Ở các độ phóng đại cao hơn, hình dạng của
apatit cũng được thể hiện rõ ràng với các cánh xếp lại
với nhau thành từng bông, đồng thời các bông này có
cấu trúc xốp giống các đám san hô, đây cũng chính là
cấu trúc thành phần khoáng trong xương tự nhiên.
Kết quả đo và tính toán bằng phần mềm ImageJ cho
thấy kích thước của các bông apatit là 1,8 ± 0.4 µm.
Kích thước các cánh apatite đạt 190 ± 31 nm. Từ
việc phân tích ảnh SEM, có thể thấy được vật
liệu đơn pha chitosan không có khă năng hình thành
các khoáng apatit. Ngược lại, vật liệu HAp/Cs thể
hiện khả năng dẫn mọc các khoáng apatit. Có thể giải
thích điều này thông qua cơ chế kết tủa tạo apatit.
Thông thường, để cho một hợp chất kết tủa, thì tích
nồng độ các ion chất đó trong dung dịch phải lớn hơn
tích số tan của hợp chất đó. Trong trường hợp này,
tích số tan của HAp là 2,12.10-118, tích số tan này
nhỏ hơn tích số ion của Ca2+ và PO43- có trong dung
dịch. Tuy nhiên, trong trạng thái bình thường, do
HAp có cấu trúc rất phức tạp nên các ion không thể
tự tổ chức sắp xếp lại để tạo thành tinh thể HAp mới
được. Nhưng dưới khả năng dẫn tạo khoáng rất tốt
của HAp trong composit HAp/Cs, các khoáng
mới có thể hình thành.Trong dung dịch SBF tồn
tại các ion có khả năng kết tủa tạo ra không chỉ
HAp Ca10(PO4)6(OH)2 mà còn có thể tạo ra các loại
khoáng khác. Để xác định được thành phần nguyên
tố có trong các khoáng apatit phát triển trên nền
vật liệu trong quá trình nuôi cấy và xác định xem
khoáng này có đúng là hydroxyapatit hay không,
mẫu vật liệu HAp/Cs sau khi nuôi cấy 10 ngày
được phân tích EDX.
Kết quả phân tích EDX cho thấy, trong
mẫu vật liệu chứa đầy đủ các thành phần nguyên tố
chủ yếu là Ca, O, P. Sự xuất hiện của thành phần
nguyên tố Na, Cl là do quá trình rửa vật liệu còn
tồn đọng. Thành phần C là do có trong Cs. Mặt
khác, tỷ lệ Ca/P = 1,52. Tỷ lệ này rất gần với
tỷ lệ Ca/P = 1,6 chứng tỏ các khoáng mọc trên
nền vật liệu ở đây là hydroxyapatit.
6 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 2 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tổng hợp và thử hoạt tính sinh học của khuôn định dạng hydroxyapatit trên nền chitosan, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tạp chí Khoa học và Công nghệ 140 (2020) 056-060
56
Tổng hợp và thử hoạt tính sinh học của khuôn định dạng hydroxyapatit
trên nền chitosan
Synthesis and Evaluation of the Biological Activity of Hydroxyapatite/Chitosan-based Scaffold
Trần Thanh Hoài, Nguyễn Kim Ngà *
Trường Đại Học Bách khoa Hà Nội – Số 1, Đại Cồ Việt, Hai Bà Trưng, Hà Nội
Đến tòa soạn: 17-3-2019; chấp nhận đăng: 20-01-2020
Tóm tắt
Trong nghiên cứu này, khuôn định dạng ứng dụng trong kỹ thuật mô xương được chế tạo từ vật liệu vô cơ
hydroxyapatit trên nền chitosan. Sự kết hợp giữa hydroxyapatit và chitosan sẽ làm tăng khả năng tương
thích sinh học của khuôn định dạng. Khuôn định dạng tổng hợp bằng phương pháp đổ dung môi rửa hạt.
Hoạt tính sinh học được đánh giá thông qua các thí nghiệm in vitro trong dung dịch giả plasma (SBF). Kết
quả nghiên cứu cho thấy khuôn định dạng HAp/chitosan có cấu trúc lỗ xốp và liên thông, với kích thước lỗ
trung bình khoảng 200 µm và độ xốp khoảng 79 %, tạo ra lớp khoáng apatit sau 10 ngày ngâm trong dung
dịch SBF. Tuy nhiên, khuôn định dạng chitosan sau 10 ngày ngâm không tạo ra lớp khoáng apatit. Kết quả
cho thấy, khuôn định dạng HAp/chitosan có khả năng tương thích sinh học tốt hơn khuôn định dạng
chitosan.
Từ khóa: khuôn định dạng, chitosan, apatit, SBF.
Abstract
In this study, porous scaffolds were fabricated using inorganic material-hydroxyapatite and chitosan for
bone-tissue engineering. The combination of hydroxyapatite and chitosan may result in increasing
biocompatibility of the scaffolds. The scaffolds were prepared by solvent casting and paticulate leaching
method. Bioactivity of the scaffolds was evaluated through in vitro experiments by soaking scaffold samples
in simulated body fluid (SBF). The scaffolds obtained were highly porous and interconnected with a mean
pore size of around 200 µm and porosity about 79 %. The apatite-mineral layer was produced on the
HAp/chitosan after 10 days of soaking in SBF, however, it was not observed on the chitosan scaffold after
10 days soaking. The results revealed that the HAp/chitosan scaffold showed better bioactivity than the
chitosan scaffold.
Keywords: scaffold, chitosan, apatite, SBF.
1. Mở đầu1
Khuôn định dạng (scaffold) là khuôn tạm thời
để tế bào bám dính, sinh trưởng, phát triển và hình
thành khung ngoại bào trong quá trình hình thành cấu
trúc mô mới ứng dụng trong cấy ghép điều trị các tổn
thương về xương. Khuôn định dạng có thể được chế
tạo từ các vật liệu polyme phân hủy sinh học, vật liệu
vô cơ có hoạt tính sinh học hoặc composite. Vật liệu
composite với sự liên kết của hydroxyapatit (HAp) và
polyme, được xem là phương pháp hiệu quả để tăng
cường hoạt tính sinh học và tính chất cơ học của
khuôn định dạng. HAp có thành phần tương tự thành
phần khoáng trong xương nên có tính tương thích
sinh học cao. Hơn nữa, khi bị phân hủy, HAp giải
phóng ra ion canxi và photpho có lợi cho việc hình
thành và phát triển xương. Các nghiên cứu trước đây
của chúng tôi đã công bố kết quả khuôn định dạng
composite với sự có mặt của nano HAp làm tăng khả
năng tương thích sinh học của khuôn định dạng với tế
*
Địa chỉ liên hệ: Tel.: (+84) 913.097.079
Email: nga.nguyenkim@hust.edu.vn
bào [1]. Bên cạnh đó, việc lựa chọn polyme kết hợp
với HAp cũng đóng vai trò quan trọng đến tính tương
thích sinh học của khuôn định dạng.
Chitosan (Cs) là một polysacarit mạch thẳng cấu
tạo từ các D-glucosamine và N-acetyl-D-glucosamin
có cấu trúc gần giống với cấu trúc của các protein bao
xung quanh các mô và cơ quan nên có khả năng
tương thích tốt với tế bào [2]. Hơn nữa, Chitosan đã
được nghiên cứu ứng dụng nhiều trong lĩnh vực y
sinh như: chất dẫn thuốc, là thành phần trong da nhân
tạo... Các nghiên cứu cho thấy chitosan là một chất
không độc hại, ít gây các phản ứng miễn dịch, có tính
kháng khuẩn, có khả năng thúc đẩy quá trình chữa
lành các mô mềm, mô cứng và có khả năng phân hủy
sinh học [3]. Với những ưu điểm nêu trên, nghiên cứu
này đã lựa chọn chitosan làm chất nền trong tổng hợp
khuôn định dạng.
Khuôn định dạng dùng trong kỹ thuật mô nói
chung cần có ba yêu cầu chính sau: phải có không
gian xác định để các mô có thể tái sinh; phải có các
tính chất phù hợp để đảm nhiệm chức năng của phần
tổn thương trong quá trình mô mới tái tạo và cho
Tạp chí Khoa học và Công nghệ 140 (2020) 056-060
57
phép các mô phát triển dễ dàng trên khuôn cũng như
các tế bào được cấy lên, các protein hay các tín hiệu
kích thích tạo xương [4]. Cấu trúc 3D của khuôn định
dạng phải có độ xốp cao, các lỗ xốp có độ liên thông
cao. Các nghiên cứu cho thấy với kích thước lỗ tối
thiểu là 100 µm là thích hợp cho tế bào di chuyển và
quá trình trao đổi chất giữa tế bào với môi trường [5]
[6]. Cấu trúc vi mô của khuôn định dạng là yếu tố
quan trọng ảnh hưởng đến hoạt tinh sinh học của
khuôn định dạng. Các đặc điểm cấu trúc của khuôn
định dạng phụ thuộc vào phương pháp chế tạo.
Hiện nay, trên thế giới đã có một số nghiên cứu
chế tạo khuôn định dạng HAp/CS với nhiều phương
pháp khác nhau. Jayachandran Venkatesan và các
cộng sự đã chế tạo khuôn định dạng HAp/CS bằng
phương pháp đông lạnh. Kết quả tạo ra được mẫu
khuôn định dạng có kích thước lỗ xốp khoảng 200
nm [7], độ xốp là 70%. Trong khi đó, Chia-Cherng
Yu và các cộng sự đã dùng phương pháp
electrospining để chế tạo khuôn định dạng HAp/Cs
[8]. Phương pháp này có ưu điểm là tạo ra khuôn định
dạng có độ xốp cao nhưng khó điều chỉnh kích thước
lỗ cũng như hình dạng của khuôn định dạng. Trong
nước, cũng có một số nghiên cứu chế tạo composite
HAp/Cs [9], nhưng các nghiên cứu này chỉ chế tạo
vật liệu dạng 2D ứng dụng trong kỹ thuật y sinh còn
dạng 3D thì chưa có nghiên cứu nào được công bố.
Từ các tài liệu tổng hợp được có thể thấy các nghiên
cứu chế tạo khuôn định dạng 3D HAp/Cs đã sử dụng
rất nhiểu phương pháp khác nhau, mỗi phương pháp
có những ưu nhược điểm riêng. Trong nghiên cứu
này, chúng tôi đã sử dụng phương pháp đổ dung môi
rửa hạt. Phương pháp đổ dung môi rửa hạt có ưu
điểm đơn giản nhưng hiệu quả cao, dễ dàng tạo hình
cho khuôn định dạng và dễ kiểm soát độ xốp, kích
thước lỗ của khuôn định dạng bằng kích thước và số
lượng hạt tạo lỗ. Phương pháp này đã được thực hiện
thành công trong nghiên cứu chế tạo khuôn định dạng
HAp/PDLLA đã công bố của chúng tôi [10]. Vì vậy,
chúng tôi tiếp tục sử dụng phương pháp đổ dung môi
rửa hạt với hạt tạo lỗ là NaCl để chế tạo khuôn định
dạng 3D composite HAp/Chitosan.
2. Thực nghiệm
2.1. Hóa chất
Các hóa chất sử dụng là hóa chất Merck:
CH3COOH, NaCl, CaCl2.2H2O, Na2HPO4.2H2O,
NaOH, NaHCO3, KCl, K2HPO4.3H2O, MgCl2.6H2O,
Na2SO4, CH2(OH)3CNH2, Chitosan. Bột nano HAp
(dtb = 28 nm ± 5, ltb = 120 nm ± 32, tỉ lệ Ca/P = 1,66,
tỷ lệ bề mặt = 4,29). Bột HAp được tổng hợp theo
[11].
2.2. Chế tạo khuôn định dạng composite
HAp/Chitosan
Khuôn định dạng được tổng hợp theo phương
pháp đổ dung môi rửa hạt và đã được thực hiện trong
nghiên cứu trước [10]. Phương pháp này được thực
hiện bằng cách hòa tan 0,48g Cs trong lọ thủy tinh
chứa 24 ml dung dịch CH3COOH 3% trên máy khuấy
từ, điều chỉnh tốc độ khuấy 450 vòng/phút, ở nhiệt độ
phòng, trong 3 giờ. Cân 0,096 g HAp trong ống
falcon dung tích 15 ml, thêm vào 1,5 ml nước deion
và siêu âm trong 1 giờ. Sau khi dung dịch Cs khuấy
trộn được 2-3 giờ, nhỏ từ từ huyền phù HAp vào
dung dịch Cs, tiếp tục khuấy trộn hỗn hợp. Sau 2 giờ,
hỗn hợp trên được trộn với 16 g NaCl (kích thước hạt
muối 405- 450 µm), tiếp theo hỗn hợp Cs/HAp và
muối được đổ ra đĩa thủy tinh kích thước 5,5 cm.
Dùng que khuấy đảo trộn đều sao cho các hạt muối
đều được bao phủ bởi lớp gel Cs. Hỗn hợp thu được,
được để trong tủ hút trong một giờ, sau đó được sấy ở
60
o
C trong 36 giờ. Sau khi sấy, đĩa vật liệu được
ngâm trong dung dịch NaOH 10% trong 30 phút, sau
đó rửa lại nhiều lần bằng nước cất 2 lần. Sau đó, sản
phẩm được đem sấy khô, cuối cùng thu được miếng
vật liệu xốp HAp/Cs.
2.3. Phương pháp nghiên cứu hình thái học và đặc
trưng của khuôn định dạng
Giản đồ XRD được đo trên máy Siemens
D5005 sử dụng bức xạ CuKα (λ= 0,15406 nm), góc
quay từ 10-70o.
Phổ FT-IR được đo trên máy Impact-410,
Nicolet-Hoa Kỳ theo phương pháp ép viên KBr.
Hình thái học của mẫu tổng hợp được xác định
trên thiết bị hiển vi điện tử truyền qua SEM (S4800,
Hitachi, Nhật Bản). Kích thước lỗ trên khuôn định
dạng được đo bằng phần mềm ImageJ trên ảnh SEM.
Độ xốp của mẫu được đo theo phương pháp bão
hòa chất lỏng [12]. Chất lỏng được sử dụng là nước
cất. Mẫu được sấy khô đến khối lượng không đổi và
cân được khối lượng Wi. Mẫu được ngâm vào trong
ống nước có thể tích là V1. Nước sẽ được hút vào các
lỗ xốp đến khi tất cả các lỗ bão hòa nước. Tổng thể
tích của nước và nước bão hòa trong khuôn định dạng
là V2. Khi đó thể tích đặc của khuôn định dạng
HAp/Cs là (V2 – V1). Sau đó, khuôn định dạng bão
hòa nước được nhấc ra khỏi ống nước và thể tích
nước còn lại trong ống là V3. Thể tích tổng cộng của
khuôn định dạng là V = (V2 – V1) + (V1 – V3) = (V2 –
V3). Khối lượng của khuôn định dạng trước và sau
khi ngâm trong nước là Wi và Wf. Thể tích lỗ của
khuôn định dạng là (Wf – Wi)/ . Độ xốp của
khuôn định dạng được tính theo công thức sau:
Độ xốp =
Các kết quả được đo 5 lần và lấy giá trị trung
bình. Sử dụng Anova để phân tích thống kê với giá trị
P < 0,05 là giá trị có sự khác biệt giữa các mẫu.
Tạp chí Khoa học và Công nghệ 140 (2020) 056-060
58
2.4. Thử nghiệm khả năng tạo apatit của khuôn
định dạng HAp/Chitosan
Dung dịch giả plasma người SBF được chuẩn bị
theo tài liệu [13]. Các hóa chất được bổ sung lần lượt
theo quy trình để đảm bảo dung dịch cuối cùng thu
được không bị kết tủa và pH đạt 7,4. Các mẫu khuôn
định dạng HAp/Cs được cắt nhỏ với đường kính 10
mm và ngâm trong 15 ml dung dịch SBF ở nhiệt độ
37
oC. Sau 3, 6, và 10 ngày, mẫu được lấy ra tráng rửa
nhiều lần bằng nước khử ion rồi được sấy khô ở nhiệt
độ 40-45oC. Mẫu sau khi sấy khô được quan sát qua
hiển vi điện tử quét (SEM) để xác định hình thái của
lớp apatit tạo thành. Tỉ lệ Ca/P của lớp apatit hình
thành trên bề mặt khuôn định dạng HAp/Cs được
phân tích bằng thiết bị đo phổ tán xạ năng lượng tia X
(EDX). Lượng Ca2+ bám trên bề mặt khuôn định dạng
được đánh giá thông qua sự thay đổi nồng độ Ca2+
trong dung dịch SBF.
3. Kết quả và thảo luận
3.1. Kết quả phân tích hình thái học và đặc trưng
của khuôn định dạng
Sự tương tác giữa hai loại vật liệu chitosan
và pha tinh thể HAp trong việc tổng hợp khuôn
định dạng được đánh giá bằng phổ FT-IR (Hình 1)
và giản đồ XRD (Hình 2) của các mẫu HAp, Cs và
HAp/Cs. Trên phổ hồng ngoại của Cs có dải hấp
thụ nằm trong vùng 3200÷3500 cm-1 đặc trưng cho
dao động hóa trị của nhóm –OH liên hợp và nhóm
NH2. Hai đỉnh hấp thụ ở 2930 cm
-1
, 2860 cm
-1
đặc
trưng cho dao động hóa trị bất đối xứng và đối
xứng của nhóm -CH2, đỉnh hấp thụ ở 1660 cm
-1
đặc trưng cho dao động biến dạng của nhóm amin
bậc một –NH2. Trên phổ hồng ngoại của HAp cũng
có dải hấp thụ trong vùng 3400÷3600 cm -1 đặc trưng
cho nhóm –OH. Đặc biệt là hai đỉnh nổi bật 1090 cm-
1
và 629 cm-1 thể hiện dao động hóa trị và dao động
biến dạng của nhóm PO4
3-
. Phổ hồng ngoại của
Cs/HAp thể hiện đầy đủ các dải phổ, các đỉnh của các
nhóm chức quan trọng trong cả hai chất nguyên liệu
ban đầu (dải 3200÷3600 cm-1 của nhóm OH và NH2,
đỉnh 2935 cm-1 và 2855 cm-1 của nhóm -CH2, đỉnh
1670 cm
-1 của nhóm NH2 (của pha CS), đỉnh 1050
cm
-1
và 646 cm-1 của nhóm PO4
3-
của HAp [14].
Trên giản đồ XRD của mẫu Cs cho thấy chỉ xuất
hiện một đỉnh duy nhất ở góc quay 2θ = 20°, đặc
trưng cho pha vô định hình Cs . Trên giản đồ mẫu bột
HAp thấy xuất hiện các đỉnh ở góc 2θ =25.9°, 31.55°,
32.15°,32.62°, và 39.4° đặc trưng cho tinh thể HAp
[11]. Trên giản đồ XRD của khuôn định dạng
HAp/Cs, ngoài đỉnh rộng xuất hiện ở góc 2θ =20o,
tương ứng với CS còn thấy các đỉnh ở góc 2θ =
25.99°, 31.62°, 32.62°, 32.68° và 39.43°, tương ứng
với pha tinh thể HAp (các đỉnh này dịch về phía giá
trị cao hơn so với mẫu bột HAp) . Từ các kết quả
FTIR và XRD cho phép khẳng định giữa các pha Cs
và HAp tồn tại các mối tương tác phân tử, giúp cho
pha HAp phân tán trong pha Cs.
Hình 1. Phổ FT-IR của các mẫu HAp, (Cs), HAp/Cs
Hình 2. Giản đồ XRD các mẫu Cs, HAp/Cs, HAp
Hình 3. Ảnh SEM của mẫu khuôn định dạng được
tạo thành: a, b – mẫu Cs, c,d-mẫu HAp/Cs
Kết quả phân tích giản đồ XRD cho phép khẳng
định kết quả IR rằng sự tồn tại của pha tinh thể
HAP trong khuôn định dạng composit HAp/Cs. Hơn
nữa, hai loại vật liệu Cs và HAp khi hòa trộn
không xảy ra phản ứng hóa học mà chỉ phân tán
vào nhau và giữ nguyên các đặc tính lý hóa của mình.
Hình thái học, cấu trúc lỗ xốp của các
khuôn định dạng Cs và HAp/Cs tổng hợp được thể
a b
c d
Tạp chí Khoa học và Công nghệ 140 (2020) 056-060
59
hiện trên hình 3.Các ảnh SEM cho thấy, cả khuôn
định dạng Cs và HAp/Cs tổng hợp ra có cấu trúc xốp,
kích thước lỗ xốp lớn và khả năng liên thông của các
lỗ xốp cao. Các kết quả đo đạc và tính toán bằng phần
mềm ImageJ cho thấy, kích thước lỗ xốp của khuôn
định dạng Cs đạt 209 ± 60 µm (Hình 3: a và b),
khuôn định dạng HAp/Cs đạt 196 ± 30 µm (Hình 3: c
và d). Đây là một điều kiện thuận lợi cho việc thực
hiện trao đổi chất cũng như việc di chuyển của các tế
bào vào vật liệu trong quá trình cấy ghép, bởi kích
thước của tế bào nhân thực chỉ vào khoảng 10÷100
µm. Tuy nhiên, ở cả hai mẫu vật liệu, kích thước và
hình dạng các lỗ xốp còn biến động nhiều. Chưa đạt
được sự đồng đều như mong muốn.
Mặt khác, ở độ phóng đại lớn hơn cho thấy trên
thành , vách của các lỗ xốp lớn hình thành nên các lỗ
xốp thứ cấp có kích thước nhỏ hơn, đạt mức 3,5 ± 1.6
µm. Có thể giải thích sự hình thành của các lỗ xốp
thứ cấp này là nhờ vào sự bay hơi của dung môi trong
quá trình sấy. Sự xuất hiện của các lỗ xốp thứ cấp này
làm tăng diện tích bề mặt của khuôn định dạng, từ đó
làm tăng khả năng trao đổi chất cũng như khả năng
bám dính của tế bào và khoáng khi nuôi cấy, giúp cải
thiện tính tương thích sinh học của vật liệu [15].
Bảng 1. Độ xốp của khuôn định dạng Cs và HAp/Cs
Mẫu khuôn định dạng
Độ xốp trung bình
(%)
HAp/Cs 78,96 ± 3,18
Cs 84,32 ± 3,93
Hình 4. Ảnh SEM mẫu Cs (a, b) và HAp/Cs (c, d)
sau 10 ngày ngâm trong dung dịch SBF
Kết quả đo thể hiện độ xốp của cả hai mẫu vật
liệu đều tương đối cao. Cụ thể, khuôn định dạng Cs
có độ xốp đạt 84,32 ± 3.93 (%), và khuôn định
dạng HAp/Cs có độ xốp đạt 78.96 ± 3.18 (%).
Nguyên nhân của việc độ xốp mẫu Cs cao hơn so
với HAp/Cs là do vật liệu đơn pha chitosan có độ
bền cơ học kém hơn, trong quá trình sấy dễ bị co kéo
tại ra các lỗ xốp rộng hơn, đặc biệt là khả năng hình
thành các lỗ xốp thứ cấp cao hơn. Khuôn định dạng
HAp/Cs được bổ sung pha phân tán HAp làm tăng độ
bền cơ học, giảm độ biến dạng cơ học do tác nhân
bên ngoài tác động đến vật liệu.
3.2. Kết quả thử nghiệm sự hình thành apatit của
khuôn định dạng HAp/chitosan
Tính chất quan trọng của vật liệu sinh học là khả
năng liên kết với tế bào sống thông qua lớp apatit
giống với xương trên bề mặt vật liệu. Vì vậy, hoạt
tính sinh học của vật liệu được đánh giá thông qua thí
nghiệm ngâm vật liệu trong dung dịch SBF.
Quan sát ảnh SEM của các mẫu sau các khoảng
thời gian ngâm trong dung dịch SBF cho thấy, đối với
khuôn định dạng Cs không thấy xuất hiện apatit ở tất
cả các mốc thời gian 3 ngày, 6 ngày và 10 ngày (Hình
4: a, b). Với khuôn định dạng Cs/HAp, ở mốc 3
ngày rất khó để tìm được các vùng phát triển của
khoáng apatit, các điểm khoáng mọc nằm rất rải rác.
Ở mốc 6 ngày, khoáng apatit đã phát triển lớn hơn,
hình thành nên các đám lớn và bắt đầu liên kết lại với
nhau. Ở mốc thời gian 10 ngày (Hình 4: c,d), dễ dàng
tìm thấy khoáng apatit và kích thước của chúng cũng
đạt lớn nhất. Điều này phản ánh đúng theo sự suy
giảm nồng độ Ca2+ của dung dịch SBF trong quá trình
nuôi cấy (Bảng 2)
Bảng 2. Nồng độ Ca2+ trong dung dịch SBF sau khi
ngâm
Mẫu
Nồng độ Ca2+ (mM)
3 ngày 6 ngày 10 ngày
Cs 1,42± 0,04 1,40 ± 0,02 1,30± 0,02
HAp/Cs 1,28 ± 0,01 0,94 ± 0,01 0,92± 0,09
Ở các độ phóng đại cao hơn, hình dạng của
apatit cũng được thể hiện rõ ràng với các cánh xếp lại
với nhau thành từng bông, đồng thời các bông này có
cấu trúc xốp giống các đám san hô, đây cũng chính là
cấu trúc thành phần khoáng trong xương tự nhiên.
Kết quả đo và tính toán bằng phần mềm ImageJ cho
thấy kích thước của các bông apatit là 1,8 ± 0.4 µm.
Kích thước các cánh apatite đạt 190 ± 31 nm. Từ
việc phân tích ảnh SEM, có thể thấy được vật
liệu đơn pha chitosan không có khă năng hình thành
các khoáng apatit. Ngược lại, vật liệu HAp/Cs thể
hiện khả năng dẫn mọc các khoáng apatit. Có thể giải
thích điều này thông qua cơ chế kết tủa tạo apatit.
Thông thường, để cho một hợp chất kết tủa, thì tích
nồng độ các ion chất đó trong dung dịch phải lớn hơn
tích số tan của hợp chất đó. Trong trường hợp này,
tích số tan của HAp là 2,12.10-118, tích số tan này
nhỏ hơn tích số ion của Ca2+ và PO4
3-
có trong dung
dịch. Tuy nhiên, trong trạng thái bình thường, do
HAp có cấu trúc rất phức tạp nên các ion không thể
tự tổ chức sắp xếp lại để tạo thành tinh thể HAp mới
được. Nhưng dưới khả năng dẫn tạo khoáng rất tốt
c
b a
d
Tạp chí Khoa học và Công nghệ 140 (2020) 056-060
60
của HAp trong composit HAp/Cs, các khoáng
mới có thể hình thành.Trong dung dịch SBF tồn
tại các ion có khả năng kết tủa tạo ra không chỉ
HAp Ca10(PO4)6(OH)2 mà còn có thể tạo ra các loại
khoáng khác. Để xác định được thành phần nguyên
tố có trong các khoáng apatit phát triển trên nền
vật liệu trong quá trình nuôi cấy và xác định xem
khoáng này có đúng là hydroxyapatit hay không,
mẫu vật liệu HAp/Cs sau khi nuôi cấy 10 ngày
được phân tích EDX.
Kết quả phân tích EDX cho thấy, trong
mẫu vật liệu chứa đầy đủ các thành phần nguyên tố
chủ yếu là Ca, O, P. Sự xuất hiện của thành phần
nguyên tố Na, Cl là do quá trình rửa vật liệu còn
tồn đọng. Thành phần C là do có trong Cs. Mặt
khác, tỷ lệ Ca/P = 1,52. Tỷ lệ này rất gần với
tỷ lệ Ca/P = 1,6 chứng tỏ các khoáng mọc trên
nền vật liệu ở đây là hydroxyapatit.
Hình 5. Giản đồ thành phần nguyên tố EDX mẫu
HAp/Cs sau 10 ngày ngâm trong dung dịch SBF
4. Kết luận
Khuôn định dạng HAp/Cs đã được tổng hợp
thành công bằng phương pháp đổ dung môi rửa hạt.
Khuôn định dạng tổng hợp bằng phương pháp này có
độ xốp 83%, sự liên thông giữa các lỗ cao và kích
thước lỗ phù hợp cho sự phát triển của tế bào (khoảng
200 µm). Kết quả thử hoạt tính cho thấy mẫu khuôn
định dạng HAp/Cs có hoạt tính sinh học tốt hơn
khuôn định dạng Cs. Do mẫu HAp/Cs có hình thành
lớp khoáng apatit khi ngâm trong dung dịch giả
plasma người. Trong khi đó mẫu khuôn định dạng Cs
không có sự hình thành lớp khoáng này.
Lời cảm ơn
Các tác giả cảm ơn Quỹ Phát triển Khoa học và
Công nghệ Quốc gia đã hỗ trợ kinh phí cho nghiên
cứu trên đây thông qua Đề tài 104.03-2015.25.
Tài liệu tham khảo
[1] T.T. Hoai, N.K Nga, L.T. Giang, T.Q. Huy, P.N.M.
Tuan, B.T.T. Binh Hydrothermal Synthesis of
Hydroxyapatite Nanorods for Rapid Formation of
Bone-Like Mineralization. Journal of Electronic
Materials. 46(8) (2017) 5064-5072.
[2] Rinaudo, M., Chitin and chitosan: properties and
applications. Progress in polymer science. 31(2006)
603-632.
[3] Kumar, M.R., et al., Chitosan chemistry and
pharmaceutical perspectives. Chemical reviews. 104
(2004) 6017-6084.
[4] Karp, J.M., M.S. Shoichet, and J.E. Davies, Bone
formation on two‐ dimensional poly (DL‐ lactide‐
co‐ glycolide)(PLGA) films and three‐ dimensional
PLGA tissue engineering scaffolds in vitro. Journal of
Biomedical Materials Research Part A: An Official
Journal of The Society for Biomaterials, The Japanese
Society for Biomaterials, and The Australian Society
for Biomaterials and the Korean Society for
Biomaterials. 64 (2003) 388-396.
[5] Mano, J. and R. Reis, Osteochondral defects: present
situation and tissue engineering approaches. Journal
of tissue engineering and regenerative medicine. 1
(2007) 261-273.
[6] Mikos, A.G. and J.S. Temenoff, Formation of highly
porous biodegradable scaffolds for tissue engineering.
Electronic Journal of Biotechnology. 3(2)2000 23-24.
[7] Venkatesan, J., et al., Preparation and characterization
of carbon nanotube-grafted-chitosan–natural
hydroxyapatite composite for bone tissue engineering.
Carbohydrate Polymers .83(2) (2011) 569-577.
[8] Yu, C.-C., et al., Electrospun scaffolds composing of
alginate, chitosan, collagen and hydroxyapatite for
applying in bone tissue engineering. Materials
Letters. 93 (2013) 133-136.
[9] Vương, B.X., Tổng hợp và đặc trưng vật liệu
composite hydroxyapatite/chitosan ứng dụng trong kỹ
thuật y sinh. Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Khoa học
Tự nhiên và Công nghệ. Tập 34(Số 1) (2018) 9-15.
[10] Nga, N.K., T.T. Hoai, and P.H. Viet, Biomimetic
scaffolds based on hydroxyapatite nanorod/poly (D,
L) lactic acid with their corresponding apatite-
forming capability and biocompatibility for bone-
tissue engineering. Colloids and Surfaces B:
Biointerfaces .128 (2015) 506-514.
[11] Nga, N.K., et al., Surfactant-assisted size control of
hydroxyapatite nanorods for bone tissue engineering.
Colloids and Surfaces B: Biointerfaces. 116 (2014)
666-673.
[12]. Kothapalli, C.R., M.T. Shaw, and M. Wei,
Biodegradable HA-PLA 3-D porous scaffolds: effect
of nano-sized filler content on scaffold properties.
Acta biomaterialia. 1(6) (2005) 653-662.
[13] Kokubo, T. and H. Takadama, How useful is SBF in
predicting in vivo bone bioactivity? Biomaterials,
(2006) 2907-2915.
[14] Koutsopoulos, S., Synthesis and characterization of
hydroxyapatite crystals. Journal of Biomedical
Materials Research. 62(4)(2002) 600-612.
[15] Hoai, T.T. and N.K. Nga, Effect of pore architecture
on osteoblast adhesion and proliferation on
hydroxyapatite/poly (D, L) lactic acid-based bone
scaffolds. Journal of the Iranian Chemical Society 15
(2018) 1663-1671.
Tạp chí Khoa học và Công nghệ 140 (2020) 056-060
61
Các file đính kèm theo tài liệu này:
tong_hop_va_thu_hoat_tinh_sinh_hoc_cua_khuon_dinh_dang_hydro.pdf