2.3. Chú ý thời gian: Không nên nói quá thời gian cho phép. Nếu nói quá dài
sẽ làm mất sự tập trung của người nghe, đôi khi chúng ta còn bị nhắc nhở, làm ảnh
hưởng đến kết quả báo cáo . Mặt khác, sự chú ý của người nghe là có giới hạn và
những gì chúng ta cố nói thêm sẽ không hữu ích.
2.4. Phong cách nói: Bình tĩnh, đường hoàng, tự tin nhưng không đơn điệu.
Phải có thái độ sâu sắc, thuyết phục, thể hiện lòng tin vào lời nói của mình. Không
vội vã và nuốt mất đuôi của các từ. Cú pháp cần dơn giản, rõ ràng, mạch lạc. Cần
mạnh dạn loại bỏ những cái thừa làm loãng, làm rườm rà nội dung báo cáo, làm giảm
sự hào hứng và làm cho người nghe giảm sự tập trung chú ý. Ngôn ngữ phải khoa
học, đúng đắn và thể hiện trình độ văn hoá của tác giả. Không nên nói sai văn phạm.
Lời nói có cường độ vừa đủ để được nghe rõ, nói nhỏ quá là thể hiện sự thiếu tôn
trọng người khác, nói to quá lại làm cho người nghe mệt vì "ức chế tới hạn". Khi diễn
đạt, nên thể hiện sự khiêm tốn, không vung tay quá nhiều. Làm được những điều này,
báo cáo viên sẽ tranh thủ được tình cảm người nghe.
2.5. Trả lời câu hỏi: Cần ghi chép chính xác lại các câu hỏi, trả lời một cách
thẳng thắn, tư tin, trả lời thắng vào bản chất của vấn đề. Khi trả lời, không nên dấu đi
những khó khăn, những vấn đề vượt quá tầm nghiên cứu hoặc khả năng của mình,
khía cạnh nào chưa giải đáp ngay được cần trình bày rõ nguyên nhân (vượt quả khả
năng hay người nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu.). Nên thể hiện sự khiêm tốn và lịch
thiệp, trân trọng đối với các câu hỏi hoặc ý kiến nhận xét đóng góp của thành viên
Hội đồng và người nghe, điều đó có thể giúp cho chúng ta có những gợi ý, những giải
pháp hợp lý mà chúng ta chưa nghĩ tới để tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện công trình,
Đồng thời, điều đó cũng gây được thiện cảm ở người nghe.
35 trang |
Chia sẻ: honghp95 | Lượt xem: 2283 | Lượt tải: 1
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Phương pháp nghiên cứu khoa học thể dục thể thao, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
cho một vấn đề nào đó của thực tiễn chuyên ngành.
Luận văn cử nhân là một văn bản trình bày các kết quả tập dượt nghiên cứu
của sinh viên trong quá trình đào tạo ở trường đại học để trở thành nhà khoa học. Kết
quả đánh giá luận văn là cơ sở để nhà trường công nhận tốt nghiệp.
2.2. Dựa theo cấp độ quản lý đề tài, ta có:
Đề tài cấp nhà nước nghiên cứu các chiến lược phát triển kinh tế, văn hoá,
khoa học công nghệ quốc gia. Chương trình này chia thành nhiều nhánh giao cho các
cơ sở, các nhà khoa học thực hiện
Đề tài cấp ngành là đề tài nghiên cứu các lĩnh vực thuộc chuyên ngành nhằm
thúc đẩy sự tiến bộ chuyên môn của các ngành phục vụ cho sự tiến bộ chung.
Đề tài cấp cơ sở giải quyết những vấn đề trực tiếp trong chuyên môn của cơ sở
hoặc ngành.
Ba loại đề tài này không chỉ khác nhau về cấp độ quản lý mà còn khác nhau về
phạm vi nghiên cứu và ứng dụng.
2.3. Dựa theo loại hình nghiên cứu khoa học, ta có:
Đề tài nghiên cứu cơ bản: Là đề tài có mục tiêu tìm tòi, sáng tạo ra sự kiện,
hiện tượng khoa học mới cho nhân loại, tìm ra bản chất và quy luật phát triển của
chúng hoặc tìm ra phương pháp nhận thức mới.
Đề tài nghiên cứu ứng dụng: Là đề tài tìm ra các giải pháp áp những thành
tựu khoa học kỹ thuật vào thực tế sản xuất hay quản lý xã hội, tạo ra những quy trình
công nghệ mới, những nguyên lý mới trong quản lý kinh tế và xã hội.
Đề tài nghiên cứu dự báo: Là loại đề tài hướng vào tìm tòi các xu hướng phát
triển của khoa học và thực tiễn trong tương lai.
12
Tóm lại, đề tài khoa học dù ở dạng nào cũng xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn
mà mục đích thật sự của nó là, hoặc phát hiện ra các tri thức mới, các quy luật phát
triển của thế giới, hoặc là các phương pháp nhận thức và cải tạo hiện thực.
II. Lựa chọn môt đề tài nghiên cứu khoa học:
Thu thập tư liệu, thông
tin tham khảo
Phân tích lý luận và
thực tiễn
Ghi chép nhật ký nghiên
cứu
Lựa chọn hướng và đề tài nghiên cứu
Xác định mục đích - nhiệm vụ nghiên cứu
Dự kiến phương pháp nghiên cứu
Lập giả thiết khoa học
Lập kế hoạch và tổ chức nghiên cưú
Viết đề cương nghiên cứu khoa học
1. Phân tích lý luận và thực tiễn TDTT
Bất kỳ một thành công nào cũng bắt đầu từ bước đầu tiên, thường gọi là điểm xuất
phát. Một đề tài khoa học TDTT cũng vậy, về khách quan phải bắt đầu từ yêu cầu phát triển
của sự nghiệp TDTT; nói rõ hơn là sự đòi hỏi của thực tiễn giáo dục thể chất, hoặc huấn
luyện thể thao, sự phát triển thành tích thể thao. Về mặt chủ quan thì phải xuất phát từ khả
năng chuyên môn của cá nhân người nghiên cứu và người hướng dẫn khoa học để giải
quyết vấn đề nghiên cứu. Sự yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn thì vô cùng phong phú, đa dạng,
khả năng nghiên cứu của chúng ta thì có hạn. Một câu hỏi đặt ra là từ cơ sở nào để chúng
ta lựa chọn đề tài nghiên cứu khoa học? Câu trả lời là:
Các đề tài nghiên cứu được hình thành từ nguồn lý luận phong phú kết hợp với
thực tiễn sinh động. Nhà nghiên cứu phải thường xuyên theo dõi thông tin nghiên
cứu, thông qua hoạt động đọc tài liệu tham khảo theo từng lãnh vực hẹp chuyên
ngành (chủ trương của Đảng, Nhà nước, ngành, các Tạp chí khoa học TDTT, các đề
tài của tác giả đã nghiên cứu), đồng thời qua quan sát thực tiễn phát triển TDTT
của ngành, địa phương từ đó phát hiện ra các “điểm trắng”, hay "khoảng trống
khoa học", đó chính là những vấn đề chưa được nghiên cứu, các “mảnh đất hơng”
đang bị bỏ ngỏ có thể khai phá.
13
Đối với đề tài của sinh viên, thường được hình thành từ những điều vướng mắc
của thực tiễn tập luyện. Lý luận và thực tiễn luôn biến đổi nên chứa đựng nhiều mâu
thuẫn cần được giải quyết, vì vậy số lượng đề tài không bao giờ cạn.
2. Lựa chọn hướng và đề tài nghiên cứu
2.1. Hướng nghiên cứu là những vấn đề nghiên cứu lớn, bao hàm một phạm vi
khoa học, có thể nghiên cứu một số năm đến vài chục năm. Theo một hướng có thể
hình thành nhiều đề tài nghiên cứu.
Sự phân chia thành hướng đề tài nghiên cứu có tính chất ước định, còn phụ
thuộc vào các yếu tố, các điều kiện đảm bảo và các mối quan hệ nhiều ngành khoa
học góp sức vào giải quyết một vấn đề trọng điểm của xã hội.
Hướng nghiên cứu thường được một ngành, một cơ quan nghiên cứu đề xuất
trong kế hoạch công tác khoa học dài hạn.
Trên cơ sở hướng nghiên cứu, chúng ta lựa chọn chủ đề nghiên cứu phù hợp
(mảng đề tài).
Ví dụ, đối với lĩnh vực giáo dục thể chất của chúng ta có một số chủ đề nghiên cứu
sau:
- Nghiên cứu theo hướng điều tra cơ bản về thực trạng thể chất học sinh, sinh viên;
về vị trí, vai trò, tác dụng của công tác giáo dục thể chất ở các tỉnh miền Trung và Tây
Nguyên.
- Nghiên cứu đề xuất cải tiến chương trình, kế hoạch, nội dung phương pháp tuyển
chọn, huấn luyện, đào tạo vận động viên trẻ. Ứng dụng các phương pháp, kinh nghiệm giáo
dục thể chất tiên tiến cho học sinh các cấp.
- Nghiên cứu biện pháp quản lý, giáo dục bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất đạo đức
cho sinh viên, VĐV.
- Nghiên cứu cơ sở vật chất phục vụ cho công tác đào tạo, huấn luyện.
- Nghiên cứu các quy trình điều trị chấn thương, phục hồi thể lực cho VĐV
- Nghiên cứu về kỹ - chiến thuật, thể lực cho các môn thể thao chuyên ngành.
2.2. Đề tài nghiên cứu là sự cụ thể hoá vấn đề khoa học của một hướng nghiên
cứu. Nói cách khác, đề tài khoa học là một vấn đề nghiên cứu cụ thể được phân nhỏ
từ một hướng nghiên cứu lớn.
Để tiến hành một đề tài khoa học, Tác giả Lê Tử Thành nêu ra 10 câu hỏi gợi ý sau:
1. Đề tài có mới mẻ không? Mới còn có nghĩa là đề tài cũng có thể được nghiên cứu
bằng phương pháp mới, hoặc đối tượng mới, cho kết quả mới
2. Mình có thích không? Chỉ có thể làm tốt những gì mình thích.
3. Nghiên cứu đề tài có lợi ích gì? Cho bản thân, cho ngành, cho xã hội
4. Mình có đủ khả năng để nghiên cứu đề tài này không? (Kiến thức khoa học, trình
độ ngoại ngữ) Nên chọn đề tài vừa sức là tốt nhất.
14
5. Có tài liệu tham khảo liên quan đến đề tài không?
6. Thời gian thực hiện đề tài là bao lâu?
7. Có đủ phương tiện cần thiết để nghiên cứu không? Nhất là các đề tài thực nghiệm
khoa học cần phải có phương tiện, dụng cụ chính xác, phù hợp.
8. Có phương pháp phù hợp với đối tượng nghiên cứu đề tài không?
9. Đề tài nên được giới hạn như thế nào? Xác định phạm vi nghiên cứu đến đâu.
10. Có người hướng dẫn khoa học không?
Từ phân tích các câu hỏi trên cho thấy, một đề tài hợp lý cần đảm bảo một số
yêu cầu sau:
- Đề tài phải mang tính cấp thiết, xuất phát từ nhu cầu lý luận và thực tiễn
TDTT, phải giải quyết được vấn đề còn đang gây nên khó khăn, tồn tại làm giảm các
giá trị của lý luận và thực tiễn của hoạt động TDTT.
- Đề tài phải mang tính thời sự, mới lạ về mặt thực tiễn và lý luận khoa học.
- Đề tài cần tạo nên sự hứng thú, say mê cho người nghiên cứu. Đây chính là
yếu tố phát huy tinh thần trách nhiệm và sự chủ động tìm kiếm đề xuất các hướng giải
quyết, đặc biệt tạo khả năng phát hiện sớm vấn đề mới còn chưa được nghiên cứu.
- Đề tài cần phù hợp với khả năng và trình độ người nghiên cứu, cũng như phù
hợp với cấp độ đề tài nghiên cứu, không chọn đề tài đòi hỏi năng lực cao hơn mức độ
hiện có. Dựa với trình độ nghiên cứu, luận văn khoa học dành cho sinh viên là mức
độ thấp nhất (dưới luận văn cao học và luận án tiến sỹ).
- Chọn đề tài phù hợp với điều kiện nghiên cứu về đối tượng, phương tiện
nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, thời gian, kinh phí
2.3. Cách lựa chọn đề tài nghiên cứu: Có thể sử dụng một số cách sau:
- Từ thực tiễn hoạt động, lựa chọn đề tài để giải quyết các nhiệm vụ cho các
vấn đề nảy sinh trong quá trình giảng dạy và huấn luyện TDTT. Đây là một quá trình
luôn vận động và biến đổi, nó chứa đựng và tồn tại nhiều mâu thuẫn, do đó người làm
công tác NCKH cũng chính là người tham gia trực tiếp trong việc giải quyết mâu
thuẫn đó. Những đề tài này có giá trị ứng dụng cao.
- Thường xuyên theo dõi tổng kết những thành tựu NCKH của ngành để tìm
chủ đề nghiên cứu, hướng suy nghĩ vào những vấn đề ít được nghiên cứu. Để làm
được điều này, người nghiên cứu phải chủ động đọc, ghi chép tỉ mỉ, tìm kiếm sâu,
rộng và phải hệ thống được các vấn đề liên quan từ sách, báo, tạp chí chuyên môn,
các báo cáo khoa học ở thời gian gần nhất.
- Tham khảo ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực chuyên ngành hẹp. Ý
kiến chuyên gia bao giờ cũng là nguồn tham khảo cần thiết, xác đáng và bổ ích, vì họ
là người có nhiều kinh nghiệm nghiên cứu và am hiểu sâu các thông tin mới nhất ở
từng lĩnh vực chuyên môn.
15
- Chọn đề tài theo yêu cầu và đề xuất từ hướng nghiên cứu của cấp có thẩm
quyền. Đây là những đề tài có tính khả thi, tuy nhiên chỉ nên chọn những vấn đề mà
bản thân người nghiên cứu có đủ tri thức và điều kiện nghiên cứu.
- Tìm hiểu kết quả nghiên cứu mới nhất nằm ở ranh giới giữa các ngành khoa
học vì ở đó thường xuất hiện những môn học mới. (Kinh tế học - KTTDTT,
Maketting trong thể thao).
- Nghiên cứu phương pháp và biện pháp mới có hiệu quả cao hơn.
- Nghiên cứu những đối tượng cũ nhờ phương pháp mới với quan điểm mới.
Thông thường, phải kết hợp nhiều cách để lựa chọn đề tài.
3. Xác định mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu:
3.1. Mục đích nghiên cứu: Việc xác định rõ mục đích nghiên cứu có vị trí
quan trọng nhằm định ra mục tiêu, định hướng cho công tác nghiên cứu sắp tới. Đây
cũng là cơ sở để xác định các nhiệm vụ cụ thể của đề tài.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu: là sự cụ thể hoá vấn đề khoa học trong một đề tài.
Xác định các nhiệm vụ là nhằm làm sáng tỏ nội dung vấn đề nghiên cứu và các vấn
đề liên quan để giải quyết mục đích nghiên cứu. Thông thường giữa các nhiệm vụ có
mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Giải quyết nhiệm vụ trước làm cơ sở cho việc giải
quyết nhiệm vụ tiếp theo. Khi hoàn thành nhiệm vụ cuối cùng là lúc đề tài được coi
như hoàn thành.
Các nhiệm vụ nghiên cứu được trình bày sao cho rõ ràng về mặt nội dung, chính
xác về khái niệm, văn phong phải dễ hiểu và ngắn gọn, thuật ngữ phải đúng.
Mỗi đề tài thường có một số nhiệm vụ (từ 2 đến 5 tuỳ mức độ nghiên cứu). Các
nhiệm vụ nghiên cứu phải thoả mãn một số yêu cầu sau:
- Mang tính mới lạ, sáng tạo về mặt khoa học. Nghĩa là không được đặt thành
nhiệm vụ đối với một vấn đề nào đó đã được tác giả khác nghiên cứu rồi.
- Tên các nhiệm vụ phải ngắn gọn, nêu được bản chất, nội dung của vấn đề
nghiên cứu, không có từ ngữ thừa.
- Xác định số lượng, chất lượng nhiệm vụ nghiên cứu phải hết sức nghiêm túc
và thận trọng căn cứ vào mục đích giải quyết đề tài, vì ảnh hưởng trực tiếp đến công
việc nghiên cứu.
4. Dự kiến phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu là cách thức do người nghiên cứu sử dụng với mục
đích thu nhận và xử lý thông tin về vấn đề nghiên cứu. Hiện nay trong lĩnh vực TDTT
thường dùng nhiều phương pháp nghiên cứu từ các ngành khoa học có liên quan để
thu nhận và xử lý thông tin đảm bảo chính xác, cho độ tin cậy cao.
16
Lựa chọn phương pháp phụ thuộc vào cấp độ, loại hình đề tài và nhiệm vụ
nghiên cứu. Đề tài và nhiệm vụ nghiên cứu khác nhau thường dẫn tới chọn các
phương pháp nghiên cứu khác nhau. Trong một đề tài, có phương pháp có thể giải
quyết một số nhiệm vụ nghiên cứu, song cũng có nhiệm vụ đòi hỏi phải được giải
quyết bằng nhiều phương pháp khác nhau. Vì vậy, khi nghiên cứu phải lựa chọn
phương pháp thích hợp.
Lưu ý khi trình bày trong đề cương, đối với các phương pháp nghiên cứu phổ
biến, chỉ cần nêu tên và thứ tự thực hiện các phương pháp (không liệt kê các phương
pháp không sử dụng) để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu. Đối với các phương
pháp khác cần nêu thêm cách tiếp cận phương pháp nghiên cứu hoặc giải thích thêm
vì sao chọn phương pháp đó, song cần phải hết sức ngắn gọn. Thí dụ đối với phương
pháp kiểm tra sư phạm, cần nêu tên Test sẽ sử dụng để kiểm tra, đối với phương pháp
thực nghiệm, nêu cụ thể loại hình dự kiến thực nghiệm, đối với phương pháp toán học
thống kê, nêu tên hoặc công thức sẽ sử dụng.
5. Lập giả thiết khoa học và dự báo kết quả nghiên cứu:
Giả thiết khoa học là những dự định ban đầu của nhà nghiên cứu về kết qủa đề
tài. Trong công trình nghiên cứu, giả thiết khoa học là linh hồn của công trình. Một
công trình khoa học về thực chất là chứng minh một giả thiết khoa học, do đó xây
dựng giả thiết khoa học là thao tác quan trọng, có ý nghĩa hết sức to lớn của mỗi công
trình khoa học. Giả thiết có chức năng tiên đoán sự việc, đồng thời là chức năng chỉ
đường để khám phá đối tượng.
Giả thiết được xây dựng phải tuân thủ các yêu cầu sau đây:
- Giả thiết phải có tính thông tin về sự kiện, nghĩa là có khả năng giải thích
được sự kiện cần nghiên cứu.
- Giả thiết có thể kiểm chứng được bằng thực nghiệm.
Dự báo kết quả nghiên cứu là những yếu tố được tiên đoán hoặc có thể dưới
dạng triển khai với nhiều yếu tố tiên đoán khác nhau. Người nghiên cứu sau khi lập
luận cho đề tài nghiên cứu của mình cần làm nỗi bật mâu thuẫn cần giải quyết, tiên
đoán về cách giải quyết mâu thuẫn này và biết cách khai thác triệt để những kinh
nghiệm của mình cũng như của đồng nghiệp để áp dụng.
- Cần đảm bảo cho các giả thiết khoa học của mình có những đặc điểm riêng,
không có sự trùng lặp với các giả thiết thuộc đề tài khác có liên quan.
- Khẳng định tính khả thi sau khi thực hiện đề tài, nói cách khác là phải dự báo
được kết quả cuối cùng sau khi giải quyết các nhiệm vụ của đề tài và đảm bảo thoả
mãn được mục đích nghiên cứu.
6. Lập kế hoạch tổ chức nghiên cứu
Các công việc cơ bản để xây dựng kế hoạch tổ chức nghiên cứu là:
17
1 - Dự kiến tiến độ nghiên cứu: Ghi thời gian bắt đầu nghiên cứu đến khi bảo
vệ công trình nghiên cứu. Trong khoảng thời gian đó, người nghiên cứu phải phân
chia các phần công việc cụ thể, thời gian thực hiện, thời gian hoàn thành, sản phẩm
phải đạt được là gì.
2. Xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Cần xác định rõ khách thể và chủ thể nghiên cứu (nghiên cứu ai? Nghiên cứu
vấn đề gì?).
- Cần xác định phạm vi nghiên cứu với yêu cầu vừa sức, phù hợp với mục
đích, tính chất, nhiệm vụ của đề tài và khả năng của người nghiên cứu.
3. Xác định địa điểm nghiên cứu:
4. Dự trù trang thiết bị nghiên cứu:
5. Dự trù kinh phí nghiên cứu
7. Viết đề cương nghiên cứu khoa học.
Đề cương nghiên cứu khoa học là tác phẩm đầu tay của nhà khoa học trên con
đường nghiên cứu, nó trình bày nội dung vấn đề nghiên cứu và kế hoạch tổ chức thực
hiện. Đề cương nghiên cứu là việc làm đầu tiên có tầm quan trọng trước nhất, cụ thể
là:
- Giúp cho người nghiên cứu xây dựng được phương hướng, chương trình, kế
hoạch hoạt động nhằm đạt kết quả trong quá trình nghiên cứu đề tài đã được xác định.
- Giúp cho người nghiên cứu tập dược và rèn luyện tác phong rèn luyện khoa
học, nâng cao tinh thần trách nhiệm trong công việc nhằm hoàn thành công trình
nghiên cứu đúng tiến độ, thời gian, tránh lối làm ăn tuỳ tiện.
- Giúp cho người hướng dẫn khoa học có cơ sở cụ thể để dẫn dắt, diều chỉnh
hoạt động của người nghiên cứu, đáng giá kết quả nghiên cứu của người nghiên cứu.
- Sau khi hoàn thành đề cương, được Hội đồng xét duyệt thông qua thì tiến
hành giai đoạn 2, giai đoạn nghiên cứu.
18
BÀI 3. XÂY DỰNG ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
I. Cấu trúc của một đề cương NCKH:
1. Đặt vấn đề:
2. Mục đích nghiên cứu:
3. Mục tiêu nghiên cứu:
4. Phương pháp nghiên cứu và cách tiếp cận:
5. Giả thiết khoa học:
6. Tổ chức nghiên cứu:
6.1. Nội dung nghiên cứu và tiến độ thực hiện:
6.2. Đối tượng nghiên cứu:
6.3. Địa điểm nghiên cứu:
6.4. Thiết bị, dụng cụ nghiên cứu:
7. Dự kiến sản phẩm và địa chỉ ứng dụng:
5.1. Dự kiến sản phẩm:
5.2. Địa chỉ ứng dụng:
8. Dự trù kinh phí:
Nội dung cụ thể:
1. Đặt vấn đề:
Đặt vấn đề nghiên cứu của một đề tài khoa học là tìm các cơ sở lý luận và thực
tiễn của việc nghiên cứu. Việc nghiên cứu đề tài nhằm mục đích làm sáng tỏ tính chất
cần thiết và tính khách quan của vấn đề nghiên cứu. Do đó khi xác định cách viết nội
dung phần đặt vấn đề là nhằm trả lời câu hỏi: Tại sao nghiên cứu vấn đề đó? Vấn đề
này đã được giải quyết đến đâu? Các nội dung cần giải quyết là gì? Đối với lĩnh vực
GDTC và HLTT, vấn đề cần giải quyết thường xuất phát từ chủ trương của Đảng và
của Nhà nước về công tác TDTT, xuất phát từ thực tiễn xã hội hiện nay đang đòi hỏi,
từ kết quả NCKH còn ít và hạn chế... Bằng việc phân tích ý nghĩa của đề tài và đánh
giá đúng đắn hiện trạng vấn đề đang nghiên cứu, người nghiên cứu sẽ xác định vai trò
và trách nhiệm của mình trước đề tài.
Phần đặt vấn đề thường có các nội dung sau:
- Tính cấp thiết, tầm quan trọng, ý nghĩa của đề tài.
19
- Đánh giá đúng đắn và sát thực hiện hiện trạng vấn đề được lựa chọn nghiên
cứu, đã có tác giả nào nghiên cứu vấn đề tương tự, phạm vi và kết quả của họ?
- Xác định tên đề tài và phạm vi nghiên cứu.
- Xác định tính mới lạ của đề tài.
Tóm lại, khi đặt vấn đề, cần vạch ra được sự đúng đắn của việc lựa chọn đề tài,
qua đó cho thấy tính bức bách, cấp thiết của việc nghiên cứu. Đồng thời phải cho thấy
được tính mới lạ, tính sáng tạo của đề tài, đó là nguyên nhân không ai có thể phủ
nhận để cho đề tài được thực thi.
2. Mục đích nghiên cứu:
2.1. Mục đích nghiên cứu: Nêu ngắn gọn và đầy đủ ý nghĩa mục đích nghiên
cứu, tránh rườm rà, lập lại.
Việc xác định rõ mục đích nghiên cứu có vị trí quan trọng, vì từ đó sẽ định ra
mục tiêu đề tài cần đạt được, định hướng cho công tác NCKH sắp tới. Đây cũng là cơ
sở để xác định các nhiệm vụ cụ thể của đề tài.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Đối với đề tài sinh viên, tuỳ theo tình hình thực tiễn và nhiệm vụ nghiên cứu, có
thể lựa chọn 2 - 3 mục tiêu cho phù hợp. Thông thường đối với đề tài của sinh,
thường giải quyết 2 nhiệm vụ nghiên cứu. Nhiệm vụ thứ nhất thường đánh giá thực
trạng (trên cơ sở lý luận và thực tiễn) về vấn đề đang được nghiên cứu, nhiệm vụ 2
thường xây dựng những giải pháp khoa học mới nhằm giải quyết thực trạng đang
diễn ra. (Phần lý luận viết chung ở phần Tổng quan)
Xác định các mục tiêu là nhằm làm sáng tỏ nội dung vấn đề nghiên cứu và các
vấn đề liên quan để giải quyết mục đích nghiên cứu, giữa các mục tiêu phải có mối
liên hệ chặt chẽ với nhau. Việc giải quyết mục tiêu trước làm cơ sở cho việc giải
quyết mục tiêu tiếp theo. Khi hoàn thành mục tiêu cuối cùng là lúc đề tài được coi
như hoàn thành.
Các mục tiêu nghiên cứu được trình bày sao cho rõ ràng về mặt nội dung, chính
xác về khái niệm, văn phong phải dễ hiểu và ngắn gọn, thuật ngữ phải đúng.
Khi đưa ra mục tiêu, tác giả nên giải thích rõ để đạt được mục tiêu, cần phải thực
hiện những công việc gì.
4. Phương pháp nghiên cứu và cách tiếp cận:
Các phương pháp được sử dụng để giải quyết mục tiêu. Mỗi mục tiêu có một số
phương pháp cụ thể. Trong đề cương, đối với các phương pháp nghiên cứu phổ biến,
chỉ cần nêu tên và thứ tự thực hiện các phương pháp, mục đích sử dụng phương pháp,
cần trình bày hết sức ngắn gọn. Thí dụ đối với phương pháp kiểm tra sư phạm, cần
nêu tên Test sẽ sử dụng để kiểm tra, đối với phương pháp thực nghiệm, nêu cụ thể
loại hình dự kiến thực nghiệm, đối với phương pháp toán học thống kê, nêu tên hoặc
công thức sẽ sử dụng.
20
5. Giả thiết khoa học:
Khẳng định vấn đề tác giả đưa ra là đã đúng về mặt bản chất, vấn đề còn lại là tác giả
đang tìm các thông tin để chứng minh vấn đề mình đang đặt ra. Nếu giả thuyết là
chính xác thì nó sẽ có giá trị thực tiễn như thế nào đối với đời sống xã hội.
6. Tổ chức nghiên cứu:
6.1. Nội dung nghiên cứu và tiến độ thực hiện:
TT Nội dung thực hiện Bắt đầu Kết thúc Kết quả
1
2
3
4
5
6.2. Đối tượng nghiên cứu: Cần ghi rõ khách thể nghiên cứu là ai? Đối tượng
nghiên cứu đối với khách thể là cái gì?
6.3. Địa điểm nghiên cứu: Cơ quan chủ trì đề tài, địa điểm thử nghiệm hay thực
nghiệm khoa học (có đối tượng thực hiện đề tài)
6.4. Thiết bị, dụng cụ nghiên cứu: Sân bãi, dụng cụ tập luyện, dụng cụ nghiên
cứu, dự kiến số lượng và chủng loại.
7. Dự kiến sản phẩm và địa chỉ ứng dụng:
7.1. Dự kiến sản phẩm:
7.2. Địa chỉ ứng dụng:
8. Dự trù kinh phí:
Dự kiến toàn bộ kinh phí để thực hiện đề tài, trong đó cần phân bổ cho từng yêu
cầu cụ thể (phỏng vấn, in ấn tài liệu, mua sắm thuê mướn phương tiện nghiên cứu,
bảo vệ luận văn...)
Đà Nẵng, ngày tháng năm 200...
Người hướng dẫn khoa học Người thực hiện
(Ký tên và ghi rõ họ tên) (Ký tên và ghi rõ họ tên)
Lưu ý: Đề mục đánh số bằng chữ số Ả rập (1.2.3..)
II. Hình thức của Đề cương Khoá luận tốt nghiệp:
1. Bìa chính: (Giấy màu mềm)
21
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO ĐÀ NẴNG
ĐỀ CƯƠNG KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
(TÊN ĐỀ TÀI)
Sinh viên:
Khoá, Lớp chuyên sâu:
Đà Nẵng, năm 201...
2. Bìa phụ:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TDTT ĐÀ NẴNG
Bộ môn:
ĐỀ CƯƠNG KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
(TÊN ĐỀ TÀI)
Người hướng dẫn khoa học Người thực hiện
(Học hàm, học vị, họ tên) (Họ tên)
(Khóa, lớp chuyên sâu)
3. Các trang nội dung:
Nội dung Đề cương NCKH in trên một mặt giấy trắng khổ A4. Đánh số trang
ở giữa trên, bắt đầu từ trang Đặt vấn đề. Về soạn thảo văn bản sử dụng chữ font chữ
Times New Roman cỡ 13 - 14 (unicod) của hệ soạn thảo văn bản Winword hoặc
tương đương, mật độ chữ bình thường, không được nén hoặc kéo dãn khoảng cách
giữa các chữ, dãn dòng đặt ở chế độ 1.2 - 1.3lines, lề trên và dưới 3.0cm, lề trái
3.5cm, lề phải 2.0cm. Không lạm dụng viết tắt, chỉ viết tắt những từ, cụm từ được sử
dụng nhiều lần trong đề cương, trước khi viết tắt từ đầu tiên, phải có từ viết đầy đủ
kèm theo từ viết tắt trong ngoặc đơn ( )./.
22
Bài 4. VIẾT VÀ BẢO VỆ LUẬN VĂN KHOA HỌC
I. Viết và trình bày luận văn
1. Khái quát:
1.1. Khái niệm chung: Luận văn là tài liệu được xây dựng công phu nhằm giúp
Hội đồng khoa học và người đọc không chỉ biết được kết quả nghiên cứu khoa học
mà còn biết cách nghiên cứu để có được kết quả đó. Vì vậy, chất lượng của luận văn
sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ chất lượng của công trình nghiên cứu.
1.2. Chức năng của luận văn:
- Phản ảnh kết quả và chất lượng của cuộc nghiên cứu.
- Lưu giữ thông tin.
- Đề xuất phương hướng hành động.
2. Cấu trúc luận văn khoa học:
Cấu trúc của luận văn thường có phần mở đầu, các chương, phần kết luận và
kiến nghị và các phần phụ. Cách phân chia các chương, phần trong luận văn có thể
thay đổi tuỳ theo cấp độ đề tài hoặc quy định của cơ quan quản lý đề tài. Tuy nhiên,
khi trình bày, tác giả cần lưu ý cấu trúc của các chương phần phải cân đối, hợp lý.
Kết cấu luận văn khoa học, thông thường có một số nội dung cụ thể sau:
Mở đầu: (không đánh số và chương)
Phần Mở đầu được xây dựng từ nội dung cơ bản của đề cương nghiên cứu khoa
học, tuy nhiên các nội dung cần được trình bày cụ thể, chi tiết hơn. Trong phần mở
đầu thường có các mục:
1. Lý do chọn đề tài: Trình bày lý do chọn đề tài, đối tượng và phạm vi nghiên
cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu. Về cơ bản, phần này được
trình bày như bản đề cương nghiên cứu nhưng chi tiết hơn. Đặc biệt, phần đầu của lý
do chọn đề tài cần liên hệ tới chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước và của
ngành có liên quan về lĩnh vực đang được nghiên cứu, khi phân tích nên đi từ cái
chung đến cái riêng, cái tổng quát đến cái đặt thù.
2. Mục đích nghiên cứu
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
23
4. Phương pháp nghiên cứu: Các phương pháp nghiên cứu ở đây không chỉ
dừng lại ở chỗ nêu tên các phương pháp, mà chúng cần được mô tả một cách chi tiết,
đặc biệt là những phương pháp mới.
Trong mỗi phương pháp khi đưa vào báo cáo phải đạt 3 yêu cầu: Một là nêu
mục đích sử dụng. Hai là mô tả chi tiết từng phương pháp về cách thức lấy số liệu,
cách đo đạc. Ba là nêu lên những thiết bị, máy móc đã sử dụng cho nghiên cứu. Có
thể dùng hình ảnh, hình vẽ hoặc mẫu phiếu để cụ thể hoá một phương pháp nào đấy
cũng là điều cần thiết. Ví dụ, đối với phương pháp phỏng vấn, có thể đưa mẫu phỏng
vấn đã sử dụng vào trong phần phụ lục của luận văn. Nếu có sử dụng toán học thống
kê để xử lý số liệu trong công trình, thì nhất thiết phải trình bày những công thức đã
được áp dụng và có sự chú thích các ký hiệu của chúng.
5. Tổ chức nghiên cứu: Trình bày chi tiết đối tượng nghiên cứu, địa điểm
nghiên cứu, thời gian và phân chia các giai đoạn nghiên cứu.
Chương 1: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
a) Đặc điểm của tổng quan:
Tổng quan là sự thừa kế có chọn lọc, phân tích các thành tựu khoa học và tri
thức của những người đi trước. Vì vậy, trước khi xác định đề tài và chủ yếu là trong
quá trình nghiên cứu, người nghiên cứu phải tra cứu các văn bản, chỉ thị, nghị quyết
của Đảng và Nhà nước, và đặc biệt là tìm hiểu các công trình nghiên cứu có liên quan
để tìm hiểu những luận điểm về kết quả nghiên cứu của họ làm cơ sở cho việc giải
quyết đề tài của mình.
Phương pháp dùng để viết Tổng quan là phương pháp tra cứu tài liệu, qua đó
nhà nghiên cứu sẽ xử lý và phân tích lý luận, cần phải nêu được các vấn đề lý luận có
liên quan đến đề tài để làm cơ sở khoa học cho vấn đề đang nghiên cứu, đồng thời
phải tiến hành phân tích, so sánh, đánh giá khái quát các công trình nghiên cứu, các
tài liệu đã công bố của các tác giả khác có liên quan đến đề tài đang nghiên cứu của
mình nhằm nêu lên những vấn đề tồn tại, chỉ ra những vấn đề mà đề tài của mình
đang tập trung nghiên cứu giải quyết; từ đó đưa ra vấn đề mới, đưa lại nhận thức mới
thông qua việc trình bày ý kiến của mình trên cơ sở lý luận.
Tổng quan khoa học không phải là sự sao chép của các công trình nghiên cứu
hoặc kiến thức ở sách giáo khoa, giáo trình mà chỉ nên trình bày những gì cần thiết do
đề tài đặt ra, nói một cách chính xác là do nhiệm vụ nghiên cứu đòi hỏi để làm cơ sở
cho việc khái quát, thực nghiệm, thảo luận, phê phán.
24
Tổng quan không được viết tràn lan mà nên theo từng chuyên mục cần thiết
theo xu hương viết ngắn gọn có liên quan đến đề tài để cuối cùng dẫn tới làm cho
người độc thấy tác giả đang cần gì, muốn gì thông qua sự trình bày, phân tích và phê
phán các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước.
b) Các bước biên soạn tổng quan:
1. Phân tích yêu cầu của đề tài: phân tích yêu cầu của đề tài nhằm tạo điều
kiện để lựa chọn các nguồn thông tin thích hợp. Nên khảo sát sơ bộ lịch sử các vấn đề
dự kiến nghiên cứu với các nguồn thông tin có sẵn để phát hiện các vấn đề cần lựa
chọn đưa vào tổng quan.
2. Lựa chọn các nguồn thông tin: Xác định các nguồn thông tin có thể tìm
kiếm (sách giáo khoa, giáo trình, các báo cáo khoa học, các công trình nghiên cứu của
các tác giả, các báo cáo từ các kỷ yếu hội thảo, hội nghị, các thông tin trên mạng, các
cơ sở dữ liệu).
3. Soạn thảo dàn bài tổng quan: Cân nhắc các thành phần nội dung của tổng
quan, độ nông sâu của các phần. Có thể phân tích từ tên của đề tài nghiên cứu để xác
định các đề mục cần nêu của dàn bài (đề cương) tổng quan.
4. Thu thập thông tin: Sử dụng phương pháp Tra cứu tài liệu để đọc và phân
tích các thông tin, khi thu thập cần xác định giá trị khoa học học của thông tin (loại
tài liệu gì, ai viết, nhà xuất bản nào, thời gian xuất bản). Lấy càng nhiều nguồn
thông tin đáng tin cậy càng tốt.
5. Phân tích thông tin: Cần đọc kỹ và hệ thống các nguồn thông tin thu thập
được để xác định được các nội dung cần thiết liên quan chặt chẽ với vấn đề nghiên
cứu, làm sáng tỏ tính kế thừa có chọn lọc trong công tác nghiên cứu và khẳng định
được gía trị của đề tài.
6. Viết tổng quan: Xác định phạm vi của các vấn đề đưa vào tổng quan, lưu ý
bám theo cấu trúc đề cương đã chuẩn bị.
7. Duyệt kết cấu và văn phong: Khi hoàn thành tổng quan, cần kiểm tra lại kết
cấu các phần, văn phong chặt chẽ đảm bảo tính khoa học.
Chương 2: Kết quả nghiên cứu và bàn luận (Phân tích kết quả nghiên
cứu):
Đây là phần chính của báo cáo, phần này có số trang chiếm từ 60 – 70% số
trang của toàn bộ công trình. Tuỳ theo cấp độ nghiên cứu, phần này có thể trình bày
25
thành nhiều phần hay nhiều chương thể hiện các nội dung nghiên cứu đã thể hiện ở đề
cương nghiên cứu. Phần này thường có 2 nội dung chính là trình bày kết quả nghiên
cứu và bàn luận (phân tích) kết quả đó:
1. Trình bày kết quả nghiên cứu: Thông thường trình bày theo các bước:
- Nêu luận điểm khoa học liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu, các luận điểm
làm cơ sở để đánh giá kết quả nghiên cứu.
- Trình bày phương pháp tiếp cận, mô tả phương pháp nghiên cứu, triển khai,
các biện pháp kỹ thuật, các điều tra khảo sát, thí nghiệm, kiểm tra, thực nghiệm đã
được thực hiện trong quá trình nghiên cứu.
- Trình bày các kết quả nghiên cứu và nhận xét, đánh giá so sánh theo từng nội
dung của đề tài, đảm bảo được tính logic đi từ Phương pháp - Kết quả - Nhận xét, để
người đọc có trình độ thích hợp trong lĩnh vực này có thể hệ thống hoá được một
cách không quá khó khăn.
Ở các chương này mô tả ngắn gọn công việc nghiên cứu khoa học đã thực hiện,
các số liệu nghiên cứu khoa học và kết quả thực hiện các nhiệm vụ. Đây là sự chứng
minh các kết quả tác giả thu được và giải quyết được trong quá trình nghiên cứu. Các
nội dung đưa ra mang tính thông báo, khẳng định kết quả nghiên cứu, không bàn
luận. Nội dung trình bày gắn liền với các biểu bảng, biểu đồ, sơ đồ... Tuy nhiên, lưu ý
rằng đây không phải là những tài liệu hoặc số liệu thô, mà là những tài liệu đã được
khái quát hoá, các số liệu đã qua xử lý. Nhiệm vụ nào thì có số liệu và tài liệu tương
ứng với nhiệm vụ ấy.
Khi chứng minh các kết quả nghiên cứu, lưu ý cách hành văn phải có sức
thuyết phục. Khi có biểu bảng, biểu đồ kèm theo, thì cần lưu ý người đọc những điểm
cốt yếu gắn liền với giải quyết nhiệm vụ, vào các chỉ tiêu tiêu biểu hoặc diễn biến đặc
trưng và các nguyên tắc xây dựng tài liệu.
Khi trình bày kết quả thực nghiệm, chỉ cần nêu mục đích thực nghiệm, chương
trình thực nghiệm, phương pháp thực nghiệm, làm sáng tỏ thực chất thực nghiệm và
đáng giá độ tin cậy của kết quả thực nghiệm.
Khi trình bày kết quả nghiên cứu, không phải viết nhiều là tốt mà điều quan
trọng là phải biết mình đang viết gì? Độ tin cậy của chúng ra sao?.. Nếu tài liệu và số
liệu không liên quan đến giải quyết nhiệm vụ đề tài thì dứt khoát loại chúng ra khỏi
đề tài.
26
* Những minh họa và các bảng: Dùng để giải thích nội dung chính cần đưa
vào phần chính báo cáo và phải sắp xếp sao cho hợp lý, làm sáng tỏ những thảo luận
của báo cáo (phần lời), còn nếu trong phần lời không trích dẫn bảng biểu thì không
đưa vào phần chính báo cáo mà đưa vào phần phụ lục dưới dạng biểu số liệu.
2. Phân tích kết quả nghiên cứu (bàn luận): Là một nghệ thuật làm cho kết
quả nghiên cứu có tính thuyết phục cao, khi phân tích cần chú ý:
- Lập luận cứ cần thiết để tiến hành các nội dung; nêu các đặc tính của đối
tượng cần nghiên cứu, phát triển, đánh giá các số liệu, kết quả thu được.
- Đánh giá kết quả thu được: Đánh giá đầy đủ kết quả thực hiện các nội dung
(đánh giá độ tin cậy có so sánh với kết quả của mẫu tương tự của các đề tài khác, các
tác giả khác).
- Bình luận kết quả và nêu những nội dung đạt được, chưa đạt cần tiếp tục giải
quyết.
Bàn luận các dữ liệu khoa học đã thu được trong quá trình nghiên cứu trên cơ
sở giải quyết các nhiệm vụ và các số liệu nghiên cứu khoa học đã thực hiện ở các
chương trên. Có thể đối chiếu, so sánh với một vài kết quả nghiên cứu của các tác giả
khác thông qua tài liệu tham khảo. Nhưng vấn đề quan trọng hơn là phải tìm nguyên
nhân dẫn tới kết quả đó và sự khác biệt đó. Thông thường người ta hay dùng ý kiến
của những nhà khoa học có tên tuổi để khẳng định hoặc phủ định vấn đề đang phân
tích.
Khi phân tích, bàn luận kết quả nghiên cứu có 3 tình huống có thể xảy ra:
- Có sự trùng hợp và tin cậy giữa kết quả nghiên cứu, nhất là kết quả thực
nghiệm với kết quả dự báo. Trong trường hợp này, cần phải chỉ rõ trạng thái cơ bản
của dự báo kết quả để đi đến kết luận có tính quy luật.
- Chỉ có một phần trùng hợp giữa kết quả nghiên cứu với kết quả dự báo.
Thông thường, tiến hành các nghiên cứu bổ sung hoặc tu chỉnh dự báo.
- Kết quả nghiên cứu không phù hợp với dự báo. Trường hợp này nên tiến hành
phân tích có phê phán, sau đó thì làm những nghiên cứu mới với dự báo mới. Tuy
nhiên, những kết quả âm tính của nghiên cứu không phải là vô dụng, trong nhiều
trường hợp chúng giúp ta có quan niệm chính xác hơn về đối tượng, hiện tượng và
quá trình nghiên cứu.
27
Sau khi bàn luận, nên có sự tóm lược ngắn gọn, nghĩa là khái quát hoá những
tinh hoa của kết quả nghiên cứu ở từng nhiệm vụ để làm cơ sở cho việc xây dựng các
kết luận công trình
Kết luận và kiến nghị: Phần này là kết tinh của đề tài, vì vậy cần phải có sự
khái quát cao.
- Về kết luận, là những mệnh đề có lập luận chặt chẽ và đã thông qua kiểm tra
minh chứng. Kết luận phải trình bày kết quả mới, cái kết tinh của đề tài nghiên cứu,
cần nêu ngắn gọn, chính xác, không có lời bàn luận. Thông thường mỗi nhiệm vụ chỉ
có một kết luận. Tuyệt đối không đưa vào kết luận những vấn đề không thuộc phạm
vi nghiên cứu của đề tài.
- Phần kiến nghị cần bám sát vào kết luận, chỉ cần đề xuất cấp độ ứng dụng các
kết quả nghiên cứu của đề tài vào thực tiễn. Hướng nghiên cứu phát triển tiếp theo
của đề tài. Cần suy nghĩ kỹ lưỡng, cân nhắc cẩn thận khi kiến nghị áp dụng thực tiễn,
vì từ kết luận khoa học có khi là một hệ quả, nhưng nhiều khi đòi hỏi cả một công
trình NCKH.
Tài liệu tham khảo
Chỉ đưa vào phần này các tài liệu được trích dẫn, sử dụng và có đề cập đến trong
Luận văn. Các tài liệu được sắp xếp theo thứ tự A-B-C và trình bày như sau:
- Đối với tài liệu không có tên tác giả: Tên cơ quan ban hành, năm xuất bản
(trong ngoặc đơn), tên tài liệu (in nghiêng), nhà xuất bản, nơi xuất bản.
Ví dụ: Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch (2009), Định hướng công tác ngành
TDTT từ năm 2010 đến năm 2015, Nhà xuất bản TDTT, Hà Nội.
- Đối với sách, luận án, báo cáo: Tên tác giả (không ghi học hàm, học vị), năm
xuất bản (trong ngoặc đơn), tên tác phẩm (in nghiêng), nhà xuất bản, nơi xuất bản.
Ví dụ: Nguyễn Quang Doanh (2005), Giáo trình Bóng đá, NXB Hòa Phát, Đà
Nẵng.
- Đối với bài đăng tuyển tập, tạp chí: Tên tác giả (không ghi học hàm, học vị),
năm xuất bản (trong ngoặc đơn), “tên bài viết” (trong ngoặc kép), tên tạp chí hoặc
tuyển tập (in nghiêng), nhà xuất bản, nơi xuất bản, trang in.
Ví dụ: Võ Văn Vũ (2009), “Công tác NCKH - Thực trạng, định hướng và giải
pháp”, Nội san khoa học, NXB TDTT, Hà Nội, trang 40 - 45.
28
Phụ lục:
Phần này bao gồm những nội dung cần thiết nhằm minh hoạ hoặc bỗ trợ cho nội
dung luận văn như các số liệu, các biểu mẫu, các mẫu phiếu, tranh ảnh...
Nếu luận văn sử dụng các phiếu phỏng vấn, các câu trả lời cho một bản câu hỏi
thì các phiếu này phải đưa vào phần Phụ lục ở dạng nguyên bản đã dùng để điều tra,
phỏng vấn, không được tóm tắt hoặc sửa đổi.
2. Hình thức trình bày Luận văn cử nhân Thể dục thể thao:
Bìa chính:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO ĐÀ NẴNG
BỘ MÔN..
LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỂ DỤC THỂ THAO
(TÊN ĐỀ TÀI*)
Môn học: (Điền kinh*)
Ngành đào tạo: Giáo dục thể chất
(Tên sinh viên*)
Đà Nẵng, 200
Bìa phụ:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO ĐÀ NẴNG
BỘ MÔN
LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỂ DỤC THỂ THAO
(TÊN ĐỀ TÀI*)
Môn học: (*)
29
Ngành đào tạo: Giáo dục thể chất
Hướng dẫn khoa học Người thực hiện
(Học hàm, học vị, họ tên) (Họ tên*)
( Khóa lớp*)
Trang Nhận xét và đánh giá: Có phần nhận xét của người hướng dẫn khoa học
và phần đánh giá của Hội đồng khoa học.
Trang Mục lục: Mỗi dòng trình bày theo thứ tự: số mục (nếu có), tên đề mục,
tiểu mục, số trang (Lưu ý số trang đánh ở bên phải trang và đúng theo trục dọc).
Trang Danh mục các ký hiệu, các từ viết tắt: Trình bày chữ viết tắt trước, giải
thích nghiã sau theo thứ tự A, B, C.
Trang Danh mục các biểu bảng, biểu đồ: Trình bày số và tên các biểu bảng,
biểu đồ có trong Luận văn khoa học
Trang 1... trang N: Trình bày từ đặt vấn đề đến kết luận, kiến nghị.
Trang Tài liệu tham khảo: Trình bày theo mẫu hướng dẫn ở mục 2.3.
Trang Phụ lục.
3. Tóm tắt Luận văn khoa học:
Để chuyển tải một lượng thông tin nhất định, viết ngắn khó hơn nhiều so với
viết dài. Phải nắm vấn đề rất chắc và có tư duy sáng sủa mới có thể rút một đoạn
thành một câu. “Người đọc muốn biết những gì người viết truyền đạt, mà không phải
tốn nhiều thời gian”. “Ngắn gọn là điều mong ước của người đọc, nhưng là điều
khủng khiếp cho người viết”.
3.1. Ý nghĩa:
Tóm tắt Luận văn khoa học là trình bày lại nội dung chính của báo cáo gốc một
cách ngắn gọn, chính xác sao cho người đọc có thể tiếp thu nội dung đó nhanh nhất.
Tóm tắt Luận văn có thể thay thế cho luận văn gốc trong một số trường hợp (theo dõi
tác giả thuyết trình bảo vệ đề tài, giảm dung lượng lưu trữ, không có thời gian đọc
báo cáo chính thức, trợ giúp chọn lọc thông tin trong quá trình nghiên cứu)
3.2. Yêu cầu: Tóm tắt Luận văn khoa học tuy được rút ngắn gọn song phải nêu
đầy đủ các nội dung và đủ các kết luận của Luận văn khoa học. Các số bảng biểu,
30
hình vẽ, đồ thị... không cần thiết có thể bỏ, tuy nhiên số thứ tự của các bảng, biểu
không được thay đổi. Ngoài ra, như Luận văn đầy đủ, báo cáo tóm tắt phải đảm bảo
các yêu cầu sau:
- Cấu trúc lôgic, chặt chẽ;
- Sử dụng ngôn ngữ và văn phong khoa học, câu văn ngắn gọn rõ ràng, cú pháp
hạn chế và đồng nhất;
- Đảm bảo tính ngắn gọn (mỗi câu một ý) bằng cách loại trừ hoặc thay thế các
thành phần ít có giá trị thông tin bằng những từ hoặc mệnh đề ngắn gọn, hàm súc
hơn. Không sử dụng những từ hoặc mệnh đề có ý trùng lặp.
- Không có các dạng dư thừa về cú pháp, từ vựng.
3.3. Hình thức trình bày Tóm tắt Luận văn cử nhân TDTT:
Trang bìa 1:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO ĐÀ NẴNG
BỘ MÔN..
TÓM TẮT LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỂ DỤC THỂ THAO
(TÊN ĐỀ TÀI*)
Môn học: (Điền kinh*)
Ngành đào tạo: Giáo dục thể chất
(Tên sinh viên*)
Đà Nẵng, 200
Trang bìa 2: (mặt sau bìa 1)
Công trình được hoàn thành tại:
- Trường Đại học TDTT Đà Nẵng
31
- (địa điểm nghiên cứu*).
Người hướng dẫn khoa học:
(Học hàm, học vị, họ tên*)
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốt nghiệp đại học
TDTT, Khoá ....., Niên học 200...- 200..
Vào hồi .....giờ......, ngày........ tháng 6 năm 200...
Có thể tìm đọc luận văn tại:
- Thư viện trường Đại học TDTT Đà Nẵng.
- Bộ môn:............., trường Đại TDTT Đà Nẵng
4. Cách trình bày luận văn:
Các sản phẩm khoa học nói chung được trình bày ngắn gọn, rõ ràng, mạch lạc,
sạch sẽ, không được tẩy xoá, có đánh số trang (ở trên chính giữa), đánh số bảng biểu,
hình vẽ, đồ thị ...
Luận văn khoa học in trên một mặt giấy trắng khổ A4. Tóm tắt luận văn được
in trên 2 mặt của 1/2 khổ giấy A4 (giấy A4 gập đôi) có 20 - 24 trang (kể cả trang bìa).
Soạn thảo văn bản: Đối với các sản phẩm khoa học trong nhà trường được sử
dụng chữ Times New Roman cỡ 13 - 14 (unicod) của hệ soạn thảo văn bản Winword
hoặc tương đương, mật độ chữ bình thường, không được nén hoặc kéo dãn khoảng
cách giữa các chữ, dãn dòng đặt ở chế độ 1.3 - 1.5lines, lề trên và dưới 3.0cm, lề trái
3.5cm, lề phải 2.0cm. Tóm tắt Luận văn khoa học cỡ chữ 12 (unicod), mật độ chữ
bình thường, lề trên và dưới 2.0cm, lề trái 2.5cm, lề phải 1.5cm.
Cách đánh số phân cấp các chương, mục và tiểu mục: Các chương, mục và
tiểu mục của sản phẩm khoa học được trình bày và đánh thành chữ số, nhiều nhất là 4
chữ số với số thứ nhất chỉ số chương, số chương viết bằng chữ số Ả rập (1, 2, 3..),
không viết chữ số La mã (I, II, III...). Ví dụ: 3.2.1. nghĩa là Chương 3, mục 2, tiểu
mục 1; không viết III.2.1. Tại mỗi nhóm tiểu mục phải có ít nhất là 2 tiểu mục.
Biểu bảng, biểu đồ, đồ thị, hình ảnh: Việc đánh số biểu bảng, biểu đồ, tranh
ảnh phải gắn với số chương. Ví dụ bảng 3.2. có nghĩa là bảng thứ 2 của Chương 3.
Lưu ý Đề mục của bảng ghi ở phía trên bảng, đề mục của hình vẽ, biểu đồ ghi ở
phía dưới hình. Thông thường, những bảng ngắn và biểu đồ nhỏ phải đi liền với nội
dung đề cập tới bảng và biểu đồ này ngay lần đầu tiên. Các bảng dài có thể để ở
32
những trang riêng nhưng cũng phải tiếp theo sau phần nội dung đề cập tới ở bảng này
lần đầu tiên. Hạn chế sử dụng bảng quá rộng (hơn khổ trang giấy).
Trong Luận văn khoa học, các hình vẽ phải được vẽ sạch sẽ bằng mực đen để
có thể dễ dàng sao chụp lại, cỡ chữ bằng cỡ chữ sử dụng trong Luận văn. Khi đề cập
đến các biểu bảng, biểu đồ... phải nêu rõ số của bảng biểu đó, ví dụ:”... được nêu
trong Bảng 2.1.” hoặc “... xem hình 3.2” mà không được viết “...được nêu trong
bảng dưới đây” hoặc “...trong biểu đồ sau”.
Viết tắt: Không lạm dụng viết tắt trong Luận văn khoa hoc, chỉ viết tắt những
từ, cụm từ được sử dụng nhiều lần trong luận văn. Nếu trong luận văn khoa học, chỉ
có một vài từ viết tắt, chỉ cần viết tắt sau lần viết thứ nhất có kềm theo chữ viết tắt
trong ngoặc đơn [ví dụ: thể dục thể thao (TDTT)]. Nếu có nhiều chữ viết tắt thì phải
có bảng danh mục các chữ viết tắt (xếp theo thứ tự a, b, c) ở phần đầu luận văn.
Trích dẫn: Những câu trích dẫn nguyên văn bao giờ cũng để trong nháy kép
“.. ..” và cần kiểm tra kỹ từng dấu chính tả. Nếu chỉ trích dẫn ý mà không trích dẫn
nguyên văn thì không để trong dấu nháy kép. Tất cử những chỗ trích dẫn đều cần ghi
rõ địa chỉ tài liệu trích dẫn. Có nhiều cách ghi chú chỗ trích dẫn, thông thường đối với
luận văn, sử dụng đánh số các tài liệu trích dẫn theo từng trang tài liệu bằng ký hiệu
[1], [2].... , các chữ số trong ngoặc [ ] tương ứng với số của tài liệu ở trang danh mục
tài liệu tham khảo.
II. Bảo vệ luận văn khoa học: (Thuyết trình luận văn khoa học)
1. Chuẩn bị bảo vệ:
1.1 Viết báo cáo khoa học.
Thế nào là một báo cáo khoa học? Đó là một bài thuyết trình (dùng để nói)
khoảng 12 - 20 phút, trước các nhà khoa học hoặc một số người có trình độ, am hiểu
hoặc có khả năng tiếp cận nhanh một vấn đề mới, tuy nhiên họ có thể chưa biết thật
rõ ràng, tường tận về vấn đề mà báo cáo đề cập đến. Bài thuyết trình dùng để báo cáo
không phải là bản Tóm tắt luận văn khoa học. Tóm tắt luận văn có số lượng khoảng
20-24 trang A4 gấp đôi, nội dung báo cáo tóm tắt là rút gọn, cô đọng của từng phần,
chương mục của báo cáo toàn văn. Còn báo cáo dùng để thuyết trình chỉ cần từ 5-7
trang, nêu tóm lược những vấn dề cụ thể để diễn giải, thuyết trình, trên cơ sở đó, tác
giả dùng để nói chứ không phải để đọc. Thông thường nội dung chuẩn bị báo cáo có
3 phần sau:
33
- Giải thích ngắn gọn lý do chọn đề tài, mục đích và các nhiệm vụ nghiên cứu,
các phương pháp nghiên cứu (trình bày ngắn gọn).
- Trình bày các kết quả của công trình nghiên cứu, phần này cần sử dụng tối đa
các phương tiện hỗ trợ như Projecter, bảng, biểu đồ...
- Kết luận - kiến nghị.
Trong thời gian ngắn đó, tác giả phải chuẩn bị sao cho báo cáo được ngắn gọn
và đầy đủ, phần trước liên hệ, dẫn dắt phần sau. Phân tích kết quả và kết luận có dẫn
liệu thực tế đồng thời có cơ sở lý luận. Không đánh giá đầy dủ vai trò của thực
nghiệm khoa học và thổi phồng vai trò của tư duy trừu tượng sẽ dẫn tới tự biện đơn
thuần và duy tâm. Ngược lại nếu đánh giá thấp vai trò của tư duy trong nhận thức
khoa học sẽ mất khả năng đi sâu vào những mối liên hệ hợp với quy luật và hiện
tương. Vì vậy, có thể nói báo cáo khoa học chính là thước đo để đánh giá quá trình
tìm tòi, nghiên cứu của tác giả. Tuy nhiên, đây không phải là lúc để tác giả thể hiện
sự uyên thâm hay trình độ của mình, mà điều cần thiết là phải thuyết phục người nghe
về những vấn đề mới do mình đưa ra, xác nhận những vấn đề đó có tính khoa học,
tính thực tiễn và tính khả thi. Vì vậy khi báo cáo cần lưu ý mấy vấn đề.
1.2. Chuẩn bị các biểu bảng, biểu đồ: Đây là một phần quan trọng quyết định
sự thành công của kết quả báo cáo. Thông thường trong một công trình nghiên cứu có
nhiều biểu bảng, biểu đồ (có thể có hơn 30), được trình bày đầy đủ, chi tiết trong
Luận văn khoa học. Ở đây, chúng ta chỉ cần lụa chọn những biểu bảng biểu đồ quan
trọng nhất để phục vụ cho thuyết trình, thông thường không quá 10 bảng. Các biểu
bảng được đánh số đúng quy định, xếp theo thứ tự tương ứng với việc trình bày các
vấn đề của báo cáo, và được bố trí hợp lý để Hội đồng và người nghe nhìn rõ, đồng
thời không làm mất thời gian, ảnh hưởng tiến trình báo cáo. Khi trình bày một biểu
bảng, biểu đồ, cần ghi chính xác các con số, công thức, nhấn mạnh những kết quả nỗi
bật cần đặc biệt quan tâm... để giúp người nghe có thể xem, đối chiếu và tiếp nhận rõ
ràng hơn các vấn đề chúng ta đang trình bày. Cần lưu ý các ký hiệu toán học phải
chính xác, rõ ràng. Thực tế cho thấy nhiều báo cáo đã thất bại vì lý do các biểu bảng,
biểu đồ trình bày không rõ ràng, chính xác.
1.3. Chuẩn bị phương tiện trình chiếu (projecter): Đây là vấn đề thể hiện tính
trực quan của một báo cáo, tạo hiệu ứng tích cực góp phần thành công của việc báo
cáo. Khi chuẩn bị các slides (các trang trình chiếu bằng phần mềm power point), cần
lưu ý rằng thông tin mà người nghe thu nhận được từ chúng là rất ít, vì vậy chỉ cần 6 -
7 mục trên một slide là quá đủ. Mặt khác, các slide không nên lập lại những gì mà
34
chúng ta sẽ nói, nó chỉ có tác dụng nhấn mạnh những vấn đề cốt lõi. Vì vậy khi trình
bày, tuyệt đối không đọc nguyên văn những gì viết trên slide mà chỉ nên nói về chúng
mà thôi. Các slide nên tập trung cho các biểu bảng, biểu đồ. Thực tế cho thấy có
báo cáo khoa học trở nên trừu tượng, rối rắm vì tác giả trình bày hết slide này đến
slide kia nhưng muốn thể hiện khả năng sử dụng Power-point, trong khi không quan
tâm đến biểu bảng, biểu đồ, nên hiệu quả báo cáo không cao.
1.4. Báo cáo thử - Dự kiến câu hỏi và soạn đáp án trả lời: Để bảo vệ luận
văn, phương pháp thuyết trình của báo cáo viên là rất quan trọng. Vì vậy, trước khi
bảo vệ luận văn, cần phỉa tạp dượt nhiều lần ở nhà. Trước hết, cần phải nắm vững các
vấn đề chuyên môn cần trình bày, sau đó học cách diễn đạt, sử dụng ngôn ngữ, tư thế
đi, đứng trên diễn dàn chỗ đông người.
Trong quá trình báo cáo thử, cần nghiên cứu suy nghĩ trước các câu hỏi có
nhiều khả năng được đặt ra. Có thể tranh thủ ý kiến của các nhà chuyên môn, người
hướng dẫn khoa học và đồng nghiệp, từ đó tập trung vào việc biên soạn đáp án hay
dàn ý trả lời. Dự kiến số câu hỏi càng nhiều, đáp án chuẩn bị càng chi tiết, sẽ tạo cho
mình lòng tin, sự bình tĩnh, chủ động trước khi bảo vệ chính thức.
2. Bảo vệ luận văn:
2.1. Nắm vững nội dung báo cáo: Coni, một nhà hùng biện đã nói: "Vấn đề
càng nắm chắc thì càng ít mất bình tĩnh. Mức độ hồi hộp tỉ lệ nghịch với lao dộng bỏ
ra cho công tác chuẩn bị". Thực tế cho thấy nhiều tác giả không nắm vững nội dung
cần báo cáo, không xác định được những vấn đề cần báo cáo, chỉ đọc lại Báo cáo tóm
tắt kết quả nghiên cứu (là tập tài liệu Hội đồng đã có), mà không lý giải, phân tích
hoặc làm sáng tỏ thêm những vấn đề cần phải thuyết phục người nghe. Đây là một sai
lầm. Vì vậy, vấn đề đầu tiên là tác giả phải nắm vững nội dung báo cáo, biết lựa chọn
những vấn đề cốt lõi để phân tích, giải thích, để quyết định đề cập hoặc lướt qua vấn
đề nào, để tự tin nói chứ không phải đọc trước người nghe. Có thể giải quyết vần đề
này bằng cách học thuộc nội dung và tập báo cáo thử nhiều lần trước khi báo cáo
chính thức.
2.2. Không nên nói quá nhiều: Khi trình bày báo cáo không nên tập trung quá
nhiều vào các chi tiết hay một vấn đề nào đó, chỉ nên nói vừa đủ, sao cho toát lên
được ý chính của vấn đề cần nói. Không nên làm cho người nghe phải thu nhận quá
nhiều thông tin, lúc đó sẽ trở nên nhàm chán và không mang lại hiệu quả mong muốn.
Cách tốt nhất để tránh khỏi lỗi trên là không áp dụng một cách trình bày cứng nhắc
cho bản báo cáo, cần tập trung sâu hơn một số khía cạnh, lượt hoặc bỏ qua một số
35
khía cạnh khác. Cần phối hợp chặt chẽ giữa nói và chỉ dẫn trên các biểu bảng. Điều
cần lưu ý là chúng ta làm người nghe cảm thấy nhàm chán ngay ở những phút đầu thì
việc lấy lại sự tập trung và hứng thú cho họ là gần như không thể.
2.3. Chú ý thời gian: Không nên nói quá thời gian cho phép. Nếu nói quá dài
sẽ làm mất sự tập trung của người nghe, đôi khi chúng ta còn bị nhắc nhở, làm ảnh
hưởng đến kết quả báo cáo . Mặt khác, sự chú ý của người nghe là có giới hạn và
những gì chúng ta cố nói thêm sẽ không hữu ích.
2.4. Phong cách nói: Bình tĩnh, đường hoàng, tự tin nhưng không đơn điệu.
Phải có thái độ sâu sắc, thuyết phục, thể hiện lòng tin vào lời nói của mình. Không
vội vã và nuốt mất đuôi của các từ. Cú pháp cần dơn giản, rõ ràng, mạch lạc. Cần
mạnh dạn loại bỏ những cái thừa làm loãng, làm rườm rà nội dung báo cáo, làm giảm
sự hào hứng và làm cho người nghe giảm sự tập trung chú ý. Ngôn ngữ phải khoa
học, đúng đắn và thể hiện trình độ văn hoá của tác giả. Không nên nói sai văn phạm.
Lời nói có cường độ vừa đủ để được nghe rõ, nói nhỏ quá là thể hiện sự thiếu tôn
trọng người khác, nói to quá lại làm cho người nghe mệt vì "ức chế tới hạn". Khi diễn
đạt, nên thể hiện sự khiêm tốn, không vung tay quá nhiều. Làm được những điều này,
báo cáo viên sẽ tranh thủ được tình cảm người nghe.
2.5. Trả lời câu hỏi: Cần ghi chép chính xác lại các câu hỏi, trả lời một cách
thẳng thắn, tư tin, trả lời thắng vào bản chất của vấn đề. Khi trả lời, không nên dấu đi
những khó khăn, những vấn đề vượt quá tầm nghiên cứu hoặc khả năng của mình,
khía cạnh nào chưa giải đáp ngay được cần trình bày rõ nguyên nhân (vượt quả khả
năng hay người nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu...). Nên thể hiện sự khiêm tốn và lịch
thiệp, trân trọng đối với các câu hỏi hoặc ý kiến nhận xét đóng góp của thành viên
Hội đồng và người nghe, điều đó có thể giúp cho chúng ta có những gợi ý, những giải
pháp hợp lý mà chúng ta chưa nghĩ tới để tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện công trình,
Đồng thời, điều đó cũng gây được thiện cảm ở người nghe.
(Hết phần 1)
Các file đính kèm theo tài liệu này:
- nckh_caodang11_phan_1_3347.pdf