Số lượng thể nhiễm sắc và kiểu nhân một số loài thuộ chi ráy Alocasia ở Việt Nam
(Bản scan) Kết quả chí ra trên sơ đồ hình 2 cũng cho thấy đa hình điện di isozym esteraza là rất cao trong loài ráy Alocasia odora, 13 kiểu hình điện di trong tổng số 17 kiểu hình điện di đã phát hiện trong vật liệu nghiên cứu là quan sát thấy trong loài ráy A. odora. Bốn trong nãm loài đã nghiên cứu là có thể phân biệt dựa trên sô' liệu đa hình điện di isozym esteraza ở khoảng cách di truyền D = 0.78. Không có mối lương quan được phát hiện giữa các kiếu hình điện di với sinh thái vùng thu mẫu, nhưng hình như có một mối liên quan giữa kiểu hình điện di với mức bội TNS. Tất cả các dạng ráy tam bội (2n = 42) và tứ bội (2n = 56) được sử dụng trong nghiên cứu này là được thu thập từ các vùng núi Cao Bằng, Tuyên Quang, Ba Vì (Hà Tây) và Thái nguyên. Hai cây ráy thu thập ớ Cao Bằng (TD1 (2n = 28) và TD2 (2n = 56)) hình thành một nhóm tách khỏi nhóm lớn của các cây ráy của A. odora cho thấy sự khác nhau về kiểu hình điện di của chúng so với các cây ráy A. odora còn lại. Vì hình thái cây còn bé, cây chưa ra hoa đê có thể phân tích đặc điểm cấu trúc của bông hoa, do vậy các phân tích thêm là cần thiết cả về hình thái hoa, công thức kiểu nhân và biến dị điện di của các hệ enzym khác để có thể kết luận về vấn đề này. Sự giống nhau về kiểu hình điện di isozym esteraza của ráy lưỡng bội với kiểu hình điện di isozym esteraza của ráy tam bội và ráy tứ bội, mức độ nhuộm màu đâm hơn của các isozym trong cây đa bội cũng như sự tương tự về kiểu nhân giữa ráy lưỡng bội - kiểu nhân type II, với kiểu nhân của ráy tam bội (2n = 42) và ráy tứ bội (2n = 56) phán đoán nguồn gốc tự đa bội của các ráy A. odora đa bội phân bố ở miền Bắc nước ta.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
so_luong_the_nhiem_sac_va_kieu_nhan_mot_so_loai_thuo_chi_ray.pdf


