Định danh nấm Fusarium sp. dựa vào
trình tự vùng ITS – rDNA
Kết quả điện di sản phẩm PCR với cặp primer
ITS1/ITS4 cho thấy mẫu S-NK-ĐL-09 và mẫu STT-AP-01 đều cho băng có kích thước khoảng
900 bp (hình 4).
Kết quả giải trình tự hai chiều vùng ITS –
rDNA với cặp primer ITS1/ITS4 của hai mẫu nấm
S-NK-ĐL-09 và S-TT-AP-01 sau khi được xử lý
bằng phần mềm Bio Edit có chiều dài lần lượt là
882 và 900 bp.
Trình tự hai mẫu nấm Fusarium sp. được so
sánh độ tương đồng với các trình tự Fusarium
sp. đã được công bố trên GenBank bằng công cụ
BLAST của NCBI. Cả hai mẫu nấm S-NK-ĐL-09
và mẫu S-TT-AP-01 đều có độ tương đồng 99%
với Fusarium solani được Sharma và cộng sự
phân lập tại khu vực miền Tây Ấn Độ có mã số
Ngân hàng gen KU872821.1. Tuy nhiên, độ bao
phủ của mẫu S-TT-AP-01 so với F. solani có mã
KU872821.1 đạt 100%, trong khi đó mẫu S-NK-
ĐL-09 so với F. solani có mã KU872821.1 chỉ có
98%. Như vậy, với độ tương đồng cao 99% có
thể khẳng định rằng mẫu nấm Fusarium sp. gây
bệnh vàng lá lan Hồ Điệp là loài F. solani.
3. KẾT LUẬN
Tỷ lệ bệnh vàng lá lan Hồ Điệp tại Lâm Đồng
dao động từ 0 – 5,2% và tăng dần từ tháng 3
đến tháng 8.
Các giống lan Hồ Điệp hoa màu trắng có tỷ lệ
bệnh vàng lá cao nhất (0,3 – 5,2%), tiếp đến là giống
lan Hồ Điệp có hoa màu vàng (0,3 – 4,0%) và thấp
nhất là giống hoa màu tím và hồng phấn (0 – 3,3%).
Giai đoạn từ xử lý đến ra hoa có tỷ lệ bệnh vàng lá
cao hơn so với giai đoạn cây con.
Dựa vào đặc điểm sinh học, hình thái học và
trình tự vùng ITS – rDNA của nấm Fusarium sp.
đã xác định được tác nhân gây ra bệnh vàng lá
lan Hồ Điệp là loài nấm Fusarium solani.
6 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 5 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Xác định loài nấm fusarium sp gây bệnh vàng lá lan hồ điệp (phalaenopsis sp), để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 1/2018
3
XÁC ĐỊNH LOÀI NẤM Fusarium sp. GÂY BỆNH VÀNG LÁ LAN HỒ ĐIỆP
(Phalaenopsis sp.)
Identification of Fungus Fusarium sp. Causing the Yellow Leaf Disease
of Phalaenopsis orchid (Phalaenopsis sp.)
Trần Quang Đại
1
, Phan Thị Thu Hiền
2
, Thái Thoại An
3
,
Lê Phƣơng Dung
3
và Võ Thị Thu Oanh
3
Ngày nhận bài: 30.11.2017 Ngày chấp nhận: 22.12.2017
Abstract
This study described that Fusarium solani caused the yellow leaf symptom of Phalaenopsis orchid. The
diseased plants showed symptoms firstly on lower leaves which turned yellow with a sheath black rot period.
The diseased leaves abscised after a short period of time, and eventually the infected orchid plants died.
The investigation of yellow leaf disease on Phalaenopsis orchids in Lam Dong Province showed the amount
of yellow leaf Phalaenopsis orchids increased gradually from March to August. The Phalaenopsis orchid with
white flowers had the highest rate of diseases while the Phalaenopsis orchid of purple and pink ranked the
lowest. The rate of yellow leaf disease in the stage from the treatment to flowering was higher than that in
the vegetative phase. The results indicated that Fusarium solani was the pathogen of yellow leaf disease in
Phalaenopsis orchid by relying on morphological characteristics of fungi isolations: S-TT-AP-01, S-NK-ĐL-
09 and the results of ITS - rDNA region identification of isolations: S-TT-AP-01, S-NK-ĐL-09.
Keywords: Phalaenopsis orchid, Fusarium solani, Lam Dong
1. ĐẶT VẤN ĐỀ *
Lan Hồ Điệp (Phalaenopsis sp.) là một trong
những loài lan quý đang được yêu thích bởi vẻ
đẹp sang trọng và trang nhã. Lan Hồ Điệp có
màu sắc rất phong phú từ trắng, hồng, đỏ,
vàng, tím đến các loại hoa có sọc nằm ngang
hay thẳng đứng hoặc có đốm to hay đốm nhỏ.
Ngày nay, lan Hồ Điệp được cả thế giới ưa
chuộng và còn được mệnh danh là “nữ hoàng
của các loài hoa”.
Việt Nam với khí hậu thuận lợi cho sự sinh
trưởng và phát triển của lan Hồ Điệp, đã mở ra
nhiều cơ hội cho việc sản xuất và kinh doanh
hoa tươi cắt cành cũng như hoa trồng chậu.
Các giống lan Hồ Điệp được trồng nhiều tại
Lâm Đồng được xuất khẩu đi các nước như:
Nhật Bản, U.A.E, Mỹ, Singapore, Hà Lan. Bên
cạnh việc xuất khẩu, lan Hồ Điệp còn được
nhập khẩu về Việt Nam để đáp ứng nhu cầu
ngày càng nâng cao của thị trường trong và
ngoài nước nhằm đa dạng về màu sắc giống
1.Chi Cục Kiểm dịch thực vật vùng II
2. Trung tâm Kiểm dịch thực vật sau nhập khẩu II
3. Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh
và đạt tiêu chuẩn cho xuất khẩu. Tuy nhiên,
các loại nấm bệnh trên lan Hồ Điệp xuất hiện
ngày càng nhiều và gây ảnh hưởng nghiêm
trọng đến năng suất, chất lượng thương phẩm
của lan. Trong đó, bệnh vàng lá lan Hồ Điệp là
đáng chú ý. Theo Su và cộng sự (2010), bệnh
vàng lá lan Hồ Điệp trên các vườn trồng ở Đài
Loan là do nấm Fusarium solani gây ra và
khảo sát với 20 vườn ươm cho thấy tỉ lệ nhiễm
bệnh từ 30 – 60 % đối với những giống lan Hồ
Điệp mẫn cảm. Ở Việt Nam, triệu chứng bệnh
vàng lá đã được tìm thấy trên các giống lan Hồ
Điệp nhập khẩu từ Đài Loan và trồng tại Lâm
Đồng. Vì vậy, việc xác định tác nhân gây bệnh
vàng lá lan Hồ Điệp đã được thực hiện.
2. VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP
2.1 Vật liệu nghiên cứu
Vật liệu nghiên cứu: 30 mẫu nấm Fusarium
sp. (bảng 1) phân lập từ các chậu lan Hồ Điệp có
triệu chứng bệnh vàng lá nhập khẩu từ Đài Loan
và trồng tại Lâm Đồng được lấy mẫu theo
phương pháp của Shivas và Beasley (2005). Các
loại môi trường thực hiện trong quá trình nuôi
cấy: WA (2%), PGA, PDA và CLA.
Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 1/2018
4
Bảng 1. Địa điểm thu thập và phân lập các chủng nấm Fusarium sp.
STT Isolate
Địa điểm thu thập
mẫu
STT Isolate Địa điểm thu thập mẫu
1 NK-ĐL-01 Cảng Tp. HCM 16 TT-AP-01 Tu Tra – Lâm Đồng
2 NK-ĐL-02 Cảng Tp. HCM 17 TT-AP-02 Tu Tra – Lâm Đồng
3 NK-ĐL-03 Cảng Tp. HCM 18 TT-AP-03 Tu Tra – Lâm Đồng
4 NK-ĐL-04 Cảng Tp. HCM 19 LN-TH-01 Liên Nghĩa – Lâm Đồng
5 NK-ĐL-05 Cảng Tp. HCM 20 LN-TH-02 Liên Nghĩa – Lâm Đồng
6 NK-ĐL-06 Cảng Tp. HCM 21 LN-TH-03 Liên Nghĩa – Lâm Đồng
7 NK-ĐL-07 Cảng Tp. HCM 22 HA-AD-01 Hiệp An – Lâm Đồng
8 NK-ĐL-08 Cảng Tp. HCM 23 HA-AD-02 Hiệp An – Lâm Đồng
9 NK-ĐL-09 Cảng Tp. HCM 24 HA-AD-03 Hiệp An – Lâm Đồng
10 NK-ĐL-10 Cảng Tp. HCM 25 ĐL-HF-01 Đà Lạt – Lâm Đồng
11 NK-ĐL-11 Cảng Tp. HCM 26 ĐL-HF-02 Đà Lạt – Lâm Đồng
12 NK-ĐL-12 Cảng Tp. HCM 27 ĐL-HF-03 Đà Lạt – Lâm Đồng
13 NK-ĐL-13 Cảng Tp. HCM 28 ĐS-MH-01 Đạ Sar – Lâm Đồng
14 NK-ĐL-14 Cảng Tp. HCM 29 ĐS-MH-02 Đạ Sar – Lâm Đồng
15 NK-ĐL- 15 Cảng Tp. HCM 30 ĐS-MH-03 Đạ Sar – Lâm Đồng
2.2 Phƣơng pháp nghiên cứu
2.2.1 Điều tra mức độ bệnh vàng lá lan Hồ
Điệp trồng tại Lâm Đồng
Tiến hành điều tra trên bốn giống lan Hồ Điệp,
mỗi giống điều tra 2 vườn theo giai đoạn cây con và
giai đoạn từ xử lý đến ra hoa. Tại tỉnh Lâm Đồng,
tiến hành điều tra cố định tại 3 địa điểm là thị trấn
Liên Nghĩa, xã Hiệp An, xã Hiệp Thạnh. Mỗi địa
điểm điều tra 8 vườn, mỗi vườn điều tra 10 điểm
phân bố đều, mỗi điểm điều tra 20 chậu, định kỳ điều
tra 15 ngày/lần.
Số cây bệnh
TLB(%) = x100
Tổng số cây điều tra
2.2.2 Định danh loài nấm Fusarium sp. theo
đặc điểm hình thái
Mẫu lan Hồ Điệp có triệu chứng vàng lá
được thu thập và phân lập nấm từ mô cây
theo phương pháp của Su và cộng sự (2010).
Chọn lá có vết bệnh mới xuất hiện. Rửa mẫu
bệnh dưới vòi nước sạch để loại bỏ đất và bụi
bẩn. Dùng kéo cắt mẫu lá thành từng miếng
nhỏ tại phần tiếp giáp giữa mô khỏe và mô
bệnh kích thước 1 × 1 mm. Khử trùng bề mặt
bằng natri hypochlorite 1% trong 1 phút, rửa lại
bằng nước vô trùng 3 lần. Dùng panh đặt mẫu
lá bị bệnh đã được khử trùng lên môi trường
WA. Sau khi cấy, đặt ngược đĩa Petri để tránh
đọng hơi nước trên bề mặt môi trường cấy và
để ở nhiệt độ phòng. Sau khi nấm mọc, tiếp tục
cấy truyền đỉnh sợi nấm từ các tản nấm mọc lên
từ lần phân lập đầu tiên sang môi trường PGA để
tạo mẫu thuần.
Định danh loài Fusarium sp. theo phương
pháp của Burgess và cộng sự (1994). Các đặc
điểm cần theo dõi: đường kính tản nấm trung
bình trên môi trường PDA, sau 3 ngày nuôi cấy
ở 25 và 30
o
C trong điều kiện tối hoàn toàn. Mô
tả đặc điểm hình thái và màu sắc tản nấm sau
14 ngày nuôi cấy ở điều kiện nhiệt độ ở 25
o
C,
12 giờ sáng xen kẽ 12 giờ tối ở mặt trên và mặt
dưới đĩa môi trường. Quan sát hình thái bào tử
và cành bào tử ở điều kiện nhiệt độ ở 25
o
C, 12
giờ sáng xen kẽ 12 giờ tối trên môi trường CLA
(lá cẩm chướng tiệt trùng và WA 2%). Đo kích
thước bào tử dưới kính hiển vi.
Kiểm chứng loài Fusarium sp. gây bệnh vàng
lá sau phân lập theo quy tắc Koch bằng phương
pháp lây bệnh nhân tạo có gây vết thương. Thí
nghiệm được tiến hành trên giống lan Hồ Điệp
hoa màu trắng theo phương pháp của Su và cộng
sự (2010). Bào tử nấm của 2 nguồn phân lập từ
Lâm Đồng mẫu TT-AP-01 và mẫu nhập khẩu từ
Đài Loan mẫu NK-ĐL-09 được thu từ tản nấm 14
ngày nuôi cấy trên môi trường với nồng độ 1 ×
107 bào tử/ml. Dùng kim số 0 để tạo một vết
thương tại bẹ lá, dùng bông gòn vô trùng có
đường kính 3 cm được làm ướt trong dung dịch
bào tử nấm 10 giây và đặt lên vết thương nhân
tạo. Cố định cuộn bông trên bẹ lá bằng băng keo
trong. Cuộn bông được làm ướt trong nước cất vô
trùng và được dùng để làm đối chứng. Tất cả
Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 1/2018
5
những cây chủng bệnh được phủ lên một lớp
nhựa trong 24 giờ để duy trì độ ẩm không khí và
sau đó đặt trong khu vực thí nghiệm.
Số cây bệnh
TLB(%) = x100
Tổng số cây điều tra
2.2.3 Định danh loài nấm Fusarium sp. dựa
vào trình tự vùng ITS – rDNA
Nấm sau khi phân lập được nuôi cấy trên môi
trường PDA và tăng sinh khối trong môi trường PDA
lỏng. Sau 3 tuần, sinh khối nấm thu được tiến hành
ép khô và chiết suất DNA tổng số bằng phương
pháp SDS của Lee và cộng sự (1988) có cải tiến.
Dung dịch đồng nhất mẫu chứa Tris-HCl 1M, NaCl
1,2M, EDTA 0,5M, SDS 10% và chuẩn pH = 8. Phần
sinh khối nấm được nghiền bằng Nitơ lỏng. Khối
lượng mẫu cần cho quá trình tách chiết là 50 mg,
mẫu được đặt trong eppendorf 1,5 ml. Hút 600 µl
dung dịch đồng nhất mẫu được thêm vào eppendorf
và trộn đều mẫu. Ủ mẫu ở 65
o
C trong 1 giờ, ly tâm
12000 vòng/phút trong 15 phút. Phần dịch nổi được
chiết xuất với Phenol/Chloroform/Isoamyl alcohol
(25:24:1), tiếp tục trộn đều dung dịch. Ly tâm 9000
vòng/phút trong 10 phút ở 25
o
C. Phần dịch nổi tiếp
tục được chiết xuất với Chloroform/Isoamyl alcohol
(24:1). Ly tâm 9000 vòng/phút trong 20 phút ở 25
o
C.
Hút dịch nổi vào eppendorf mới. Thêm 18 µl Sodium
acetate 3M và 360 µl Isopropanol lạnh. Đảo nhẹ
eppendorf. Ly tâm 13000 vòng/phút trong 5 phút ở
4
o
C. Phần dịch nổi được loại bỏ đi. Phần DNA kết
tủa được rửa bằng ethanol 70% lạnh 3 lần. Làm khô
DNA kết tủa, hòa tan DNA với 50 µl TE 1X. DNA
được bảo quản ở - 20
o
C. Kiểm tra DNA tổng số
được thực hiện trên gel agarose 1% ở hiệu điện thế
80V, 250mA, trong 20 phút.
Phản ứng PCR được sử dụng để khuếch đại
DNA tổng số. Thành phần cho 50 µl một phản
ứng PCR bao gồm 25 µl MyTaq
TM
Mix 2X
(Bioline USA Inc. USA), 1 µl mỗi primer có nồng
độ 20 µM và 1 µl DNA mẫu. DNA mẫu được
chiết xuất có nồng độ 200 ng/µl (mỗi phản ứng
PCR chứa 4 ng/µl DNA). Cặp primer được sử
dụng trong nghiên cứu này là ITS1 (5’- TCC GTA
GGT GAA CCT GCG G -3’) và ITS4 (5’- TCC
TCC GCT TAT TGA TAT GC -3’) (White và cộng
sự, 1990). Chu trình nhiệt phản ứng PCR gồm
95
o
C trong 3 phút, 35 chu kì ở 95
o
C trong 1 phút,
60
o
C trong 30 giây, 72
o
C trong 1 phút và kết thúc
ở 72
o
C trong 5 phút. Kết quả PCR được kiểm tra
bằng cách điện di trên gel agarose 1,5%, hiệu
điện thế 80V, 250mA, trong 40 phút.
Sản phẩm sau khi PCR được gửi giải trình tự
hai chiều bằng primer ITS1 và ITS4. Chuỗi trình tự
ban đầu được xử lý bằng phần mềm BioEdit. Trình
tự vùng ITS – rDNA của dòng nấm Fusarium sp.
được so sánh với các dòng nấm Fusarium sp. trên
GenBank sử dụng chương trình BLAST trên NCBI.
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Kết quả điều tra mức độ bệnh vàng lá
lan Hồ Điệp trồng tại Lâm Đồng
Quá trình điều tra ghi nhận triệu chứng bệnh
vàng lá lan Hồ Điệp bắt đầu xuất hiện ở các lá thấp
với vết thối đen tại vị trí bẹ lá. Sau đó, xuất hiện
quầng vàng xung quanh vết bệnh và lan ra đến hết
lá. Bệnh tiếp tục phát triển dẫn đến rụng lá, cuối
cùng nấm ăn sâu vào thân làm cây tàn lụi và chết
(hình 1). Bệnh vàng lá xuất hiện từ tháng 3 đến
tháng cuối tháng 8 tại Lâm Đồng với giai đoạn cây
con và giai đoạn từ xử lý đến ra hoa đều có xu
hướng tăng dần theo thời gian (hình 2). Tỷ lệ bệnh
vàng lá lan Hồ Điệp ở giai đoạn cây con và giai đoạn
từ xử lý đến ra hoa trên các vườn lan từ 0 – 5,2%.
Trong đó, tỷ lệ bệnh vàng lá trên giống lan Hồ Điệp
hoa màu trắng đạt tỷ lệ cao nhất (0,3 – 5,2%) tiếp
đến là giống lan Hồ Điệp hoa màu vàng (0,3 –
4,0%), giống lan Hồ Điệp hoa màu tím và hồng phấn
đạt tỷ lệ bệnh vàng lá thấp nhất (0 – 3,3%). Mặt
khác, khi xét từng giai đoạn phát triển của lan Hồ
Điệp thì giai đoạn từ xử lý đến ra hoa có tỷ lệ bệnh
vàng lá cao hơn so với giai đoạn cây con, sự chênh
lệch cao nhất là 1,3% vào thời điểm giữa tháng 6
trên giống lan Hồ Điệp có hoa màu trắng.
Hình 1. Triệu chứng bệnh vàng lá trên lan Hồ Điệp
Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 1/2018
6
Hình 2. Tỷ lệ bệnh vàng lá trên bốn giống lan Hồ Điệp cho hoa màu trắng,
vàng, tím, hồng ở các giai đoạn
3.2 Định danh nấm Fusarium sp. theo đặc
điểm hình thái
Sau 3 ngày nuôi cấy trong điều kiện tối
hoàn toàn trên môi trường PDA, đường kính
trung bình tản nấm ở nhiệt độ 25
o
C của các
mẫu Fusarium sp. lấy mẫu tại khu vực Cảng
Tp. Hồ Chí Minh là 2,6 cm và tại Lâm Đồng
là 2,58 cm. Ở nhiệt độ 30
o
C đường kính tản
nấm trung bình của các mẫu Fusarium sp.
lấy mẫu tại khu vực Cảng Tp. Hồ Chí Minh
là 3,37 cm và tại Lâm Đồng là 3,34 cm. Kết
quả này phù hợp với khoá định danh của
Burgess và cộng sự (1994) về loài Fusarium
solani là 2,1 – 2,9 cm ở 25
o
C và 2,6 – 3,6
cm ở 30
o
C.
Sau 14 ngày nuôi cấy trên môi trường
PDA ở điều kiện nhiệt độ ở 25
o
C, ánh sáng
12 giờ sáng xen kẽ 12 giờ tối, hình thái tản
nấm đều có màu trắng đến trắng kem, sợi
nấm màu trắng mọc vươn cao hoặc mọc
thưa sát trên bề mặt môi trường. Tất cả các
mẫu nấm này được nuôi cấy trên môi trường
CLA để tiến hành quan sát và ghi nhận các
đặc điểm về chiều dài, chiều rộng, số vách
ngăn của bào tử nhỏ, bào tử lớn và đo
đường kính bào tử hậu.
Từ 30 mẫu phân lập được cho thấy màu
sắc tản nấm và kích thước bào tử ở tất cả các
mẫu tương đối giống nhau. Chọn một mẫu đại
diện ở các lô lan Hồ Điệp nhập khẩu từ Đài
Loan (NK-ĐL-09) và một mẫu đại diện ở các lô
thu thập từ Lâm Đồng (TT-AP-01), tiến hành
định danh hai mẫu được chọn dựa trên đặc
điểm hình thái, màu sắc tản nấm trên môi
trường PDA và đặc điểm bào tử trên môi
trường CLA. Những đặc điểm trên giúp định
danh phân loài thuộc chi Fusarium với những
đặc trưng của từng loài.
Đặc điểm nấm Fusarium sp. Mẫu TT-AP-01
và NK-ĐL-09 (hình 3) có tản nấm màu trắng,
sợi nấm trắng mọc nhô cao ở tâm và thấp dần
ra thành đĩa, mặt sau tản nấm có màu trắng,
về sau ở tâm có màu vàng nâu. Trên kính
hiển vi, sợi nấm trong suốt, phân nhánh có
vách ngăn. Cành bào tử dài, không phân
nhánh, bào tử nhỏ đính trên cành bào tử dạng
như bọc giả. Bào tử nhỏ được sản sinh nhiều
sau 4 ngày nuôi cấy, có 1 hoặc 2 vách ngăn,
hình bầu dục, hay hình quả thận, kích thước
trung bình khoảng 12,00 ± 2,89 µm × 4,71 ±
0,54 µm. Bào tử lớn hơi cong đến thẳng có 3
hoặc 4 vách ngăn, phần đầu tròn, phần cuối
có vết khía hình chữ V gần cuối, kích thước
trung bình khoảng 31,83 ± 3,34 µm × 5,63 ±
0,64 µm. Bào tử hậu hình thành sau 2 tuần
nuôi cấy có màu nâu, hình cầu, vách trơn
nhẵn, mọc đơn hoặc đôi ở đầu sợi nấm hoặc
giữa sợi nấm, kích thước trung bình khoảng
5,83 ± 0,89 µm.
Theo mô tả tản nấm, sợi nấm và bào tử
của Burgess và cộng sự (1994), mẫu TT-
AP-01 và NK- ĐL-09 có những đặc điểm
tương đồng với mô tả về loài nấm Fusarium
solani.
Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 1/2018
7
Hình 3. Màu sắc nấm Fusarium solani trên môi trƣờng PDA và đặc điểm hình thái bào tử trên
môi trƣờng CLA ở vật kính 40X
(A): mặt trên tản nấm; (B): mặt dưới tản nấm; (C): cành đính bào tử dạng bọc giả; (D): bào tử nhỏ có một
vách ngăn; (E): bào tử lớn có 4 vách ngăn; (F): bào tử hậu dạng đơn hình thành giữa sợi nấm.
Kiểm chứng loài Fusarium solani gây bệnh
vàng lá sau phân lập theo quy tắc Koch bằng
phương pháp lây bệnh nhân tạo có gây vết
thương cho thấy tỷ lệ vàng lá tăng dần sau 3, 5
và 10 ngày lây nhiễm (mẫu NK-ĐL-09: 57,5%,
92,5%, 100%, mẫu TT-AP-01: 45,0%, 90%,
100%). Tất cả các cây được lây bệnh nhận tạo
đều có bệnh vàng lá và đạt tỷ lệ vàng lá 100%
sau 10 ngày lây nhiễm. Đối với mẫu đối chứng
không xuất hiện bệnh vàng lá.
3.3 Định danh nấm Fusarium sp. dựa vào
trình tự vùng ITS – rDNA
Kết quả điện di sản phẩm PCR với cặp primer
ITS1/ITS4 cho thấy mẫu S-NK-ĐL-09 và mẫu S-
TT-AP-01 đều cho băng có kích thước khoảng
900 bp (hình 4).
Kết quả giải trình tự hai chiều vùng ITS –
rDNA với cặp primer ITS1/ITS4 của hai mẫu nấm
S-NK-ĐL-09 và S-TT-AP-01 sau khi được xử lý
bằng phần mềm Bio Edit có chiều dài lần lượt là
882 và 900 bp.
Hình 4. Kết quả điện di sản phẩm PCR của hai
mẫu nấm Fusarium sp. trên gel agarose 1,5%,
hiệu điện thế 80V, 250mA, trong 40 phút.
1: mẫu S-TT-AP-01; 2: mẫu S-NK-ĐL-09; M:
DNA Ladder (100 - 1000 bp Bioline, UK)
Trình tự hai mẫu nấm Fusarium sp. được so
sánh độ tương đồng với các trình tự Fusarium
sp. đã được công bố trên GenBank bằng công cụ
Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 1/2018
8
BLAST của NCBI. Cả hai mẫu nấm S-NK-ĐL-09
và mẫu S-TT-AP-01 đều có độ tương đồng 99%
với Fusarium solani được Sharma và cộng sự
phân lập tại khu vực miền Tây Ấn Độ có mã số
Ngân hàng gen KU872821.1. Tuy nhiên, độ bao
phủ của mẫu S-TT-AP-01 so với F. solani có mã
KU872821.1 đạt 100%, trong khi đó mẫu S-NK-
ĐL-09 so với F. solani có mã KU872821.1 chỉ có
98%. Như vậy, với độ tương đồng cao 99% có
thể khẳng định rằng mẫu nấm Fusarium sp. gây
bệnh vàng lá lan Hồ Điệp là loài F. solani.
3. KẾT LUẬN
Tỷ lệ bệnh vàng lá lan Hồ Điệp tại Lâm Đồng
dao động từ 0 – 5,2% và tăng dần từ tháng 3
đến tháng 8.
Các giống lan Hồ Điệp hoa màu trắng có tỷ lệ
bệnh vàng lá cao nhất (0,3 – 5,2%), tiếp đến là giống
lan Hồ Điệp có hoa màu vàng (0,3 – 4,0%) và thấp
nhất là giống hoa màu tím và hồng phấn (0 – 3,3%).
Giai đoạn từ xử lý đến ra hoa có tỷ lệ bệnh vàng lá
cao hơn so với giai đoạn cây con.
Dựa vào đặc điểm sinh học, hình thái học và
trình tự vùng ITS – rDNA của nấm Fusarium sp.
đã xác định được tác nhân gây ra bệnh vàng lá
lan Hồ Điệp là loài nấm Fusarium solani.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Burgess, W.L., B.A. Summerrel, S. Bullock,
K.P. Gott, and D. Backhouse, 1994. Laboratory
Manual for Fusarium Research. 3
rd
edition, University
of Sydney, Australia, 133 pages.
2. Lee, S.B., M.G. Milgroom, and J.W. Taylor,
1988. A rapid, high yield mini-prep method for isolation
of total genomic DNA from fungi. Fungal Genetics
Reports: Vol. 35, Article 11.
3. Nguyễn Quang Thạch, Nguyễn Thị Lý Anh,
Nguyễn Thị Lâm Hải, 2005. Lan Hồ Điệp – Kỹ thuật
chọn tạo, nhân giống và nuôi trồng. Nhà xuất bản
Nông nghiệp, Hà Nội, Việt Nam, 40 trang.
4. Shivas, R.G., and D.R. Beasley, 2005.
Management of plant pathogen collections.
Commonwealth Publishing, Australia, 85 pages.
5. Su, J.F., Y.C. Lee, C.W. Chen, T.F. Hsieh, and
J.H. Huang, 2010. Sheath and Root Rot of
Phalaenopsis Caused by Fusarium solani. Acta
horticulturae Journal, 878: 389 – 397.
6. White, T.J., T.D. Bruns, S.B. Lee, and J.W.
Taylor, 1990. Amplification and direct sequencing of
fungal ribosomal RNA Genes for phylogenetics. In:
PCR-Protocols and Applications, pp: 315–322. Innis,
N., D. Gelfand, J. Sninsky and T. White (eds.). A
Laboratory Manual. Academic Press, New York, USA.
Phản biện: TS. Trịnh Xuân Hoạt
HIỆU LỰC CỦA MỘT SỐ THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT HÓA HỌC TRỪ NẤM
ĐỐI VỚI BỆNH RỤNG LÁ CAO SU (Corynespora cassiicola)
TRÊN ĐỒNG RUỘNG TẠI THỪA THIÊN HUẾ
Field Efficacy of Chemical Fungicides on Rubber Leaf Fall Disease
(Corynespora cassiicola) in Thua Thien Hue Province, Vietnam
Trần Đăng Hòa
1
, Lê Khắc Phúc
1
và Ngô Thạch Quỳnh Huyên
2
Ngày nhận bài: 07.12.2017 Ngày chấp nhận:18.12.2017
Abstract
Field experiments were conducted in order to evaluate the efficacy of four chemical fungicides difenoconazole
(Score 250EC), difenoconazole + propiconazole (Tilt Super 300EC), epoxiconazole (Opus 75EC), tebuconazole
(Nativo 750WG) for controling rubber leaf fall disease (Corynespora cassiicola (Berk. & Curt.) Wei) in Thua Thien
Hue province, Vietnam. The results shows that all four
tested fungicies were efficacy against the rubber leaf fall
disease. The efficacy was high with Score 250EC (64.4
- 69.9%) and Tilt Super 300EC (55.4 - 69.4%) on rubber
planted at both two different ecological zones, e.g.
1. Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế
2. Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Phú Yên
Các file đính kèm theo tài liệu này:
xac_dinh_loai_nam_fusarium_sp_gay_benh_vang_la_lan_ho_diep_p.pdf