Yếu tố tác động ý định lau mát hạ sốt cho trẻ của điều dưỡng nhi theo mô hình học thuyết hành vi hoạch định

Học thuyết hành vi hoạch định đã được sử dụng để tìm sự tác động của các yếu tố lên ý định hành vi trong nhiều nghiên cứu. Đây là nghiên cứu đầu tiên áp dụng học thuyết này để xác định yếu tố ảnh hưởng đến ý định hành vi lau mát hạ sốt cho trẻ của điều dưỡng nhi. Điều dưỡng nào có khả năng kiểm soát cao hành vi lau mát và từng lau mát hạ sốt cho trẻ thì ý định lau mát hạ sốt của họ sẽ cao. Các nghiên cứu khác cũng đã tìm ra kết qua tương tự như là xét mối ảnh hưởng của khả năng kiểm soát hành vi lên ý định sử dụng bảng hướng dẫn kỹ thuật lâm sàng(14) tổng hợp thực hành chứng cứ(7) và nhiều hành vi sức khỏe khác(8). Hành vi lau mát trong quá khứ của điều dưỡng tuy chỉ góp phần giải thích thêm 3% ý định nhưng lại có ý nghĩa thống kê nên việc bổ sung cấu trúc này vào mô hình cần được xem xét như một số tác giả đã từng đề nghị(7,2,11). Thái độ và tác nhân ảnh hưởng không có ý nghĩa thống kê giải thích ý định vì điều dưỡng tin rằng họ đang theo đúng kỹ thuật và những người quan trọng đối với họ đều ủng hộ thực hành này. Kết quả của nghiên cứu thể hiện phạm vi thực hành hạ sốt của điều dưỡng nhi tại Việt Nam. Lau mát bằng nước ấm được xem là một kỹ thuật đúng để xử trí hạ sốt cho trẻ và có quy trình hướng dẫn thực hiện kỹ thuật trong các trường đào tạo điều dưỡng và bệnh viện nhi. Tuy nhiên việc lau mát không được khuyến khích thực hiện trong các tài liệu chứng cứ khoa học gần đây(13,17,6). Lau mát chỉ có tác dụng hạ nhiệt ngoại biên, thân nhiệt trung tâm giảm không đáng kể mà còn gây khó chịu cho trẻ như quấy khóc, kích động làm tăng thân nhiệt(18). Mặt khác, lau mát bằng nước ấm là một kỹ thuật khá tốn thời gian trong khi điều dưỡng nhi rất tất bật với các kỹ thuật chăm sóc quan trọng khác. Điều dưỡng thường hướng dẫn cha mẹ lau mát hạ sốt, tuy nhiên việc theo dõi giám sát cha mẹ thực hiện đúng kỹ thuật thì còn hạn chế khi có trường hợp cha mẹ nghe chỉ dẫn “lau mát” nghĩ đến dùng nước mát để lau khắp người trẻ. Nếu điều này xảy ra sẽ làm cho trẻ dễ bị nhiễm lạnh, co mạch và thân nhiệt tăng. Vì những lý do trên, các hướng dẫn xử trí hạ sốt cho trẻ nên được xem xét điều chỉnh theo chứng cứ khoa học để đảm bảo chất lượng chăm sóc bệnh nhi.

pdf6 trang | Chia sẻ: hachi492 | Ngày: 26/01/2022 | Lượt xem: 97 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Yếu tố tác động ý định lau mát hạ sốt cho trẻ của điều dưỡng nhi theo mô hình học thuyết hành vi hoạch định, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 4 * 2014 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Nhi khoa 87 YẾU TỐ TÁC ĐỘNG Ý ĐỊNH LAU MÁT HẠ SỐT CHO TRẺ CỦA ĐIỀU DƯỠNG NHI THEO MÔ HÌNH HỌC THUYẾT HÀNH VI HOẠCH ĐỊNH Trần Thụy Khánh Linh*, Đoàn Thị Kim Thoa*, Anne Walsh**, Helen Edwards** TÓM TẮT Đại cương: Tài liệu hướng dẫn thực hành xử trí sốt đã được phổ biến và không ủng hộ việc dùng thuốc hạ sốt thường xuyên hoặc lau mát bằng nước ấm. Tuy nhiên, điều dưỡng nhi ở các nước, kể cả Việt Nam, thường rất quan tâm vấn đề trẻ sốt và xử trí sốt của họ không phải lúc nào cũng dựa trên khoa học chứng cứ. Mục tiêu: Áp dụng học thuyết hành vi hoạch định để xác định các yếu tố tác động đến ý định thực hiện lau mát bằng nước ấm của điều dưỡng nhi. Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang được tiến hành tại 4 khoa nội của các bệnh viện nhi thành phố Hồ Chí Minh. Phương pháp lấy mẫu thuận tiện trên 240 điều dưỡng nhi có chăm sóc trẻ sốt. Bảng câu hỏi khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến ý định lau mát bằng nước ấm cho trẻ sốt. Các yếu tố bao gồm: thái độ, tác nhân xã hội, khả năng tự kiểm soát hành vi, hành vi quá khứ và thông tin dịch tễ học. Kết quả: Mô hình xác định rằng điều dưỡng có khả năng kiểm soát hành vi cao, đã từng lau mát nước ấm hạ sốt thì ý định thực hiện của họ cao (mô hình giải thích 80% phương sai ý định). Hành vi quá khứ giải thích thêm 3% phương sai ý định của điều dưỡng. Thái độ và tác nhân xã hội không có ý nghĩa thống kê giải thích ý định hành vi của điều dưỡng. Kết luận: Việc xác định các yếu tố tác động đến ý định lau mát bằng nước ấm cho trẻ sốt của điều dưỡng theo mô hình học thuyết hành vi hoạch định đưa ra thông tin quan trọng để phát triển chiến lược nâng cao thực hành xử trí trẻ sốt dựa trên khoa học chứng cứ của điều dưỡng Việt Nam. Can thiệp nên chú trọng đến việc điều chỉnh tóm tắt các quy trình kỹ thuật dựa trên khoa học chứng cứ cho điều dưỡng, phổ biến các quy trình này và nâng cao kỹ năng truy cứu thông tin của điều dưỡng để họ cập nhật kiến thức và tự tin kiểm soát được các quyết định trong chăm sóc bệnh nhi. Từ khóa: trẻ, xử trí sốt, điều dưỡng nhi, lau mát nước ấm, học thuyết hành vi hoạch định. ABSTRACT IDENTIFYING FACTORS INFLUENCING NURSES’ INTENTION TO TEPID SPONGE BY USING THE THEORY OF PLANNED BEHAVIOUR Tran Thuy Khanh Linh, Doan Thi Kim Thoa, Anne Walsh, Helen Edwards * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 - Supplement of No 4- 2014: 87 – 92 Background: Evidence-based guidelines regarding fever management have been published and they do not support regular antipyretic or tepid sponging. However, nurses are concerned about the child’s fever and their fever management is not always based on the latest scientific evidence in many countries including Vietnam. Objectives: Using the theory of planned behaviour to identify factors influencing Vietnamese nurses’ intention to reduce the child’s fever by tepid sponging. Methods: Across-sectional study was conducted at four medical wards of two children’s hospitals in Ho Chi * Đại học Y Dược TP.HCM, **Đại học Công Nghệ Queensland, Úc Tác giả liên lạc: TS.Trần Thụy Khánh Linh ĐT: 08 38 57 07 60 Email: linhtran.ump@gmail.com Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 4 * 2014 Chuyên Đề Nhi khoa 88 Minh City. The study sample comprised a convenience sample of 240 nurses who care for febrile children. The questionnaire assessed factors influencing nurses’ intention to tepid sponge febrile children including attitude, subjective norm, perceived behavioural control, past behaviour and additional demographic information. Results: Predictive modelling of intentions showed that nurses who had control over and had previously tepid sponged had stronger intentions to do so (80% of the variance was explained). Past behaviour predicted further 3% of variance in nurses intention to tepid sponge. Attitude and subjective norms did not significantly predict nurses’ intention. Conclusions: Identification of predictors of intentions to tepid sponge febrile children by using the theory of planned behaviour provides important information for developing strategies to improve Vietnamese nurses’ fever management practices based on latest scientific evidence. Strategic interventions should focus on modifying and summarising evidence-based guidelines for the nurses, publishing these summarised guidelines and increasing nurses access to evidence-based practices so that they can update their knowledge and indeed have control over their decisions when caring for patients. Key words: child, fever management, paediatric nurse, tepid sponge, theory of planned behavior. ĐẠI CƯƠNG Sốt là một triệu chứng thường gặp ở trẻ em trong thời kỳ từ 6 tháng đến 5 tuổi. Trong thời kỳ này trẻ dễ mắc bệnh nhiễm khuẩn thông thường vì không còn nhận được miễn dịch từ mẹ truyền sang (sau 6 tháng) đến khi hệ miễn dịch phát triển hoàn chỉnh (bước qua tuổi thứ 6). Sốt thường liên quan đến các bệnh nhiễm khuẩn và là một trong những nguyên nhân làm cho cha mẹ đưa trẻ đến khám tại các cơ sở y tế(9). Mặc dù sốt là một phản ứng có lợi của cơ thể chống lại tác nhân gây bệnh(5) và nhiều tài liệu đã chứng minh rằng trẻ không được hạ sốt thường xuyên sẽ nhanh khỏi bệnh và ít có nguy cơ dị ứng khi lớn(19). Tuy nhiên, nhiệt độ sốt thường là mối quan tâm của điều dưỡng khi họ tin rằng cần phải hạ sốt để ngăn ngừa tác hại của sốt như là co giật và tổn thương não(16,15). Thực hành xử trí sốt của điều dưỡng đã không dựa trên chứng cứ tại nhiều nơi trên thế giới kể cả Việt Nam. Lau mát bằng nước ấm là thực hành xử trí sốt của điều dưỡng không được khuyến khích trong các y văn khoa học chứng cứ(13,17). Tài liệu hướng dẫn rằng lau mát bằng nước ấm tác dụng rất ít để hạ sốt và có thể gây tác dụng ngược lại làm cho trẻ khóc, giẫy giụa và rét run(12). Khi lau mát mà trẻ quấy khóc sẽ tăng hoạt động cơ thể khiến nhiệt độ tăng thêm. Thực hành chăm sóc cần thiết cho trẻ lúc sốt là để trẻ thoáng mát, cung cấp đủ dịch và tạo sự thoải mái cho trẻ. Tại Việt Nam, kiến thức của điều dưỡng về xử trí trẻ sốt không cao (45,7% có kiến thức đúng)(10) và có ý kiến rằng điều dưỡng nhận thông tin trái chiều về cách xử trí sốt cho trẻ(15). Điều dưỡng chia sẻ khi tham dự hội thảo do các điều dưỡng Úc hướng dẫn và được biết lau mát bằng nước ấm để hạ sốt là không cần thiết. Tuy nhiên khi làm việc tại bệnh viện, điều dưỡng vẫn thực hiện lau mát hạ sốt vì họ cho rằng không có y văn nào trong bệnh viện chỉ rõ điều này và điều dưỡng cần thực hành chăm sóc theo quy định của bệnh viện(15). Nghiên cứu này áp dụng học thuyết hành vi hoạch định (Sơ đồ 1) để xác định các yếu tố tác động đến hành vi lau mát của điều dưỡng để hiểu rõ nhu cầu và động cơ của họ từ đó xây dựng chiến lược chương trình can thiệp phù hợp. Theo Ajzen, ý định thực hiện hành vi chịu tác động bởi thái độ tích cực hoặc tiêu cực, tác nhân ủng hộ hoặc phản đối và khả năng tự kiểm soát hành vi bản thân(1). Ngoài ba yếu tố tác động này, một số nghiên cứu xác định rằng hành vi của một người đều có lý do và hành vi trong quá khứ cũng góp phần quan trọng tác động ý định thực hiện hành vi hiện tại(3,4). Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 4 * 2014 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Nhi khoa 89 Sơ đồ 1: Mô hình xác định yếu tố tác động đến ý định lau mát nước ấm hạ sốt của điều dưỡng PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Nghiên cứu cắt ngang, phương pháp lấy mẫu thuận tiện tại các khoa nội của hai bệnh viện nhi đồng, thành phố Hồ Chí Minh, có 240 điều dưỡng thỏa tiêu chí chọn mẫu đã tham gia nghiên cứu. Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu là điều dưỡng đã từng hoặc đang chăm sóc trẻ sốt trong độ tuổi từ 6 tháng đến 5 tuổi. Công cụ nghiên cứu Để đo lường các yếu tố trong học thuyết hành vi hoạch định, các câu hỏi được xây dựng dựa trên hướng dẫn của Ajzen. Điều dưỡng trả lời mỗi câu hỏi trên thang đo Likert 7 điểm. Thái độ được đo lường bởi 4 cặp tính từ đối nghịch:“tốt – xấu”, “mong muốn – không mong muốn”, “có lợi – có hại” và “quan trọng – không quan trọng”. Tác nhân ảnh hưởng được xác định qua 2 câu hỏi:“Những người quan trọng với tôi/ Những người tôi tôn trọng ý kiến đều tán thành việc tôi lau mát bệnh nhi khi nhiệt độ trẻ ≥ 38.5°C”. Khả năng tự kiểm soát bản thân được đo lường bởi 2 câu hỏi: “Trong tuần tới, tôi tự tin rằng tôi có thể/ tôi hoàn toàn kiểm soát được việc lau mát cho bệnh nhi khi nhiệt độ trẻ ≥ 38.5°C”. Hành vi quá khứ được xác định qua câu hỏi: “Trong 4 tuần qua, tôi thường lau mát cho bệnh nhi khi nhiệt độ trẻ ≥ 38,5°C”. Ý định được đo lường bởi 3 câu hỏi: “Trong tuần tới, tôi có ý định/ dự kiến/ mong là sẽ lau mát cho bệnh nhi khi nhiệt độ trẻ ≥ 38,5°C”. Ngoài ra, bộ công cụ có những câu hỏi về kiến thức của điều dưỡng về sinh lý trẻ sốt và cách xử trí sốt. Thông tin dịch tễ như là tuổi, trình độ chuyên môn và kinh nghiệm chăm sóc trẻ cũng được xác định. Bộ câu hỏi được đánh giá tính giá trị nội dung bởi 5 chuyên gia trong lĩnh vực điều dưỡng nhi và thiết kế công cụ theo học thuyết hành vi. Sau đó được thử nghiệm trên 5 điều dưỡng theo tiêu chuẩn chọn mẫu. Các điều dưỡng này sẽ trả lời thử bộ câu hỏi và đưa ra ý kiến của họ về thời gian hoàn thành câu hỏi, từ ngữ sử dụng trong phần hướng dẫn, mức độ dễ hiểu và cấu trúc của từng câu hỏi. Sau khi được đánh giá và thử nghiệm, bộ công cụ được điều chỉnh và hoàn thiện để khảo sát chính thức trên 240 điều dưỡng. Đạo đức nghiên cứu Hội đồng đạo đức của Đại học Công nghệ Queensland và Hội đồng khoa học Bệnh viện địa phương phê duyệt và chấp thuận nghiên cứu được tiến hành thu thập số liệu. Các điều dưỡng Khả năng tự kiểm soát hành vi Thái độ đối với hành vi Tác nhân ảnh hưởng Ý định lau mát nước ấm hạ sốt Hành vi quá khứ Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 4 * 2014 Chuyên Đề Nhi khoa 90 tham gia nghiên cứu được giải thích thông tin về mục đích nghiên cứu và quy trình thu thập số liệu. Sự tham gia của họ là hoàn toàn tự nguyện và danh tính không xác định. Nội dung trả lời của họ được giữ bảo mật, chỉ được xem qua và phân tích bởi các nghiên cứu viên. Phân tích kết quả Mô hình hồi quy tuyến tính bội thứ bậc (hierarchical regression) được xây dựng với biến số phụ thuộc là ý định thực hiện hành vi. Trong mô hình bậc 1, các biến số độc lập đưa vào kiểm định là tuổi, trình độ chuyên môn, kinh nghiệm chăm sóc trẻ và kiến thức xử trí trẻ sốt của điều dưỡng. Mô hình bậc 2 gồm các biến số độc lập như mô hình 1 và giá trị trung bình của các yếu tố gồm thái độ, tác nhân ảnh hưởng và khả năng tự kiểm soát bản thân trong học thuyết hành vi hoạch định. Mô hình bậc 3 có thêm biến số độc lập là hành vi quá khứ. Độ phù hợp của mô hình được đánh giá qua giá trị R2 điều chỉnh (adjusted R2) và sự đóng góp của từng biến độc lập đối với biến phụ thuộc được đánh giá qua hệ số hồi quy riêng phần β. KẾT QUẢ Điều dưỡng tham gia nghiên cứu này trong độ tuổi từ 21 đến 55 (Mean= 31,45, SD= 8,18). Đa số là điều dưỡng trung học (92%), kinh nghiệm chăm sóc trẻ từ 1 tháng đến 34 năm (Mean= 8,46, SD= 7,77). Kiến thức của điều dưỡng được đánh giá qua 28 câu hỏi tổng hợp kiến thức về sốt, sốt cao co giật và xử trí sốt. Kiến thức của điều dưỡng còn rất hạn chế, điểm kiến thức đúng trong khoảng 4 đến 17 (Mean= 10,46, SD= 2,70). Chi tiết kiến thức không trình bày trong bài viết này. Bảng 1 trình bày giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, hệ số Cronbach’s alpha (nếu có), hệ số tương quan của các biến số phụ thuộc và từng biến độc lập, cũng như tương quan giữa các biến độc lập với nhau. Bảng 1: Giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, hệ số tương quan giữa các biến độc lập với biến phụ thuộc (N=240) Biến số 1. 2. 3. 4. 5. 6. 7. 8. 9. 1. Tuổi − 2. Trình độa 0,28*** − 3. Kinh nghiệm 0,89*** 0,30*** − 4. Kiến thứcb 0,14* 0,15* 0,11 − 5. Thái độc -0,28*** -0,11 -0,27*** -0,04 − 6. Tác nhân xã hộic -0,28*** -0,15* -0,26*** -0,06 0,62*** − 7. Kiểm soátc -0,20*** -0,15* -0,22** 0.12 0,56*** 0,69*** − 8. Ý địnhc -0,22*** -0,16* -0,23*** 0,12 0,51*** 0,64*** 0,87*** − 9. Hành vi quá khứac -0,27*** -0.11 -0,24*** 0,05 0,51*** 0,64*** 0,63*** 0,69*** − Trung bình 31,45 a 8,46 10,46 5,63 5,43 4,91 4,66 5,05 Độ lệch chuẩn 8,18 a 7,77 2,70 1,37 1,70 1,80 1,92 1,85 Cronbach’s α a a a a 0,86 0,98 0,91 0,96 a *p<0,05, **p<0,01, *** p<0,001, 2 đuôi. aCác biến không có giá trị trung bình, độ lệch chuẩn và hệ số Cronbach’s alpha. bĐiểm trung bình được tính theo tổng điểm 28. cGiá trị trung bình được tính theo thang Likert 7 điểm (1-7; điểm cao mức độ đồng ý cao, quan trọng hơn). Ma trận hệ số tương quan thuận của các yếu tố trong học thuyết hành vi hoạch định cho thấy điều dưỡng có thái độ tích cực, được nhiều người ủng hộ, khả năng tự kiểm soát hành vi cao và từng lau mát thì ý định thực hiện lau mát hạ sốt cho bệnh nhi cao. Tuổi, trình độ chuyên môn và kinh nghiệm tương quan nghịch với ý định thực hiện hành vi nói lên rằng điều dưỡng trẻ, trình độ chuyên môn thấp và ít kinh nghiệm thì ý định lau mát hạ sốt cao. Hệ số tương quan của 2 biến độc lập, tuổi và kinh nghiệm, rất cao (0,89) thể hiện mối tương quan chặt chẽ có thể dẫn đến trạng thái đa cộng tuyến của 2 biến này. Do vậy, tuổi được xem xét loại ra khỏi mô hình hồi quy. Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 4 * 2014 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Nhi khoa 91 Trong mô hình 1, trình độ học vấn và kiến thức có ý nghĩa thống kê giải thích 8% phương sai của ý định lau mát hạ sốt. Mô hình 2 có thêm các biến số trong học thuyết hành vi hoạch định giải thích thêm 68% phương sai ý định lau mát của điều dưỡng. Trong mô hình 2 này, khả năng tự kiểm soát có ý nghĩa thông kê với hệ số β cao (0,82). Mô hình 3 có thêm biến hành vi quá khứ giải thích 80% phương sai của ý định (R2 điều chỉnh= 0,79). Điều này có nghĩa là mô hình 3 đã xây dựng phù hợp với tập dữ liệu ở mức 80%. Trong mô hình cuối cùng này, khả năng tự kiểm soát (β= 0,74) và hành vi quá khứ (β= 0,24) có ý nghĩa thống kê giải thích ý định lau mát hạ sốt của điều dưỡng (Bảng 2). Bảng 2: Hồi quy tuyến tính bội thứ bậc xác định yếu tố tác động đến ý định thực hiện lau mát nước ấm hạ sốt của điểu dưỡng (N=240). Lau mát nước ấm Biến số B β 95% CI for B R2 ∆R2 Bậc 1 Trình độ -0,27 -0,12 [-0,57; 0,03] 0,08** 0,08** Kinh nghiệm -0,05 -0.21** [-0,08; -0,02] Kiến thức 0,11 0,16* [0,02; 0,20] Bậc 2 Trình độ -0,05 -0,02 [-0,21; 0,10] 0,77*** 0,68*** Kinh nghiệm -0,01 -0,03 [-0,02; 0,01] Kiến thức 0,02 0,03 [-0,02; 0,07] Thái độ -0,00 -0,00 [-0,12; 0,11] Tác nhân xã hội 0,07 0,07 [-0,03; 0,18] Kiểm soát 0,87 0,82*** [0,78; 0,97] Bậc 3 Trình độ -0,06 -0,03 [-0,20; 0.08] 0,80*** 0,03*** Kinh nghiệm -0,00 -0,01 [-0,02; 0,01] Kiến thức 0.01 0,02 [-0,03; 0,06] Thái độ -0,04 -0,03 [-0,15; 0.07] Tác nhân xã hội -0,02 -0,02 [-0,13; 0,08] Kiểm soát 0,79 0,74*** [0,70; 0.90] Hành vi quá khứ 0,25 0,24*** [0,17; 0,34] *p<0,05, **p<0,01, *** p<0,001 CI= Confidence Interval (Khoảng tin cậy) BÀN LUẬN Học thuyết hành vi hoạch định đã được sử dụng để tìm sự tác động của các yếu tố lên ý định hành vi trong nhiều nghiên cứu. Đây là nghiên cứu đầu tiên áp dụng học thuyết này để xác định yếu tố ảnh hưởng đến ý định hành vi lau mát hạ sốt cho trẻ của điều dưỡng nhi. Điều dưỡng nào có khả năng kiểm soát cao hành vi lau mát và từng lau mát hạ sốt cho trẻ thì ý định lau mát hạ sốt của họ sẽ cao. Các nghiên cứu khác cũng đã tìm ra kết qua tương tự như là xét mối ảnh hưởng của khả năng kiểm soát hành vi lên ý định sử dụng bảng hướng dẫn kỹ thuật lâm sàng(14) tổng hợp thực hành chứng cứ(7) và nhiều hành vi sức khỏe khác(8). Hành vi lau mát trong quá khứ của điều dưỡng tuy chỉ góp phần giải thích thêm 3% ý định nhưng lại có ý nghĩa thống kê nên việc bổ sung cấu trúc này vào mô hình cần được xem xét như một số tác giả đã từng đề nghị(7,2,11). Thái độ và tác nhân ảnh hưởng không có ý nghĩa thống kê giải thích ý định vì điều dưỡng tin rằng họ đang theo đúng kỹ thuật và những người quan trọng đối với họ đều ủng hộ thực hành này. Kết quả của nghiên cứu thể hiện phạm vi thực hành hạ sốt của điều dưỡng nhi tại Việt Nam. Lau mát bằng nước ấm được xem là một kỹ thuật đúng để xử trí hạ sốt cho trẻ và có quy trình hướng dẫn thực hiện kỹ thuật trong các trường đào tạo điều dưỡng và bệnh viện nhi. Tuy nhiên việc lau mát không được khuyến khích thực hiện trong các tài liệu chứng cứ khoa học gần đây(13,17,6). Lau mát chỉ có tác dụng hạ nhiệt ngoại biên, thân nhiệt trung tâm giảm Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 4 * 2014 Chuyên Đề Nhi khoa 92 không đáng kể mà còn gây khó chịu cho trẻ như quấy khóc, kích động làm tăng thân nhiệt(18). Mặt khác, lau mát bằng nước ấm là một kỹ thuật khá tốn thời gian trong khi điều dưỡng nhi rất tất bật với các kỹ thuật chăm sóc quan trọng khác. Điều dưỡng thường hướng dẫn cha mẹ lau mát hạ sốt, tuy nhiên việc theo dõi giám sát cha mẹ thực hiện đúng kỹ thuật thì còn hạn chế khi có trường hợp cha mẹ nghe chỉ dẫn “lau mát” nghĩ đến dùng nước mát để lau khắp người trẻ. Nếu điều này xảy ra sẽ làm cho trẻ dễ bị nhiễm lạnh, co mạch và thân nhiệt tăng. Vì những lý do trên, các hướng dẫn xử trí hạ sốt cho trẻ nên được xem xét điều chỉnh theo chứng cứ khoa học để đảm bảo chất lượng chăm sóc bệnh nhi. KIẾN NGHỊ Học thuyết hoặc khung lý thuyết trong nghiên cứu điều dưỡng là cơ sở giải thích mối tương quan và sự tác động của các yếu tố với nhau. Học thuyết hành vi hoạch định có thể áp dụng cho các nghiên cứu hành vi khác của điều dưỡng. Ý định lau mát nước ấm hạ sốt của điều dưỡng tham gia nghiên cứu này rất cao và bị tác động mạnh bởi khả năng kiểm soát hành vi có nghĩa là điều dưỡng tự tin hành vi đang thực hiện là đúng và không gây hại. Tuy nhiên hành vi lau mát này không được khuyến khích trong các y văn khoa học thế giới. Từ điều này cho thấy việc cập nhật thông tin, truy cứu tài liệu và bảng hướng dẫn lâm sàng đảm bảo công tác chăm sóc bệnh nhân an toàn chất lượng là rất cấp thiết. Các trường đào tạo điều dưỡng và bệnh viện cần phối hợp chặt chẽ với nhau để xem xét điều chỉnh các bảng quy trình kỹ thuật theo thực hành chứng cứ cho điều dưỡng. Để việc áp dụng thực hành chứng cứ tại các cơ sở y tế và trong cộng đồng địa phương đạt hiệu quả, cần thêm những nghiên cứu kiểm chứng thực hành sao cho phù hợp với hệ thống y tế và điều kiện văn hóa môi trường trong nước. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Ajzen I, Attitudes, personality and behavior. 2nd ed. 2005, New York: Open University Press. 2. Ajzen I, Perceived behavioral control, self-efficacy, locus of control, and the theory of planned behavior. Journal of Applied Social Psychology, 2002. 32(4): p. 665-683. 3. Ajzen I, The theory of planned behavior. Organizational behavior and human decision processes, 1991. 50(2): p. 179-211. 4. Bamberg S, Ajzen I, and Schmidt P, Choice of travel mode in the theory of planned behavior: the roles of past behavior, habit, and reasoned action. Basic and applied social psychology, 2003. 25(3): p. 175-187. 5. Blatteis CM, Endotoxic fever: New concepts of its regulation suggest new approaches to its management. Pharmacology & Therapeutics, 2006. 111(1): p. 194-223. 6. Chiappini E et al, Update of the 2009 Italian pediatric society guidelines about management of fever in children. Clinical Therapeutics, 2012. 34(7): p. 1648-1653.e3. 7. Côté F et al, Using the Theory of Planned Behaviour to predict nurses’ intention to integrate research evidence into clinical decision- making. Journal of Advanced Nursing, 2012. 68(10): p. 2289- 2298. 8. Godin, G. and G. Kok, The theory of planned behavior: a review of its applications to health-related behaviors. 1996. 9. Hay AD et al., The prevalence of symptoms and consultations in pre-school children in the Avon Longitudinal Study of Parents and Children (ALSPAC): a prospective cohort study. Family Practice, 2005. 22(4): p. 367-374. 10. Luong TV, Paediatric nurses' knowledge of fever management. 2011, University of Medicine and Pharmacy: Ho Chi Minh. 11. MacCallum RC and Austin JT, Applications of structural equation modeling in psychological research. Annual Review of Psychology, 2000. 51(1): p. 201-226. 12. Meremikwu M and Oyo-Ita A Physical methods versus drug placebo or no treatment for managing fever in children. Cochrane Database of Systematic Reviews, 2009. 13. NICE, Feverish illness in children. 2013, London, UK: Royal College of Obstetricians and Gynaecologists. 14. Puffer S and Rashidian A, Practice nurses' intentions to use clinical guidelines. Journal of Advanced Nursing, 2004. 47(5): p. 500-509. 15. Tran LTK, Walsh A, and Edwards H, An exploratory study of Vietnamese nurses' practices caring for febrile children, in The 3rd Asian International Conference on Humanized Health Care. 2011: Hanoi Medical University, Hanoi, Vietnam. 16. Walsh AM, Influences on paediatric nurses' management of fever in children hospitalised for a febrile illness. 2003, Queensland University of Technology: Brisbane. 17. Watts R, Robertson J, and Thomas G, Nursing management of fever in children: a systematic review. International Journal of Nursing Practice, 2003. 9(1): p. S1-8. 18. Watts R, Robertson J, and Thomas G, The nursing management of fever in children: a systematic review. The Joanna Briggs Insitute, 2001. 14. 19. Williams LK et al, The relationship between early fever and allergic sensitization at age 6 to 7 years. Journal of Allergy and Clinical Immunology, 2004. 113(2): p. 291-296. Ngày nhận bài báo: 20/6/2014 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 15/7/2014 Ngày bài báo được đăng: 20/08/2014

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfyeu_to_tac_dong_y_dinh_lau_mat_ha_sot_cho_tre_cua_dieu_duong.pdf