong các ngành thực vật
bậc cao có mạch; trong đó ngành
Ngọc lan (Magnoliophyta) có
1582 loài (chiếm 92,35% tổng số
loài làm thuốc) (bảng 2).
Các loài cây thuốc thường
tập trung ở các họ thực vật lớn,
gồm: Cúc (Asteraceae) - 90 loài;
Thầu dầu (Euphorbiaceae) - 82
loài; Cà phê (Rubiaceae) - 81
loài; Đậu (Fabaceae) - 80 loài;
Trúc đào (Apocynaceae); Cam
(Rutaceae); Bạc hà (Lamiaceae);
Dâu tằm (Moraceae); Lan
(Orchidaceae); Cỏ roi ngựa
(Verbenaceae). Đây là các họ có
từ 30 loài trở lên.
Các chi có nhiều loài làm thuốc
nhất là: Ficus (17 loài), Ardisia
(12 loài), Dendrobium (12 loài),
Dioscorea (12 loài), Solanum
(11 loài), Smilax (11 loài); các
chi Polygonum, Euphorbia,
Hedyotis, Allium, Rubus, Croton,
Schefflera, Senna, Syzygium,
Zanthoxylum (có từ 8 đến 10
loài).
Các kết quả điều tra, khảo sát
thực vật học đã ghi nhận hơn 60
loài mới bổ sung cho danh lục cây
thuốc của Tây Nguyên. Trong số
đó có 1 loài được ghi nhận trong
Sách Đỏ Việt Nam (2007) ở mức
độ rất nguy cấp (CR), đó là loài
Smilax petelotii T. Koyama. Kết
quả điều tra cũng ghi nhận có 167
loài cây thuốc quý hiếm, ưu tiên
bảo vệ, trong đó có 88 loài trong
Sách Đỏ Việt Nam (2007), 53 loài
có tên trong Nghị định 06/2019/
NĐ-CP. Một số loài có giá trị cao
như: Sâm ngọc linh, Đảng sâm,
Thông đỏ, Giảo cổ lam, các loài
Bình vôi, Hoàng đằng, Bí kỳ nam,
Trầm hương, Sâm cau, Lan kim
tuyến Phân bố về cây thuốc ở
các tỉnh cũng không đồng đều,
Lâm Đồng là tỉnh đã xác định
được nhiều loài cây thuốc nhất,
trong khi Đắc Nông ghi nhận
được ít nhất.
Sự đa dạng thực vật nói chung
và cây thuốc nói riêng tập trung
chủ yếu ở các khu vực còn rừng,
trong đó đặc biệt là các Vườn
quốc gia và Khu bảo tồn thiên
nhiên. Kết quả thống kê của một
số Vườn quốc gia và Khu bảo tồn
trong khu vực Tây Nguyên và
Nam Trung Bộ được thể hiện ở
bảng 3.
tri thức bản địa trong việc sử dụng
cây thuốc của đồng bào dân tộc thiểu
số
Theo kết quả Tổng điều tra
dân số và nhà ở năm 2009 thì
khu vực Tây Nguyên có 54/54
dân tộc (32 dân tộc có mặt ở
cả 5 tỉnh Tây Nguyên). Mỗi dân
tộc có nét văn hóa, tập quán và
vùng cư trú vốn có khác nhau,
trong quá trình phát triển lâu dài,
các dân tộc đã từng bước hình
thành, tích lũy, chọn lọc và học
hỏi các tri thức, kinh nghiệm sử
dụng tài nguyên thiên nhiên nói
chung và tài nguyên cây thuốc
nói riêng. Mỗi vùng, miền khác
nhau có điều kiện tự nhiên khác
nhau, dẫn đến thành phần thực
vật cũng khác nhau. Đối với mỗi
dân tộc, thành phần và số lượng
loài cây thuốc được sử dụng theo
kinh nghiệm truyền thống, một
phần phụ thuộc vào sự hiểu biết
của cộng đồng về giá trị sử dụng,
mặt khác phụ thuộc vào sự có
mặt của cây thuốc trong khu vực
cư trú vào thời gian hiện tại.
Hiện nay, đồng bào các dân
tộc trên cả nước không còn sống
cố định tại các vùng cư trú vốn
có mà đã có sự di chuyển qua
lại giữa các vùng, miền, đồng
thời mang theo nhiều tri thức đến
nơi sinh sống mới. Từ các kinh
Bảng 2. Sự phân bố các bậc taxon cây thuốc tại Tây Nguyên.
Ngành thực vật
Cấu trúc hệ thực vật
Tây Nguyên Số loài
làm thuốc Tỷ lệ %
Số họ Số chi Số loài
Nhóm Dương xỉ 34 111 358 104 29,05
Ngành Hạt trần 8 19 31 27 87,09
Ngành Hạt kín/Ngọc lan 215 1328 4393 1582 36,01
Tổng 257 1458 4782 1713 35,82
47
khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo
Số 4 năm 2020
nghiệm đã có, người dân từng
bước điều chỉnh cho phù hợp với
điều kiện mới, từ đó nhiều tri thức
mới được hình thành.
Kết quả điều tra của các đề tài
giai đoạn 2011-2019 bước đầu
ghi nhận khoảng 450 bài thuốc
và 800-1000 loài cây thuốc được
sử dụng trong cộng đồng các dân
tộc tại khu vực Tây Nguyên để
chăm sóc sức khỏe. Một số nhóm
bệnh có nhiều cây thuốc được sử
dụng là: các bệnh liên quan đến
hệ vận động (cơ, xương, khớp),
tiêu hóa, ngoài da, các bệnh của
phụ nữ Đây đều là các bệnh hay
gặp đối với người dân lao động
nông nghiệp, điều kiện đi lại, môi
trường sinh sống còn nhiều khó
khăn.
Kết quả điều tra cũng cho
thấy, các dân tộc có số lượng
dân cư lớn vẫn đang là các tộc
người khai thác và sử dụng số
lượng loài cây thuốc lớn theo kinh
nghiệm truyền thống. Ngược lại,
các dân tộc sử dụng số lượng loài
cây thuốc thấp thường là các tộc
người có dân số thấp hoặc có
vùng cư trú hẹp. Các cộng đồng
cư dân bản địa chỉ khai thác và
sử dụng một tỷ lệ nhất định thành
phần các loài cây thuốc thực tế
có ở khu vực cư trú.
đề xuất một số giải pháp phát triển
cây thuốc
Qua kết quả điều tra, đánh
giá thực trạng nguồn tài nguyên
cây thuốc cũng như thực trạng
khai thác, sử dụng cây thuốc tại
khu vực Tây Nguyên cho thấy,
nơi đây có mức độ đa dạng về
nguồn tài nguyên cây thuốc cao,
có nhiều loài quý hiếm, có giá trị
cao về khoa học và kinh tế. Tuy
nhiên, hiện nay đa số các loài cây
thuốc được khai thác từ tự nhiên,
thiếu sự quản lý, giám sát. Bên
cạnh đó, sự suy giảm đa dạng
sinh học nói chung cũng chính là
tác nhân gây suy giảm nguồn tài
nguyên cây thuốc. Không chỉ có
vậy, sự mai một về tri thức truyền
thống cũng có tác động tiêu cực
đến giá trị và nguồn tài nguyên
cây thuốc. Do đó, cần có các biện
pháp mạnh mẽ, đồng bộ trong
việc bảo tồn, phát triển các giá trị
của nguồn tài nguyên cây thuốc
tại khu vực Tây Nguyên.
Trong khuôn khổ của bài báo
này, chúng tôi đề xuất một số giải
pháp sau đây nhằm phát triển
nguồn tài nguyên cây thuốc, góp
phần chăm sóc sức khỏe cũng
như phát triển kinh tế - xã hội khu
vực Tây Nguyên:
- Điều tra, đánh giá toàn diện
về nguồn tài nguyên cây thuốc tại
khu vực Tây Nguyên, bao gồm cả
điều tra đa dạng thành phần loài,
hiện trạng phân bố, trữ lượng;
hiện trạng khai thác, sử dụng;
đánh giá nhu cầu thị trường trong
và ngoài nước có liên quan đến
dược liệu tại Tây Nguyên; đánh
giá về điều kiện và năng lực sản
xuất dược liệu của các tổ chức và
cá nhân trên địa bàn.
- Quy hoạch và xây dựng các
khu vực trồng, chế biến dược liệu
đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn
dược liệu trong nước và quốc tế,
từng bước nâng cao giá trị mang
lại từ dược liệu. Lựa chọn các loài
cây thuốc và mô hình để phát
triển nhằm đảm bảo hài hòa giữa
bảo tồn nguồn gen và phát triển
kinh tế - xã hội. Một số loài cây
thuốc quý hiếm, có giá trị cao có
thể đưa vào nhân trồng với quy
mô lớn như Sâm ngọc linh, Đảng
sâm, Thông đỏ, Giảo cổ lam, các
loài Bình vôi, Hoàng đằng, Bí
kỳ nam, Trầm hương, Sâm cau,
Lan kim tuyến hoặc một số loài
có nhu cầu thị trường lớn như
Nghệ, Đinh lăng, Diệp hạ châu,
Chè dây, Actiso Nâng cao hàm
lượng khoa học, công nghệ trong
các sản phẩm dược liệu, hạn chế
việc buôn bán, xuất khẩu dược
liệu thô.
Cây Thông đỏ - loài cây thuốc quý hiếm có nhiều tác dụng chữa bệnh.
48
Khoa học - Công nghệ và đổi mới sáng tạo
Số 4 năm 2020
- Nghiên cứu di thực và thuần
hóa đối với một số loài cây thuốc
quý hiếm, có phân bố tự nhiên
hẹp, có yêu cầu khắt khe về môi
trường sống như Sâm ngọc linh,
Lan kim tuyến Từng bước đưa
các loài này ra môi trường nhân
trồng mới, hạn chế các tác động
tiêu cực đến vùng phân bố tự
nhiên.
- Bảo tồn, phát triển tri thức
truyền thống gắn liền với phát
triển du lịch: hiện nay, du lịch tại
khu vực Tây Nguyên đang trong
quá trình phát triển mạnh, thu hút
lượng lớn du khách trong nước và
quốc tế. Một trong các yếu tố thu
hút du lịch tại đây là sự đa dạng,
độc đáo về văn hóa của đồng bào
các dân tộc thiểu số. Do vậy, việc
kết hợp tốt giữa bảo tồn đa dạng
sinh học nói chung, bảo tồn cây
thuốc nói riêng cũng như bảo tồn
tri thức bản địa gắn liền với các
hoạt động du lịch sẽ làm tăng
thêm lực hút đối với du khách.
Bên cạnh những giải pháp
nêu trên, từ thực tế nghiên cứu,
chúng tôi cũng kiến nghị một số
nội dung cần thực hiện trong thời
gian tới như sau:
- Tiếp tục điều tra, đánh giá về
tiềm năng phát triển dược liệu tại
khu vực này.
- Tri thức truyền thống ngày
càng bị mai một do tài nguyên
thiên nhiên giảm dần, người già
mất đi, trong khi người trẻ lại có
nhiều lựa chọn mới trong sinh
kế. Do đó, cần nhanh chóng thu
thập, lưu giữ tri thức truyền thống
nói chung và tri thức trong sử
dụng cây thuốc nói riêng.
- Hiện nay đã có nhiều nghiên
cứu về đa dạng sinh học cũng
như nghiên cứu về dược liệu tại
khu vực Tây Nguyên, tuy nhiên
các nghiên cứu còn nhỏ lẻ, kết
quả được lưu giữ ở nhiều nơi khác
nhau, gây nên sự thiếu hụt thông
tin, chồng chéo về nội dung Đây
là sự lãng phí rất lớn, do đó cần
xây dựng một cơ sở dữ liệu hoàn
chỉnh về dược liệu của khu vực
Tây Nguyên ?
tài LiỆu thaM Khảo
1. Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và
nhà ở trung ương (2010), Tổng điều tra dân
số và nhà ở năm 2009: Kết quả toàn bộ,
Nxb Thống kê.
2. Lê Xuân Cảnh (2015a), Báo cáo
tổng kết đề tài: Điều tra, đánh giá hệ sinh
thái rừng khộp và hệ sinh thái rừng lá rộng
thường xanh ở Tây Nguyên và đề xuất giải
pháp bảo tồn (mã số TN3/T07), Chương
trình KH&CN trọng điểm cấp nhà nước
KHCN-TN3/11-15.
3. Lê Xuân Cảnh (2015b), Báo cáo tổng
kết đề tài: Xây dựng hồ sơ khu dự trữ sinh
quyển thế giới Vườn quốc gia Bidoup - Núi
Bà (tỉnh Lâm Đồng), đề tài nghiên cứu khoa
học và phát triển công nghệ, Viện Hàn lâm
Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
4. Lưu Đàm Cư (2015), Báo cáo tổng
kết đề tài: Nghiên cứu tri thức bản địa trong
sử dụng và bảo tồn tài nguyên sinh vật phục
vụ phát triển kinh tế - xã hội và bảo tồn bản
sắc dân tộc của cộng đồng các dân tộc
thiểu số ở khu vực Tây Nguyên (mã số TN3/
T13), Chương trình KH&CN trọng điểm cấp
nhà nước KHCN-TN3/11-15.
5. Nguyên Văn Dư (2015), Báo cáo
tổng kết đề tài: Điều tra nghiên cứu các cây
thuốc được sử dụng trong các bài thuốc dân
tộc tại Tây Nguyên và các biện pháp bảo
tồn (mã số TN3/T10), Chương trình KH&CN
trọng điểm cấp nhà nước KHCN-TN3/11-15.
6. Nguyễn Phương Hạnh (2015), Nghiên
cứu nguồn tài nguyên cây thuốc tại Vườn
quốc gia Chư Yang Sinh và đề xuất các biện
pháp bảo tồn, sử dụng bền vững, Luận án
Tiến sĩ, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh
vật.
7. Trịnh Ngọc Hiệp, Trần Đức Bình, Sỹ
Danh Thường, Bùi Hồng Quang (2019), “Đa
dạng nguồn tài nguyên cây thuốc tại Khu
bảo tồn thiên nhiên Kon Chư Răng, tỉnh Gia
Lai”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại
học Thái Nguyên, 194(1), tr.15-20.
8. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn tỉnh Đắk Lắk (2013), Quy hoạch bảo
tồn và phát triển bền vững rừng đặc dụng
tỉnh Đắk Lắk đến năm 2030.
9. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh
Kon Tum (2016), Báo cáo tổng hợp kết
quả nghiên cứu và triển khai nhiệm vụ Quy
hoạch bảo tồn đa dạng sinh học trên địa
bàn tỉnh Kon Tum đến năm 2020 và định
hướng đến năm 2030.
10. Nguyễn Hữu Toàn Phan (2016),
Điều tra, sàng lọc nguồn tài nguyên dược
liệu thực vật tỉnh Lâm Đồng theo định hướng
hoạt tính sinh học nhằm phát triển các loài
dược liệu có giá trị cao (mã số TN3/T14).
11. Nguyễn Tập và cs (2016), Cây
thuốc Vườn quốc gia Chư Yang Sinh, tỉnh
Đắk Lắk, Nxb Nông nghiệp.
12. Nguyễn Thị Tường Vi, Võ Văn Minh,
Nguyễn Văn Khánh (2010), “Tổng quan về
đa dạng sinh học ở thành phố Đà Nẵng và
một số định hướng bảo tồn”, Tạp chí Khoa
học và Công nghệ, Đại học Đà Nẵng, 5(40),
tr.213-220.
Sâm Ngọc Linh được trồng dưới gốc cây cổ thụ trong rừng Tây Nguyên.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
phat_trien_nguon_tai_nguyen_cay_thuoc_va_tri_thuc_ban_dia_kh.pdf