Từ khái niệm "Quy phạm pháp luật" đến việc sử dụng các thuật ngữ pháp lý khác có liên quan

Kiến nghị Nguyên nhân của sự bất hợp lý trên chủ yếu xuất phát từ sự đồng nhất giữa QPPL và các điều, khoản của các văn bản QPPL - một hình thức được sử dụng một cách phổ biến để thể hiện các QPPL trên thực tế. Để khắc phục sự bất hợp lý trên, chúng ta nên thay đổi định nghĩa QPPL sao cho gần nhất có thể với cách thức thể hiện chúng trong văn bản QPPL. Với thông lệ xây dựng QPPL theo phương thức tách riêng phần quy định và phần đảm bảo trong các văn bản QPPL thuộc các ngành luật khác nhau, nên thay thế định nghĩa QPPL thành quy tắc do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, không nhất thiết phải là quy tắc xử sự chung cũng như không nhất thiết phải nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội. Thay đổi định nghĩa QPPL như trên, chúng ta có thể giải quyết cùng một lúc được nhiều vấn đề. Thứ nhất, đảm bảo hệ thống pháp luật là tổng hợp tất cả các quy định của pháp luật, bao gồm các khái niệm, định nghĩa, các nguyên tắc, tuyên bố mang tính pháp lý chứ không phải chỉ là tổng thể các quy tắc xử sự. Thứ hai, đảm bảo tính hợp lý của việc phân loại các QPPL theo tiêu chí ngành luật. QPPL lúc bấy giờ không còn có tính chất xuyên ngành luật mà được tách ra thành các quy tắc nhỏ, với các bộ phận cấu thành được tìm thấy chỉ giới hạn trong phạm vi các văn bản QPPL của ngành luật đó. QPPL có thể là quy tắc cư xử không có bộ phận bảo đảm đi kèm, bộ phận bảo đảm cùng với giả định của nó trở thành quy tắc xử phạt hay quy tắc khen thưởng. Hơn nữa, khi phạm trù của khái niệm QPPL được mở rộng thì việc phân loại QPPL thành QPPL chuyên môn (chỉ có bộ phận quy định nêu lên nguyên tắc) hay QPPL bảo vệ (chỉ có giả định và chế tài) như hiện nay vẫn hợp lý, cho dù nó không chứa đựng bất kỳ quy tắc xử sự nào. Thứ ba, các văn bản QPPL như BLHS, các Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính, các Nghị quyết quy định về tạm ngưng, kéo dài hiệu lực của văn bản QPPL cũng sẽ đảm bảo thuộc tính quan trọng của văn bản QPPL là chứa đựng QPPL. Cuối cùng, các hoạt động giải thích và áp dụng các điều, khoản, điểm của các văn bản QPPL trong quá trình giải quyết các vụ việc cá biệt cũng sẽ gần nhất với hoạt động làm sáng rõ nội dung, tư tưởng, ý nghĩa cũng như vận dụng QPPL vào trường hợp cụ thể.

pdf6 trang | Chia sẻ: hachi492 | Ngày: 18/01/2022 | Lượt xem: 166 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Từ khái niệm "Quy phạm pháp luật" đến việc sử dụng các thuật ngữ pháp lý khác có liên quan, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
1. Khái niệm quy phạm pháp luật Được xem là tế bào của pháp luật, khái niệm QPPL liên quan trực tiếp đến việc xây dựng và sử dụng các thuật ngữ pháp lý khác như hệ thống pháp luật, ngành luật, văn bản QPPL, áp dụng pháp luật và giải thích pháp luật Tuy vậy, khi xây dựng những thuật ngữ pháp lý trên, các nhà khoa học luật dường như đã xa rời nội dung khái niệm QPPL. Ở nước ta, khái niệm QPPL lần đầu tiên được định nghĩa chính thức tại Điều 3 Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2015 như sau: QPPL là quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được áp dụng lặp đi lặp lại nhiều lần đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi cả nước hoặc đơn vị hành chính nhất định, do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định trong luật này ban hành và được Nhà nước đảm bảo thực hiện1. Dù có ý kiến cho là đang chứa đựng nhiều điều kiện không cần thiết, định nghĩa trên đã khẳng định đặc điểm nổi bật của QPPL là quy tắc xử sự chung do cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền ban hành. Bên cạnh đó, theo Giáo trình lý luận của Trường Đại học Luật Hà Nội thì QPPL là “quy tắc xử sự chung do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội theo những định hướng và nhằm đạt được mục đích nhất định”2. Theo Phạm Hồng Thái và Đinh Văn Mậu thì QPPL là quy tắc hành vi, có tính bắt 3 NGHIÏN CÛÁU LÊÅP PHAÁPSöë 23(327) T12/2016 NHAÂ NÛÚÁC VAÂ PHAÁP LUÊÅT Tûâ khaái niïåm “QUY PHAÅM PHAÁP LUÊÅT” ÀÏËN VIÏÅC SÛÃ DUÅNG CAÁC THUÊÅT NGÛÄ PHAÁP LYÁ KHAÁC COÁ LIÏN QUAN HuỳnH THị SinH Hiền* * ThS, Giảng viên Khoa Luật - Đại học Cần Thơ 1 Khoản 1 Điều 3 Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2015 (có hiệu lực ngày 1/7/2016). 2 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình lý luận Nhà nước và Pháp luật, Nxb. Công an Nhân dân, H., 2009, tr. 383. Nhìn từ góc độ lý luận, quy phạm pháp luật (QPPL) được xem là các quy tắc xử sự chung. Tuy nhiên, khái niệm này đang được vận dụng không thống nhất. Các điều, khoản của văn bản QPPL không chứa đựng quy tắc xử sự vẫn được xem là QPPL, các văn bản không chứa quy tắc xử sự chung vẫn được coi là văn bản QPPL, áp dụng các quy tắc xử phạt hoặc thậm chí các khái niệm pháp lý vẫn được hiểu là vận dụng QPPL vào trường hợp cụ thể... Bài viết phân tích và tìm nguyên nhân của sự không thống nhất trên, từ đó đề xuất thay đổi cách định nghĩa QPPL nhằm tạo sự thống nhất trong việc sử dụng các thuật ngữ pháp lý. buộc chung, được biểu thị bằng hình thức nhất định, do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội3. Dù có một số điểm khác biệt nhưng các định nghĩa đều nêu bật được đặc điểm quan trọng của QPPL là quy tắc xử sự, là chuẩn mực cư xử, là thước đo cho hành vi của con người. Tuy nhiên, khi xây dựng các thuật ngữ pháp lý có liên quan đến QPPL, thuộc tính quy tắc xử sự chung của QPPL dường như bị bỏ quên. 2. Một số khái niệm pháp lý có liên quan đến quy phạm pháp luật 2.1 Hệ thống pháp luật Khi nghiên cứu về hệ thống pháp luật, nhiều tác giả đã đồng nhất quan điểm rằng, QPPL là thành tố nhỏ nhất cấu thành nên hệ thống pháp luật, là những viên gạch xây dựng nên tòa nhà pháp luật4. Ví dụ, theo Giáo trình của Trường Đại học Luật Hà Nội, “Hệ thống cấu trúc của pháp luật là tổng thể các QPPL có mối liên hệ nội tại thống nhất với nhau, được phân định thành các chế định pháp luật và các ngành luật”5. Với quan niệm QPPL là quy tắc xử sự chung thì định nghĩa hệ thống pháp luật như trên sẽ không còn chính xác. Hệ thống pháp luật của một quốc gia không chỉ bao gồm các quy tắc xử sự cho dù thành văn hay bất thành văn, mà còn phải bao gồm rất nhiều các quy định không phải là quy tắc xử sự như các phần giải thích từ ngữ, các nguyên tắc pháp lý, các quy định về quốc kỳ, quốc ca Tuy nhiên, không ít tác giả cho rằng, các điều luật nêu lên định nghĩa, các nguyên tắc chính trị pháp lý hay xác định tổng quát chung một trạng thái hiện tại của xã hội là loại QPPL chuyên môn6. Đặc trưng của loại QPPL này được cho rằng, nó không đưa ra quy tắc xử sự mang tính chất ràng buộc chung, mà chỉ có tác dụng nhằm đảm bảo hiệu lực của các loại QPPL khác7. Việc xem các điều luật trên là các QPPL, theo chúng tôi là không hợp lý, vì chiếu theo định nghĩa, chúng không phải là các quy tắc xử sự, không đưa ra hành vi, cách cư xử mẫu. Các điều, khoản này không chứa đựng bất kỳ bộ phận cấu thành nào từ giả định, quy định hoặc bảo đảm. Chính vì lý do này mà tác giả Nguyễn Quốc Hoàn xem chúng là các mệnh đề của QPPL, chúng gắn liền để hỗ trợ cho các QPPL, các chế định pháp luật và cả một hệ thống pháp luật8. Như vậy, tập hợp tất cả các QPPL và sắp xếp chúng một cách trật tự sẽ tạo thành hệ thống pháp luật là chưa đúng, chưa đủ vì chúng ta đã bỏ sót nhiều quy tắc không phải là quy tắc xử sự nhưng chắc chắn chúng phải có mặt trong hệ thống pháp luật. 2.2 Ngành luật Hệ thống pháp luật được hiểu là tổng thể các QPPL và các QPPL này được sắp xếp một cách có trật tự thành các ngành luật và các chế định pháp luật dựa trên đặc điểm chung của các quan hệ xã hội mà QPPL điều 4 NGHIÏN CÛÁU LÊÅP PHAÁP Söë 23(327) T12/2016 NHAÂ NÛÚÁC VAÂ PHAÁP LUÊÅT 3 Phạm Hồng Thái và Đinh Văn Mậu, Giáo trình lý luận Nhà nước và Pháp luật, Nxb. Giao thông vận tải, H., 2009, tr. 355. 4 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình lý luận Nhà nước và Pháp luật, Sđd., 2009, tr. 400 và Nguyễn Văn Động, Giáo trình lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật, Nxb. Chính trị quốc gia, H., 2014, tr. 352. 5 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình lý luận Nhà nước và Pháp luật, Sđd., tr. 401. 6 Đinh Văn Mậu và Phạm Hồng Thái, Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật, Nxb, Tổng hợp Đồng Nai, năm 2011, tr. 396. 7 Phan Trung Hiền, Lý luận về Nhà nước và Pháp luật, quyển 2 (tái bản có sửa chữa, bổ sung) Nxb. Chính trị quốc gia, H., 2012, tr. 77. 8 Nguyễn Quốc Hoàn, Vấn đề cơ cấu của quy phạm pháp luật, Tạp chí Luật học số 2/2004, tr. 37. chỉnh (đối tượng điều chỉnh). Từ đó, ngành luật được định nghĩa là tập hợp các QPPL cùng loại, cùng điều chỉnh một loại quan hệ xã hội9. Như vậy, QPPL cũng được xem là tế bào cấu thành nên ngành luật. Tuy nhiên, liệu rằng việc phân chia QPPL dựa trên tiêu chí ngành luật có hợp lý? Theo chúng tôi, nếu hiểu QPPL dưới góc độ là quy tắc xử sự như trên thì các bộ phận cấu thành của nó không phải chỉ được tìm thấy trong một điều, khoản của cùng một văn bản QPPL mà chúng có thể nằm trong các văn bản QPPL thuộc các ngành luật khác nhau. Nghĩa là các QPPL một khi được hiểu dưới góc độ là quy tắc xử sự chung thì chúng có tính chất “xuyên ngành luật”. QPPL nêu lên cách cư xử mẫu (phải làm gì, không làm gì, được làm gì, làm như thế nào) cho chủ thể khi rơi vào hoàn cảnh, tình huống được dự liệu và nếu chủ thể không làm đúng theo cách cư xử mẫu đó sẽ bị xử lý như thế nào, hoặc nếu làm tốt theo cách cư xử đó được khen thưởng gì. Theo quan điểm được chấp nhận khá phổ biến thì QPPL có cấu thành từ ba bộ phận: giả định, quy định và bảo đảm (trong biện pháp bảo đảm có khen thưởng hoặc (và) chế tài)10. Trong đó, giả định của QPPL nêu lên hoàn cảnh, tình huống hoặc điều kiện có thể xảy ra trong cuộc sống và chủ thể nào rơi vào trong hoàn cảnh, điều kiện đó. Quy định nêu lên cách cư xử mẫu cho chủ thể ở giả định làm theo. Cuối cùng, bộ phận đảm bảo nêu lên biện pháp tác động (xử lý hoặc động viên) giúp cho chủ thể ở giả định thực hiện đúng yêu cầu ở quy định. Tuy nhiên, để đưa ra biện pháp xử lý hoặc khen thưởng tương ứng và phù hợp với mức độ vi phạm hoặc mức độ làm tốt thì bộ phận đảm bảo cũng cần đến giả định. Tuy nhiên, kỹ thuật lập pháp của nước ta hiện nay thường tách rời phần quy định với phần bảo đảm (mỗi phần đi kèm với giả định của nó) trong các văn bản QPPL thuộc các ngành luật khác nhau. Để làm rõ điều này, chúng ta xem xét tính hợp lý về cấu thành của một số loại QPPL được phân loại theo tiêu chí ngành luật. Đầu tiên là loại QPPL hiến pháp tạo nên ngành luật hiến pháp, QPPL này được cho rằng có cấu thành bởi hai bộ phận, giả định và quy định mà không nhất thiết phải có bộ phận bảo đảm11. Theo chúng tôi, khó có thể phân loại thành QPPL hiến pháp vì nếu xem QPPL là quy tắc xử sự chung thì một QPPL có bộ phận giả định và quy định trong Hiến pháp nhưng lại có bộ phận đảm bảo được đặt trong các văn bản QPPL thuộc các ngành luật khác, có thể hành chính hoặc hình sự. Ví dụ, Hiến pháp năm 2013 tại khoản 2 Điều 45 quy định: “Công dân phải thực hiện nghĩa vụ quân sự và tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân”12. Nếu tìm bộ phận bảo đảm thì rõ ràng trong phạm vi Điều 45 của Hiến pháp 2013 không có, còn quy tắc xử sự đã là công dân thì phải thực hiện nghĩa vụ quân sự thì không thể thiếu bộ phận bảo đảm. Cụ thể, chế tài phạt tiền về hành vi không đăng ký nghĩa vụ quân sự, không có mặt đúng thời gian và địa điểm tại nơi sơ 9 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình lý luận về Nhà nước và Pháp luật, Sđd., tr. 358. 10 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình lý luận Nhà nước và Pháp luật, Sđd., tr. 384 và Phan Trung Hiền, Lý luận về Nhà nước và Pháp luật, Sđd, tr. 64. 11 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật Hiến pháp Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, H., 2004. 12 Khoản 2 Điều 45 Hiến pháp năm 2013. 5 NGHIÏN CÛÁU LÊÅP PHAÁPSöë 23(327) T12/2016 NHAÂ NÛÚÁC VAÂ PHAÁP LUÊÅT tuyển lại được quy định trong Nghị định số 120/2013/NĐ-CP của Chính phủ13 và nếu bị xử lý hành chính về một trong các hành vi trên mà còn vi phạm thì có thể bị khởi tố hình sự về tội trốn nghĩa vụ quân sự. Hiến pháp được xem là đạo luật gốc, có giá trị pháp lý cao nhất, nội dung của Hiến pháp dùng để điều chỉnh những vấn đề mang tính nguyên tắc, cơ bản. Vì vậy, để giữ tính ổn định của Hiến pháp, Hiến pháp không thể chứa bộ phận bảo đảm cụ thể. Tương tự, việc phân chia thành loại QPPL hành chính cũng không hợp lý vì các văn bản luật trong các lĩnh vực quản lý cụ thể như Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo hoặc Luật Giao thông đường bộ thường chỉ chứa giả định và quy định, không bao gồm các biện pháp bảo đảm cho bộ phận quy định được thực hiện. Các biện pháp bảo đảm bao gồm khen thưởng nhằm động viên, hoặc chế tài nhằm để trừng trị, xử lý chủ thể thường được dẫn chiếu sang các văn bản QPPL thuộc các ngành luật khác. Cụ thể, Chương VII Luật Tố cáo năm 2011 quy định: “Cá nhân, tổ chức nào có thành tích trong việc giải quyết tố cáo thì được khen thưởng về vật chất hoặc tinh thần, cá nhân, tổ chức vi phạm thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật”. Như vậy, bộ phận bảo đảm cho việc thực hiện các cách cư xử trong các văn bản luật thuộc ngành luật hành chính được dẫn chiếu đến các nghị định xử phạt vi phạm hành chính hoặc thậm chí Bộ luật Hình sự (BLHS), Bộ luật Dân sự (BLDS). Hơn nữa, cũng sẽ không hợp lý nếu xem các điều luật của BLHS là QPPL hình sự, để rồi từ đó cho rằng các QPPL này hợp thành ngành luật hình sự. Các điều luật ở phần chung BLHS như định nghĩa tội phạm, phân loại tội phạm không đưa ra quy tắc xử sự, không chứa đựng bất cứ bộ phận nào từ giả định, quy định và chế tài. Còn các điều luật chỉ ra hành vi nào là tội phạm cùng với hình phạt đi kèm chính là các quy tắc xử phạt, không phải quy tắc xử sự. Có quan điểm cho rằng, QPPL hình sự được cấu thành bởi giả định và chế tài mà không có bộ phận quy định vì nếu thể hiện bộ phận quy định sẽ dài dòng và chúng có thể được hiểu ngầm theo cách là “không được thực hiện hành vi mà Nhà nước cho là phải gánh chịu hình phạt”. Tuy nhiên, nếu phân tích kỹ ta thấy, giả định trong các điều luật này không phải là giả định của QPPL mà là giả định riêng cho bộ phận bảo đảm. Khác với giả định của QPPL nêu lên chủ thể, hoàn cảnh, tình huống có thể xảy ra trong cuộc sống, giả định của bảo đảm nêu lên chủ thể và hành vi mà chủ thể đã thực hiện để trên cơ sở đó, Nhà nước khen thưởng hoặc xử lý chủ thể. Bộ phận quy định không cần phải hiểu ngầm mà quy định cùng với giả định của nó được thể hiện khá rõ trong các văn bản QPPL khác. Có thể cho rằng, hành vi của chúng ta không chịu sự điều chỉnh của BLHS mà đang chịu sự điều chỉnh của các văn bản QPPL khác như Hiến pháp, BLDS, Luật Nghĩa vụ quân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình nếu vi phạm quy định của các văn bản QPPL đó ở mức độ đáng kể thì phải chịu chế tài trong BLHS. Đó là lý do để cho rằng, tội phạm không phải là hành vi trái pháp luật hình sự mà phải hợp với pháp luật hình sự nhưng lại trái với quy định của ngành luật khác. Như vậy, đa số các điều luật trong BLHS thường không phải là QPPL vì không nêu lên được quy tắc xử sự. 6 NGHIÏN CÛÁU LÊÅP PHAÁP Söë 23(327) T12/2016 NHAÂ NÛÚÁC VAÂ PHAÁP LUÊÅT 13 Nghị định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quốc phòng, cơ yếu. Xem xét cách thức thể hiện QPPL ở nước ta trước đây sẽ thấy nhiều trường hợp các bộ phận cấu thành của QPPL (giả định của quy định, quy định, giả định của bảo đảm và bảo đảm) đều được đặt chung trong một điều luật. Ví dụ, Điều 587 Bộ luật Hồng Đức quy định “Cho vay nợ hay cầm đồ đạc mỗi tháng được ăn lời là 15 tiền kèm mỗi quan. Dù lâu năm cũng không được tính quá gốc, một lời, trái luật thì biếm một tư, mất tiền lời, nếu tính lời vào gốc rồi bắt làm văn tự khác thì xử tội nặng thêm một bực”. Điều luật trên, ngoài giả định và quy định thì từ trái luật chính là giả định hành vi để làm cơ sở cho bộ phận bảo đảm là biếm một tư, mất tiền lời. Một giả định hành vi khác là nếu tính lời vào gốc rồi bắt làm văn tự khác để làm cơ sở cho việc xử tội nặng thêm một bực. Tương tự, theo Điều 22 Sắc lệnh số 13 năm 1946 thì: “Hôm phiên toà, hai phụ thẩm đã chọn bắt buộc phải đến dự. Người nào vắng mặt, nếu không có duyên cớ chính đáng, sẽ bị phạt lần đầu từ 20 đồng đến 50 đồng; lần thứ nhì thì từ 50 đồng đến 100 đồng; lần thứ ba từ 100 đồng đến 200 đồng; ngoài ra lại có thể mất chức phụ thẩm”. Trong điều luật trên, hôm phiên tòa, hai phụ thẩm đã được chọn là giả định nhằm đưa ra mệnh lệnh là bắt buộc phải đến dự, người nào vắng mặt, nếu không có duyên cớ chính đáng là giả định hành vi để làm cơ sở cho bộ phận chế tài và tùy theo số lần vắng mặt được giả định mà chủ thể phải chịu các mức phạt tiền khác nhau. Như vậy, một QPPL về nguyên tắc vẫn bao gồm hai phần chính quy định và bảo đảm cùng với giả định của hai bộ phận này. Tuy nhiên, cách thức thể hiện các QPPL ra bên ngoài bằng hình thức văn bản rất đa dạng và có thể khác nhau qua các thời kỳ. Với cách thức làm luật ở nước ta ngày nay thì các bộ phận cấu thành của QPPL thường nằm trong các văn bản QPPL thuộc ngành luật khác nhau, nghĩa là các QPPL có tính chất “xuyên ngành luật”. Do đó, cho rằng ngành luật là tập hợp các QPPL cùng loại là không hợp lý. 2.3 Văn bản QPPL Theo Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2015 thì văn bản QPPL là văn bản chứa đựng các QPPL và các QPPL được luật này định nghĩa tại khoản 1 Điều 3 là quy tắc xử sự chung14. Tuy nhiên, có nhiều văn bản được xem là văn bản QPPL nhưng lại không chứa đựng quy tắc xử sự chung, bao gồm: BLHS, các Nghị định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính, Lệnh của Chủ tịch nước dùng để công bố Hiến pháp, luật, pháp lệnh15, các Nghị quyết của Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về tạm ngưng, kéo dài toàn bộ hoặc một phần hiệu lực của các văn bản QPPL, đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ các văn bản QPPL thuộc thẩm quyền16. 2.4 Giải thích pháp luật và áp dụng pháp luật Hoạt động áp dụng pháp luật và giải thích pháp luật được hiểu gắn liền với khái niệm QPPL. Áp dụng pháp luật được cho là hoạt động có mục đích nhằm “cá biệt hóa QPPL hiện hành đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức cụ thể trong trường hợp cụ thể”17. Giải thích pháp luật là làm sáng rõ nội dung, tư tưởng, ý nghĩa của các QPPL để pháp luật được nhận thức và thực hiện 7 NGHIÏN CÛÁU LÊÅP PHAÁPSöë 23(327) T12/2016 NHAÂ NÛÚÁC VAÂ PHAÁP LUÊÅT 14 Điều 2 và khoản 1 Điều 3 Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2015. 15 Lệnh dùng để công bố Hiến pháp, luật của Chủ tịch nước được đánh số và ký hiệu của một văn bản QPPL theo Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2008. 16 Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2015 tại Điều 4, điểm c khoản 2 Điều 15, điểm b và c khoản 2 Điều 16. 17 Nguyễn Văn Động, Giáo trình lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật, Nxb. Chính trị quốc gia, H., 2014 tr. 382. thống nhất18. Tuy nhiên, trên thực tế, hoạt động áp dụng pháp luật ở nước ta chủ yếu căn cứ vào các điều khoản, điểm trong các văn bản QPPL. Các điều, khoản này thường chỉ chứa bộ phận quy định với giả định của nó, hoặc chỉ giả định và chế tài, thậm chí chỉ là định nghĩa về một khái niệm nào đó chứ không nhất thiết áp dụng toàn bộ QPPL như một quy tắc xử sự19. Giải thích pháp luật thường gắn liền với hoạt động áp dụng pháp luật, gắn liền với việc làm sáng rõ nội dung, tư tưởng, ý nghĩa của các điều, khoản hoặc các điểm trong văn bản QPPL được áp dụng. Thậm chí, giải thích pháp luật dưới dạng Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội cũng chỉ làm rõ nội dung ý nghĩa của các điều, khoản, điểm liên quan đến sự không rõ nghĩa của các từ, các ngữ cụ thể. 3. Kiến nghị Nguyên nhân của sự bất hợp lý trên chủ yếu xuất phát từ sự đồng nhất giữa QPPL và các điều, khoản của các văn bản QPPL - một hình thức được sử dụng một cách phổ biến để thể hiện các QPPL trên thực tế. Để khắc phục sự bất hợp lý trên, chúng ta nên thay đổi định nghĩa QPPL sao cho gần nhất có thể với cách thức thể hiện chúng trong văn bản QPPL. Với thông lệ xây dựng QPPL theo phương thức tách riêng phần quy định và phần đảm bảo trong các văn bản QPPL thuộc các ngành luật khác nhau, nên thay thế định nghĩa QPPL thành quy tắc do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, không nhất thiết phải là quy tắc xử sự chung cũng như không nhất thiết phải nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội. Thay đổi định nghĩa QPPL như trên, chúng ta có thể giải quyết cùng một lúc được nhiều vấn đề. Thứ nhất, đảm bảo hệ thống pháp luật là tổng hợp tất cả các quy định của pháp luật, bao gồm các khái niệm, định nghĩa, các nguyên tắc, tuyên bố mang tính pháp lý chứ không phải chỉ là tổng thể các quy tắc xử sự. Thứ hai, đảm bảo tính hợp lý của việc phân loại các QPPL theo tiêu chí ngành luật. QPPL lúc bấy giờ không còn có tính chất xuyên ngành luật mà được tách ra thành các quy tắc nhỏ, với các bộ phận cấu thành được tìm thấy chỉ giới hạn trong phạm vi các văn bản QPPL của ngành luật đó. QPPL có thể là quy tắc cư xử không có bộ phận bảo đảm đi kèm, bộ phận bảo đảm cùng với giả định của nó trở thành quy tắc xử phạt hay quy tắc khen thưởng. Hơn nữa, khi phạm trù của khái niệm QPPL được mở rộng thì việc phân loại QPPL thành QPPL chuyên môn (chỉ có bộ phận quy định nêu lên nguyên tắc) hay QPPL bảo vệ (chỉ có giả định và chế tài) như hiện nay vẫn hợp lý, cho dù nó không chứa đựng bất kỳ quy tắc xử sự nào. Thứ ba, các văn bản QPPL như BLHS, các Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính, các Nghị quyết quy định về tạm ngưng, kéo dài hiệu lực của văn bản QPPL cũng sẽ đảm bảo thuộc tính quan trọng của văn bản QPPL là chứa đựng QPPL. Cuối cùng, các hoạt động giải thích và áp dụng các điều, khoản, điểm của các văn bản QPPL trong quá trình giải quyết các vụ việc cá biệt cũng sẽ gần nhất với hoạt động làm sáng rõ nội dung, tư tưởng, ý nghĩa cũng như vận dụng QPPL vào trường hợp cụ thể. Định nghĩa QPPL khi thay đổi theo hướng không còn là quy tắc xử sự mà chỉ là quy tắc nói chung sẽ góp phần đảm bảo cho việc sử dụng thống nhất các thuật ngữ pháp lý liên quan, góp phần nâng cao vai trò, ý nghĩa của khoa học lý luận Nhà nước và Pháp luật trong khoa học pháp lý nước nhà n 8 NGHIÏN CÛÁU LÊÅP PHAÁP Söë 23(327) T12/2016 NHAÂ NÛÚÁC VAÂ PHAÁP LUÊÅT 18 Nguyễn Văn Động, Giáo trình lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật, Sđd, tr. 386. 19 Ví dụ, Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh đã áp dụng điều 84 BLDS năm 2005 quy định thế nào là pháp nhân để hủy bản án sơ thẩm với lý do Tòa án cấp sơ thẩm đã thụ lý sai vì nguyên đơn không thể tự mình tham gia vào quan hệ pháp luật có tranh chấp.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdftu_khai_niem_quy_pham_phap_luat_den_viec_su_dung_cac_thuat_n.pdf