Ích lợi của điều trị surfactant bằng phương
pháp ít xâm lấn tránh được việc sử dụng thở máy
xâm lấn không cần thiết để bơm surfactant, mà
thở máy có thể kích ứng phản ứng viêm ở phổi
và hệ tuần hoàn [2]. Kỹ thuật bơm surfactant ít
xâm lấn với ống thông nhỏ trong khi trẻ vẫn tự
thở cho phép bơm surfactant sớm mà không sợ
phải dùng thở máy xâm lấn và việc tự thở khi
dùng phương pháp này có thể góp phần vào việc
khuếch tán surfactant tốt hơn. Theo nghiên cứu
của Kanmaz và cộng sự thì tỷ lệ tràn khí màng
phổi ở nhóm INSURE là 10% và nhóm điều trị
surfactant ít xâm lấn là 7%, p = 0,68 [4]. Tác giả
Christine S.m.Lau tỷ lệ tràn khí màng phổi cao hơn
ở nhóm INSURE tuy nhiên sự khác biệt là không
có ý nghĩa thống kê (9,1% so với 7,5%, p = 0,625)
[5]. Tác giả Kribs A và cộng sự thì đưa ra tỷ lệ tràn
khí màng phổi ở nhóm INSURE là 12,6% trong
khi đó nhóm bơm surfactant ít xâm lấn là 4,8%
và sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p = 0,02
[1]. Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 2 trường
hợp (3,77%) tràn khí màng phổi ở nhóm INSURE
và không có trường hợp nào tràn khí màng phổi
ở nhóm bơm surfactant ít xâm lấn, sự khác biệt
không có nghĩa thống kê, p >0,05. Tỷ lệ tràn khí
màng phổi trong nghiên cứu của chúng tôi có vẻ
thấp hơn so với các nghiên cứu khác, điều này có
thể lý giải bởi cỡ mẫu nghiên cứu chúng tôi nhỏ
hơn và tiêu chuẩn để đưa vào nhóm INSURE có
khác so với các nghiên cứu khác.
Về tỷ lệ viêm phổi, nhóm điều trị INSURE có
vẻ cao hơn nhóm điều trị surfactant ít xâm lấn
(75,47% so với 40,38%, p >0,05) tuy nhiên sự khác
biệt là không có ý nghĩa thống kê. Trong nghiên
cứu của chúng tôi, chúng tôi ghi nhận tất cả các
trường hợp viêm phổi từ lúc trẻ còn nằm trong
khoa hồi sức tích cực cho đến khi trẻ xuất viện,
bao gồm cả những trường trẻ đã kết thúc điều
trịtrong NICU nhưng còn nằm viện trong chương
trình Kangaroo vì vấn đề dinh dưỡng, chăm sóc
trẻ sơ sinh non tháng, nuôi con bằng sữa mẹ. bị
viêm phổi lại cũng được ghi nhận.
Tỷ lệ tử vong ở nhóm bơm surfactant ít xâm
lấn thấp hơn nhóm INSURE (9,43% so với 15,09%,
p = 0,37) tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa
thống kê. Điều này cũng phù hợp với các nghiên
cứu khác đó là không có sự khác biệt về tử vong
giữa 2 nhóm INSURE và bơm surfactant ít xâm
lấn. Qua khảo sát nhận thấy khả năng tử vong
tăng 10 lần khi thất bại với bơm surfactant ít xâm
lấn so với nhóm thành công với bơm surfactant
ít xâm lấn. Ngoài ra, có thể do cỡ mẫu nhỏ, thiết
kế nghiên cứu chưa đủ mạnh nên chưa tìm thấy
sự khác biệt và các yếu tố liên quan giữa bơm
surfactant ít xâm lấn và tử vong.
5 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 6 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu So sánh một số biến chứng sau bơm Surfactant bằng kỹ thuật ít xâm lấn và Insure, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
tạp chí nhi khoa 2020, 13, 2
24
SO SÁNH MỘT SỐ BIẾN CHỨNG SAU BƠM SURFACTANT
BẰNG KỸ THUẬT ÍT XÂM LẤN VÀ INSURE
Ngô Minh Xuân
Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, TP.HCM
TÓM TẮT
Mục tiêu: So sánh một số biến chứng sau bơm surfactant bằng kỹ thuật ít xâm lấn và INSURE.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu giả thực nghiệm, 106 trẻ sơ sinh non tháng từ 26 - 32
tuần tuổi thai dưới 6 giờ tuổi, bị suy hô hấp do bệnh màng trong có chỉ định điều trị surfactant,
sinh tại Bệnh viện Từ Dũ từ tháng 8 năm 2017 đến tháng 07 năm 2018 và nhập khoa Sơ sinh
Bệnh viện Từ Dũ. Trong đó 53 trẻ bơm surfactant ít xâm lấn và 53 trẻ bơm surfactant theo kỹ
thuật INSURE.
Kết quả: Số ngày điều trị của nhóm bơm surfactant ít xâm lấn (26,5 ± 12,3 ngày) ngắn hơn
số ngày điều trị của nhóm INSURE (33,2 ± 15,8 ngày). Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, p <0,05.
Biến chứng tràn khí màng phổi, viêm phổi và tử vong khi điều trị bằng LISA và INSURE, không có
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p >0,05.
Từ khóa: Kỹ thuật bơm surfactant ít xâm lấn, kỹ thuật bơm surfactant INSURE, sơ sinh, biến chứng.
ABSTRACT
COMpARISON OF SOME COMpLICATIONS AFTER SURFACTANT AdMINISTRATION
wITH LESS INVASIVE ANd INSURE TECHNIqUES.
Xuan Ngo Minh
Objective: Comparison of some complications after surfactant administration with less invasive
and INSURE techniques.
Object and method: Experimental empirical study, 106 preterm infants aged 26 - 32 weeks of
gestation and less than 6 hours old, suffering from respiratory failure due to endothelial disease
indicated for surfactant therapy, born at Tu Du Hospital since August 2017 to July 2018 and admission
the Neonatal Department of Tu Du Hospital. Among them, 53 children pumped surfactant by
mini-invasive technique and 53 children administred surfactant using INSURE technique.
Results: The number of treatment days of the less invasive surfactant administration group
(26.5±12.3 days) was shorter than the number of treatment days of the INSURE group (33.2 ± 15.8
days). The difference was statistically significant, p <0.05. Complications of pneumothorax, pneumonia
and death when treated with LISA and INSURE, there was no significant difference with p> 0.05.
Key words: mini-invasive surfactant administration technique, INSURE surfactant administration
technique, neonate, complications.
Nhận bài: 5-4-2020; Chấp nhận: 10-4-2020
Người chịu trách nhiệm: Ngô Minh Xuân
Địa chỉ: Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, TP.HCM
25
phần nghiên cứu
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Suy hô hấp sơ sinh là tình trạng hoạt động
gắng sức của hệ hô hấp nhằm đảm bảo quá trình
trao đổi khí. Biểu hiện lâm sàng đó là tình trạng
thở nhanh, tím tái, co kéo cơ liên sườn, rút lõm
ngực, phập phồng cánh mũi, bất thường di động
ngực bụng khi thở, tiếng rên (grunting) [6]. Hiện
tại, việc áp dụng thông khí áp lực dương liên
tục qua mũi (nCPAP - nasal continuous positive
airway pressure) từ lúc sinh phối hợp với bơm
surfactant sớm để tránh thông khí cơ học xâm lấn
là điều trị tiêu chuẩn ở trẻ sơ sinh thiếu tháng [3].
Cho đến gần đây, việc bơm chất surfactant ngoại
sinh cần phải đặt nội khí quản và thông khí áp lực
dương (PPV- positive pressure ventilation) trong
lúc thực hiện. Điều này đưa đến việc một số trẻ sơ
sinh được điều trị nCPAP phải bị đặt ống nội khí
quản chỉ để bơm surfactant ngoại sinh. Điều trị
surfactant sớm giúp cải thiện kết quả về hô hấp ở
các trẻ có hội chứng suy hô hấp (RDS- respiratory
distress syndrome) [2]. Điều trị surfactant sớm ở
trẻ suy hô hấp, tuy có hiệu quả nhưng cũng có
những biến chứng như: viêm phổi hay tràn khí
màng phổi Hiện nay, ở nước ta chưa có những
nghiên cứu về biến chứng sau điều trị surfactant
ở trẻ sơ sinh, đặc biệt là so sánh giữa 2 phương
pháp điều trị surfactant, do đó, chúng tôi thực
hiện nghiên cứu này nhằm mục tiêu: So sánh một
số biến chứng sau bơm surfactant bằng kỹ thuật ít
xâm lấn và INSURE.
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ pHƯƠNG pHÁp NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
106 trẻ sơ sinh non tháng từ 26 - 32 tuần tuổi
thai dưới 6 giờ tuổi, bị suy hô hấp do bệnh màng
trong có chỉ định điều trị surfactant, sinh tại Bệnh
viện Từ Dũ từ tháng 8 năm 2017 đến tháng 07
năm 2018 và nhập khoa Sơ sinh Bệnh viện Từ Dũ.
Trong đó 53 trẻ bơm surfactant ít xâm lấn và 53
trẻ bơm surfactant theo kỹ thuật INSURE.
* Tiêu chuẩn lựa chọn
Trẻ sơ sinh non tháng từ 26 - 32 tuần tuổi thai,
sinh tại Bệnh viện Từ Dũ, nhập khoa Sơ sinh Bệnh
viện Từ Dũ được chẩn đoán suy hô hấp bệnh màng
trong dưới 6 giờ tuổi, được hỗ trợ hô hấp bằng
nCPAP hoặc NIPPV có chỉ định bơm surfactant.
* Tiêu chuẩn loại trừ
- Tim bẩm sinh nặng hoặc suy tim.
+ Tim bẩm sinh nặng dùng để chỉ tổn thương
đòi hỏi phải phẫu thuật hoặc thông tim can thiệp
trong năm đầu tiên của cuộc sống. Thể loạinày
bao gồm tim bẩm sinh phụ thuộc ống động mạch
và các tổn thương tim bẩm sinh tím cũng như các
hình thức của tim bẩm sinh mà có thể không cần
phẫu thuật ở giai đoạn sơ sinh nhưng vẫn đòi hỏi
sự can thiệp trong năm đầu tiên của cuộc sống,
chẳng hạn như một thông liên thất lớn hoặc một
kênh nhĩ thất toàn phần hay bán phần.
+ Các tật tim này được chẩn đoán tiền sản
hoặc chẩn đoán sau sinh sau khi hội chẩn với bác
sĩ tim mạch Bệnh viện Nhi Đồng.
- Dị tật bẩm sinh nặng không khả năng điều
trị: Thai vô sọ; Đa dị tật kiểu rối loạn nhiễm sắc:
có chẩn đoán tiền sản là rối loạn nhiễm sắc thể;
Não úng thủy thể nặng; Bất sản đường hô hấp:
teo thanh - khí quản, bất sản phổi.
- Trẻ có bệnh lý cần chuyển Bệnh viện Nhi Đồng
điều trị sau sinh đã được chẩn đoán tiền sản.
- Trẻ có chỉ định đặt nội khí quản trước khi
bơm surfactant.
- Gia đình từ chối điều trị surfactant.
- Gia đình từ chối tham gia nghiên cứu.
2.2. phương pháp nghiên cứu
* Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu giả thực
nghiệm (Quasi Experimental Study), nhãn mở, có
đối chứng.
* Chỉ tiêu nghiên cứu: số ngày điều trị; tỷ lệ
tràn khí màng phổi, tỷ lệ viêm phổi, tỷ lệ tử vong
sau điều trị surfactant.
2.3. phương pháp xử lý số liệu: Số liệu thu
thập được nhập và xử lý trên phần mềm thống kê
y sinh học SPSS 22.0.
tạp chí nhi khoa 2020, 13, 2
26
3. KẾT qUẢ NGHIÊN CỨU
Bảng 1. Số ngày điều trị trung bình
Kỹ thuật INSURE (n=53) LISA (n=53)
p
Số ngày điều trị (ngày)
mean ± SD 33,2 ± 15,8 26,5 ± 12,3
<0,0595%CI 28,9 – 37,6 23,1 – 29,9
min-max 2 – 63 3 – 57
Nhận xét:
Số ngày nằm viện trung bình của nhóm INSURE là 33,2 ± 15,8 ngày.
Số ngày nằm viện trung bình của nhóm bơm surfactant ít xâm lấn là 26,5 ± 12,3 ngày.
Số ngày điều trị của nhóm bơm surfactant ít xâm lấn ngắn hơn số ngày điều trị của nhóm INSURE.
Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, p <0,05.
Bảng 2. Tràn khí màng phổi sau bơm surfactant
Kỹ thuật INSURE (n=53) LISA (n=53)
p
Tràn khí màng phổi n(%)
Có 0(0,0) 2(3,8)
>0,05
Không 53(100,0) 51(96,2)
Nhận xét: Không có trẻ nào có biến chứng tràn khí màng phổi khi điều trị bằng LISA và 3,8% trẻ có
biến chứng tràn khí màng phổi khi điều trị bằng INSURE, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với
p >0,05. Bảng 3. Viêm phổi sau bơm surfactant
Kỹ thuật INSURE (n=53) LISA (n=53)
p
Viêm phổi n(%)
Có 32(60,4) 40(75,5)
>0,05
Không 21(39,6) 13(24,5)
Nhận xét:
Nhóm điều trị bằng bơm surfactant ít xâm lấn có tỉ lệ viêm phổi 60,4%, nhóm điều trị bằng kỹ thuật
INSURE là 75,5%.
Nhóm điều trị bằng bơm surfactant ít xâm lấn có tỉ lệ viêm phổi thấp hơn so với nhóm điều trị bằng
INSURE. Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p >0,05.
Bảng 4. Tỷ lệ tử vong sau bơm surfactant
Kỹ thuật INSURE (n=53) LISA (n=53)
p
Tỷ lệ tử vongn(%)
Có 5(9,4) 8(15,1)
>0,05
Không 48(90,6) 45(84,9)
Nhận xét:
Tỷ lệ tử vong trong nhóm bơm surfactant ít xâm lấn là 9,4%.
Tỷ lệ tử vong trong nhóm INSURE là 15,1%.
Tỷ lệ tử vong trong nhóm bơm surfactant ít xâm lấn thấp hơn trong nhóm INSURE tuy nhiên, sự
khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p >0,05.
27
phần nghiên cứu
4. BÀN LUẬN
Số ngày nằm viện của nhóm bơm surfactant
ít xâm lấn ngắn hơn số ngày nằm viện của nhóm
INSURE và sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. Số
ngày nằm viện trung bình của nhóm INSURE và
bơm surfactant ít xâm lấn tương ứng là 32,24±2,1
ngày và 26,51±1,68 ngày, p = 0,016. Trong nghiên
cứu này, mặc dù tỷ lệ thở máy xâm lấn và thời
gian thở máy không khác biệt giữa 2 nhóm điều
trị, tuy nhiên tổng số ngày nằm viện của nhóm
bơm surfactant ít xâm lấn ngắn hơn tổng số ngày
nằm viện ở nhóm INSURE. Vì vậy chúng tôi tin
rằng kỹ thuật này góp phần làm giảm chi phí điều
trị, giảm quá tải cho khoa Sơ sinh. Việc rút ngắn
thời gian nằm viện là một trong các chỉ tiêu cần
đạt của bệnh viện. Nhất là trong hoàn cảnh hiện
nay, sự quá tải của các bệnh viện đang là vấn đề
cấp bách. mọi nỗ lực nhằm giảm thời gian nằm
viện góp phần làm giảm quá tải cho bệnh viện.
Quá tải bệnh viện luôn là vấn đề đặc biệt được
quan tâm bởi người dân, các nhân viên viên y tế
và các nhà quản lý. Hệ lụy của việc nằm viện kéo
dài là rất lớn. Đặc biệt tại các khoa săn sóc tăng
cường, nằm viện kéo dài đồng nghĩa với việc gia
tăng tỷ lệ nhiễm trùng bệnh, gia tăng tỷ lệ các
biến chứng và nhất là gia tăng tỷ lệ tử vong.
Trong điều kiện còn hạn chế về cơ sở vật chất,
nhân lực như hiện nay thì một kỹ thuật được
chứng minh là có tính an toàn, hiệu quả, lại góp
phần làm giảm thời gian điều trị nên được lựa
chọn.
Ích lợi của điều trị surfactant bằng phương
pháp ít xâm lấn tránh được việc sử dụng thở máy
xâm lấn không cần thiết để bơm surfactant, mà
thở máy có thể kích ứng phản ứng viêm ở phổi
và hệ tuần hoàn [2]. Kỹ thuật bơm surfactant ít
xâm lấn với ống thông nhỏ trong khi trẻ vẫn tự
thở cho phép bơm surfactant sớm mà không sợ
phải dùng thở máy xâm lấn và việc tự thở khi
dùng phương pháp này có thể góp phần vào việc
khuếch tán surfactant tốt hơn. Theo nghiên cứu
của Kanmaz và cộng sự thì tỷ lệ tràn khí màng
phổi ở nhóm INSURE là 10% và nhóm điều trị
surfactant ít xâm lấn là 7%, p = 0,68 [4]. Tác giả
Christine S.m.Lau tỷ lệ tràn khí màng phổi cao hơn
ở nhóm INSURE tuy nhiên sự khác biệt là không
có ý nghĩa thống kê (9,1% so với 7,5%, p = 0,625)
[5]. Tác giả Kribs A và cộng sự thì đưa ra tỷ lệ tràn
khí màng phổi ở nhóm INSURE là 12,6% trong
khi đó nhóm bơm surfactant ít xâm lấn là 4,8%
và sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p = 0,02
[1]. Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 2 trường
hợp (3,77%) tràn khí màng phổi ở nhóm INSURE
và không có trường hợp nào tràn khí màng phổi
ở nhóm bơm surfactant ít xâm lấn, sự khác biệt
không có nghĩa thống kê, p >0,05. Tỷ lệ tràn khí
màng phổi trong nghiên cứu của chúng tôi có vẻ
thấp hơn so với các nghiên cứu khác, điều này có
thể lý giải bởi cỡ mẫu nghiên cứu chúng tôi nhỏ
hơn và tiêu chuẩn để đưa vào nhóm INSURE có
khác so với các nghiên cứu khác.
Về tỷ lệ viêm phổi, nhóm điều trị INSURE có
vẻ cao hơn nhóm điều trị surfactant ít xâm lấn
(75,47% so với 40,38%, p >0,05) tuy nhiên sự khác
biệt là không có ý nghĩa thống kê. Trong nghiên
cứu của chúng tôi, chúng tôi ghi nhận tất cả các
trường hợp viêm phổi từ lúc trẻ còn nằm trong
khoa hồi sức tích cực cho đến khi trẻ xuất viện,
bao gồm cả những trường trẻ đã kết thúc điều
trịtrong NICU nhưng còn nằm viện trong chương
trình Kangaroo vì vấn đề dinh dưỡng, chăm sóc
trẻ sơ sinh non tháng, nuôi con bằng sữa mẹ... bị
viêm phổi lại cũng được ghi nhận.
Tỷ lệ tử vong ở nhóm bơm surfactant ít xâm
lấn thấp hơn nhóm INSURE (9,43% so với 15,09%,
p = 0,37) tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa
thống kê. Điều này cũng phù hợp với các nghiên
cứu khác đó là không có sự khác biệt về tử vong
giữa 2 nhóm INSURE và bơm surfactant ít xâm
lấn. Qua khảo sát nhận thấy khả năng tử vong
tăng 10 lần khi thất bại với bơm surfactant ít xâm
lấn so với nhóm thành công với bơm surfactant
ít xâm lấn. Ngoài ra, có thể do cỡ mẫu nhỏ, thiết
kế nghiên cứu chưa đủ mạnh nên chưa tìm thấy
sự khác biệt và các yếu tố liên quan giữa bơm
surfactant ít xâm lấn và tử vong.
tạp chí nhi khoa 2020, 13, 2
28
5. KẾT LUẬN
Số ngày điều trị của nhóm bơm surfactant ít
xâm lấn (26,5 ± 12,3 ngày) ngắn hơn số ngày điều
trị của nhóm INSURE (33,2 ± 15,8 ngày). Sự khác
biệt có ý nghĩa thống kê, p <0,05.
Biến chứng tràn khí màng phổi, viêm phổi và
tử vong khi điều trị bằng LISA và INSURE, không
có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p >0,05.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Kribs A, Roll C, Gopel w, et al. (2015). NINSAPP
Trial Insestigators. JAmA Pediatr, 169(8): 7230-30.
Doi: 10.1001/jamapediatrics. 2015.0504.
2. Carvalho CG, Silveira RC, procianoy RS
(2013). Ventilator-induced lung injury in preterm
infants.Revista Brasileira de Terapia Intensiva,
25(4): 319-26.
3. Sweet dG CV, Greisen G, Hallman M, et al.
(2013). European consensus guidelines on the
management of neonatal respiratory distress
syndrome in preterm infants - 2013 update.
Neonatology, 103(4): 253 - 68.
4. Kanmaz HG, Erdeve O, Canpolat FE, et
al. (2013). Surfactant Administration via Thin
Catheter During Spontaneous Breathing:
Randomized Controlled Trial.Pediatrics, 131(2):
e502-e9.
5. Christin S, M. Lau, Chamberlain RS, et al.
(2017). Less Invasive Surfactant Administration
Reduces the Need for mechanical Ventilation
in Preterm Infants. Global Pediatric Health, 4:
2333794X17696683.
6. Reuter S, Moser C, Baack M (2014).
Respiratory Distress in the Newborn. Pediatrics in
Review, 35(10): 417-29.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
so_sanh_mot_so_bien_chung_sau_bom_surfactant_bang_ky_thuat_i.pdf