Đề tài Chế độ pháp lý về hợp đồng tín dụng ngắn hạn và thực tiễn ỏp dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam (VPBank)

Chính phủ và các Bộ, ngành tạo điều kiện thuận lợi để phát triển các chợ bán đầu giá, chợ buôn bán bất động sản và ban hành các quy định về tỷ suất vốn đầu tư, định mức tiêu hao nguyên vật liệu trong các ngành, lĩnh vực cụ thể để tạo điều kiện cho các cán bộ tín dụng thuậ lợi trong việc thẩm định mức vốn đầu tư và daonh thu, chi phí sản xuất hàng năm. Các Bộ ngành cần hệ thống hoá các thông tin liên quan đến các lĩnh vực mà ngành mình đảm trách, công bố công khai hàng năm qua các tài liệu chuyên ngành giúp cho chủ đầu tư cũng như ngân hàng thuận lợi hơn trong việc thu thập thông tin thẩm định dự án. Cần quy định rõ hơn trách nhiệm của chủ đầu tư và người có thẩm quyền quyết định đầu tư, trách nhiệm của các bên đối với việc thẩm định dự án đầu tư. Đặc biệt là trách nhiệm của các Bộ ngành và các cơ quan có liên quan trong xử lý tài sản bảo đảm và nợ vay tồn đọng. - Bộ Tài chính hướng dẫn miễn giảm thuế và các nghĩa vụ tài chính khác đối với nhà nước khi các NHTM, công ty quản lý nợ và khai thác tài sản của NHTM bán các tài sản bảo đảm nợ vay. - Bộ Tư pháp hướng dẫn, chỉ đạo, đôn đốc cá cơ quan thi hành án bàn giao cho NHTM các tài sản bảo đảm nợ vay đã được Toà án giao cho NHTM để xử lý. Hướng dẫn thủ tục đăng ký, công chứng đối với tài sản bảo đảm nợ vay do các NHTM, công ty Quản lý và khai thác tài sản của NHTM bán theo hinh thức bán đấu giá, bán công khai. - Tổng cục Địa chính, Bộ Xây dựng hướng dẫ theo thẩm quyền về thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với đất và tài sản gắn liền với đất khi NHTM, công ty Quản lý nợ và khai thác tài sản bảo đảm bán tài sản bảo đảm nợ vay.

doc93 trang | Chia sẻ: haianh_nguyen | Ngày: 15/04/2015 | Lượt xem: 662 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Chế độ pháp lý về hợp đồng tín dụng ngắn hạn và thực tiễn ỏp dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam (VPBank), để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
là 1824 triệu đồng, đến quý 1 năm 99 là 2000 tỷ đồng. b. Phương án kinh doanh thời gian tới. Công ty liên tục tiến hành các đợt nhập hàng gối đầu nhau để phục vụ hoạt động kinh doanh, hiện tại đã nhập khẩu 2 lô hàng điện lạnh, điện dân dụng qua ngân hàng Sài Gòn công thương trị giá CIF 1.365.986 USD. Căn cứ vào biểu thuế hàng nhập khẩu tính cho từng loại nhập cụ thể và thuế VAT phải nộp, tổng giá trị của 2 lô hàng là 3.364.818.586 đồng. Do còn thiếu vốn lưu động để thanh toán cho 2 lô hàng trên, công ty trình phương án kinh doanh khả thi khi nhập hàng về tiêu thụ và đề nghị xin vay VPBank 2 tỷ đồng để mua ngoại tệ thanh toán cho khách hàng nước ngoài vf nộp cấc loại thuế khi lấy hàng. Trong phương án kinh doanh, sau khi đã tính hết các chi phí lợi nhuận của phương án kinh doanh 2 lô hàng trên là 172 triệu đồng. Qua tham khảo trên thị trường thì giá bán công ty đưa ra là hợp lý. Công ty dự tính thời gian để kinh doanh 2 lô hàng trên từ 2 đến 3 tháng, vì vậy công ty xin vay với thời hạn 3 tháng, nguồn tiền trả nợ VPBank chính là tiền bán hàng trong hoạt động thương mại của công ty. c. Tình hình kinh doanh 8 tháng đầu năm 1999 của công ty như sau: Theo nguồn báo cáo nhanh của công ty, tình hình tài chính, sản xuất kinh doanh đến ngày xin vay vốn như sau: TSLĐ 17.390 triệu đồng. Tiền mặt, tiền gửi : 490 trđ Các khoản phải thu: 1.870 trđ Hàng hoá tồn kho: 15.000 tr đ NVCSH: 3.600 tr đ Doanh thu: 80.000 trđ Lãi gộp: 2.950 trđ d. Về tình hình tài chính. Một số chỉ tiêu tài chính quý I/99 Tỷ suất tài trợ = NVCSH/ tổng NV = 0.55 Hệ số tài trợ cho thấy mức độ độc lập về tài chính của công ty tương đối ổn định (tiêu chuẩn là 0.3) Tỷ suất thanh toán ngắn hạn = TSLĐ(loại A, TS)/ tổng số nợ ngắn hạn(loại A, mục I, NV) = 2.2 Tỷ suất này > 1, có tiêu chuẩn là 1, thể hiện công ty có đủ khả năng thanh toán các khoản vay ngắn hạn bổ sung VLĐ (phải thanh toán trong vòng 1 năm hay một chu kỳ kinh doanh). Tỷ suất thanh toán vốn lưu động = tổng vốn bằng tiền đồng/ tổng TSLĐ = 0.01 Chỉ tiêu này của công ty tại thời điểm tuy không cao, là khách hàng chiếm dụng vốn do khách hàng chậm trả tiền, hàng hoá dự trữ trong kho lớn. Tuy nhiên khả năng chuyển đổi thành tiền của VLĐ đủ khả năng đáp ứng việc trả nợ vì hàng tồn kho của công ty là mặt hàng đang được tiêu thụ tố (hệ số này tốt nhất từ 0.1 -0.5). Hiện tại công ty mở tài khoản giao dịch và vay vốn tại ngân hàng Sài Gòn công thương- chi nhánh Hà Nội. Theo báo cáo của công ty, hiện tại đang vay tại ngân hàng Sài Gòn công thương 7.1 tỷ đồng. Qua thông tin CIC Hà Nội ngày 26/8/1999, công ty đang có dư nợ 7 tỷ đồng, không có dư nợ quá hạn ở ngân hàng nào. Tài sản cầm cố. Công ty tự nguyện tiếp tục cầm cố toàn bộ lô hàng hương liệu WHITE HAWS do hãng CARGILL (Mỹ) sản xuất thuộc sở hữu của công ty T; Khối lượng 20.000 kg, tổng giá trị 6.400 trđ. Giấy tờ sử hữu gồm có: 1 hoá đơn bán hàng số 030169 ngày 04/05/1999 (do Bộ tài chính phát hành) đứng tên người mua là công ty thương mại T. Hợp đồng mua bán số 260499/HĐKT-T.. giữa CNXNLH thuỷ sản Hạ Long và công ty thương mại T. Nguyên giá lô hương liệu theo hóa đơn 6.400 triệu đồng. Hợp đồng cầm cố toàn bộ lô hàng hương liệu WHITE HAWS giữa công ty thương mại T và VPBank đã được ký tại phòng công chứng nhà nước số 2 ngày 20/5/99 và có giá trị dến 20/11/99 là hợp với thời hạn xin vay của công ty. Lô hàng trên đang được thuê kho và trông giữ tại kho của xí nghiệp vận tải thương mại tại ngõ Hải Châu, Minh Khai, Hà Nội theo hợp đồng số 1905/ HĐGH. Qua những tài liệu trên ta thấy công ty thương mại T đã vay vốn tại VPBank với số tiên 1.500 tr đ, trả lãi hàng tháng đầy đủ, trả nợ gốc đúng hạn và hợp đồng tín dụng đã thanh lý. VPBank cũng đã bảo lãnh nộp thuế nhập khẩu một lần số tiền 670 triệu, hợp đồng bảo lãnh cũng đã được thanh lý. Công ty thương mại T là một doanh nghiệp thành lập và hoạt động kinh doanh cuối năm 1996, có đầy đủ tư cách pháp nhân, có hoạt động kinh doanh thương mại tương đối tốt trong lĩnh vực hàng điện lạnh, điện gia dụng của hãng HITACHI, SHARP và hương liệu phục vụ sản xuất bánh kẹo, bánh gato. Các chủng loại hàng hoá kinh doanh của công ty có thương hiệu nổi tiếng trên thị trường nên khả năng tiêu thụ tương đối ổn định. Hiện tại các loại sản phẩm này được tiêu thụ rộng rãi ở các tỉnh phía bắc qua hệ thống đại lý của công ty. Tình hình tài chính của công ty hiện tại ở trạng thái bình thường, các khoản phải trả hợp lý đối với doanh nghiệp thương mại. Nguồn vốn kinh doanh tăng trưởng tốt và luôn có lãi trong các năm kinh doanh. Biện pháp quản lý trong và sau khi cho vay. Hàng tháng trên yêu cầu công ty báo cáo tình hình hoạt động, phòng tín dụng sẽ kiểm tra hoạt động kinh doanh của công ty qua hệ thống sổ sách và thực tế hoạt động kinh doanh của công ty. Kiểm tra định kỳ hàng tháng hoặc bất thường đối với tài sản cầm cố. Số tiền vay: 1.5 tỷ, thời hạn vay là 3 tháng kể từ ngày nhận nợ đầu tiên. Hình thức giải ngân: Chuyển khoản thanh toán trực tiếp cho các đơn vị thụ hưởng. Tài sản bảo đảm: Toàn bộ lô hàng hương liệu đang cầm cố tại VPBank, tỷ lệ cầm cố là 23%. Ta thấy quá trình thẩm định tại ngân hàng là tương đối đầy đủ và toàn diện, đúng pháp luật song việc đánh giá về phương diện kỹ thuật còn sơ sài do cán bộ tín dụng được đào tạo ở các trường nghiệp vụ kinh tế nên trình độ khoa học kỹ thuật còn hạn chế. Sau khi ghi rõ ý kiến đề xuất, cán bộ tín dụng trình lãnh đạo phòng tín dụng xem xét và trình Tổng giám đốc quyết định cho vay. Sau khi có quyết định cho vay, cán bộ tín dụng soạn thảo hợp đồng tín dụng ngắn hạn trình Tổng giám đốc hoặc người được uỷ quyền để thảo luận và ký hợp đồng với khách hàng. Chúng ta xem xét nội dung hợp đồng tín dụng ngắn hạn được ký kết ngày 21/5/1999 tại ngân hàng VPBank về việc cho vay ngắn hạn với công ty thương mại T. Căn cứ luật các tổ chức tín dụng đã được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khoá X, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 12/12/1999. Căn cứ vào Pháp lệnh hợp đồng kinh tế. Căn cứ quy chế cho vay của tổ chức tín dụng với khách hàng kèm theo quyết định số 324/98/QĐ-NH ngày 30/9/1998 của Thống đốc ngân hàng nhà nước Việt Nam. Căn cứ vào quy chế tín dụng của VPBank đối với khách hàng do Chủ tịch HĐQT NHTMCP các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam ký ngày 10/4/1999. Căn cứ đơn xin vay vốn kiêm giấy nhận nợ số... ngày... Hôm nay, ngày 21/5/1999, chúng tôi gồm có: Bên cho vay: NHTMCP các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam (VPBank) Địa chỉ: Số 4 Dã Tượng- Hoàn Kiếm- Hà Nội Điện thoại:8260634 Fax: 8260182 Người đại diện: Ông Nguyễn Hưng; Chức vụ: P.Tổng giám đốc Bên vay: Công ty TNHH thương mại T Đăng ký kinh doanh số 49687 cấp ngày 29/8/96 tại UBKH- Thành phố Hà Nội. Địa chỉ...... Điện thoại.... Fax........ Người đại diện: Ông..................... Chức vụ........ CMND số......................... cấp ngày........... tại............ Hai bên thoả thuận ký hợp đồng tín dụng, gồm các điều khoản sau đây: Điều 1: Số tiền, thời hạn, mục đích, lãi suất vay. 1.1. Số tiền vay: 1500.000.000 đồng Bằng chữ: Một tỷ năm trăm triệu đồng. 1.2. Thời hạn vay: 3 tháng, kể từ ngày nhận nợ đầu tiên trong đơn xin vay kiêm giấy nhận nợ kèm theo. 1.3. Mục đích vay vốn: Bổ sung vốn lưu động, thanh toán L/C số 2831009LCI 0023 tại VPBank và thuế NK + VAT 1.4. Lãi suất: 1.2% / tháng. Lãi suất trên được tính trên cơ sở tháng 30 ngày (năm 360 ngày). Nếu khách hàng không trả lãi đúng hạn đã quy định thì sẽ bị VPBank phạt chậm trả lãi theo mức 0.06%/ngày tính trên số tiền lãi chầm trả vào ngày phát sinh và kèm theo số ngày chầm trả lãi thực tế. Nếu thời hạn vay trên 1 tháng mà bên vay trả nợ trước hạn khi thời gian vay chua đủ 1 tháng thì sẽ phải trả tiền lãi của cả tháng đó với số tiền đã trả nợ trước hạn. Điều 2. Trách nhiệm của bên vay: Trả lãi hàng tháng cho Bên cho vay vào ngày tròn hàng tháng kể từ ngày nhậ nợ vay và vào ngày cuối kỳ hạn nợ, tính trên số dư nợ thực tế phát sinh. Trả hết nợ gốc và lãi còn lại vào cuối thời hạn nợ. Trường hợp nhận tiền vay bằng loại ngoại tệ nào thì khách hàng có trách nhiệm tự lo nguồn ngoại tệ để trả nợ gốc và lãi cho ngân hàng bằng đúng loại ngoại tệ đó và không yêu cầu VPBank bán ngoại tệ cho mình để trả nợ trừ trường hợp do chính ngân hàng sẵn có nguồn ngoại tệ và sẵn sàng bán cho khách hàng để thu nợ. Điều 3. Tài sản bảo đảm (cầm cố). Lô hương liệu WHITE HAWS của CARGILL thuộc quyền sở hữu của công ty T. trị giá 6.4 tỷ đồng. Chi tiết về tài sản cầm cố, quyền và nghĩa vụ của các bên được quy định cụ thể trong hợp đồng cầm cố (thế chấp, bảo lãnh), ký giữa VPBank và chủ sở hữu tài sản. Trong trường hợp do thiên tai (hoả hoạn, lũ lụt...) hoặc vì bất cứ lý do gì là ảnh hưởng đến giá trị tài sản thế chấp thì bên vay phải có trách nhiệm sử dụng cá tài sản khác để thế chấp đảm bảo giá trị khoản vay. Nếu quá thời hạn đã được thoả thuận mà bên vay chưa trả hết nợ vay thì Bên cho vay có quyền phát mại tài sản của Bên vay để thu hồi nợ cả gốc và lãi. Chi phí phát mại do Bên vay chịu. Nếu số tiền phát mại tài sản thu được không đủ trả nợ thì Bên vay có trách nhiệm trả nốt số tiền còn thiếu cho Bên cho vay. Điều 4. Cam kết của Bên vay. Sử dụng vốn hợp pháp và chấp hành các điều khoản đã thoả thuận ghi trong hợp đồng. Tạo thuận lợi và cung cấp cho Bên cho vay các tài liệu, số liệu liên quan đến kiểm tra đảm bảo nợ vay khi Bên cho vay có yêu cầu. Điều 5. Xử lý vi phạm hợp đồng. 5.1: Khi một trong hai bên vi phạm hợp đồng phải chịu trách nhiệm xử lý ngay khi phát hiện, không chờ đến khi quyết toán hợp đồng. 5.2: Khi Bên cho vay phát hiện Bên vay vi phạm bất cứ điều khoản nào sau đây: Sử dụng vốn vay vào những mục đích làm ăn phi pháp. Dây dưa không trả nợ hoặc bị mất khả năng chi trả. Sử dụng, mua bán hoặc chuyển nhượng tài sản thế chấp trái với quy định của Bên cho vay. Bên vay bị khởi tố trước pháp luật. Bên cho vay có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng và thông báo cho Bên vay biết lý do, đồng thời trích tài khoản tiền gửi của Bên vay để thu nợ, kể cả nợ chưa đến hạn, chuyển nợ quá hạn, xử lý tài sản thế chấp để thu hồi số tiền đã cho vay (cả gốc và lãi). Điều 6. Điều chỉnh và thanh lý hợp đồng. 6.1. Trong khi thực hiện hợp đồng, nếu cần thay đổi các điều khoản đã cam kết, hai bên sẽ bàn bạc để thoả thuận và ký hợp đồng bổ sung. 6.2. Hợp đồng được thanh lý và quyết toán khi các bên đã thực hiện xong các nghĩa vụ và quyền lợi của mình. Điều 7. Thay đổi chủ thể của hợp đồng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bất cứ thời điểm nào mà Bên cho vay cho rằng cần thiết, Bên cho vay có quyền chuyển nhượng khoản nợ theo hợp đồng này cho một tổ chức tài chính tín dụng khác theo quy chế mua bán nợ do NHNN quy định. Trường hợp người vay bị chết (hoặc thay thế người đại diện) thì người thừa kế (hoặc người kế nhiệm) có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng. Điều 8. Hiệu lực của hợp đồng. Hợp đồng được lập thành 3 bản có giá trị ngang nhau và có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký, Bên cho vay giữ 2 bản, Bên vay giữ 1 bản. Nội dung của hợp đồng tín dụng được ký kết tại ngân hàng có tương đối đầy đủ các nội dung theo quy định tại Điều 51- Luật các tổ chức tín dụng. Ngân hàng và khách hàng vay đã thoả thuận rất cụ thể từng điều khoản, đặc biệt là về lãi suất, biện pháp bảo đảm, quyền và nghĩa vụ của các bên, các trường hợp phát sinh nhờ đó mà các điều khoản của hợp đồng là căn cứ quan trọng để giải quyết các tranh chấp phát sinh. 3. Quá trình thực hiện. Sau khi ký kết hợp đồng tín dụng, hai bên đi vào qua trình thực hiện hợp đồng. Đối với ngân hàng đó là việc bảo đảm cho các điều khoản trong hợp đồng được thực hiện đầy đủ, phù hợp với tiến độ của dự án vay vốn. Về cơ bản, quá trình thực hiện bao gồm: 3.1. Giải ngân. Quá trình này nhằm cung cấp cho khách hàng lượng vốn cần thiết như đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng ngắn hạn. Tuỳ theo phương thức vay vốn mà qua trình này diễn ra khác nhau, có thể phát tiền vay một hoặc nhiều lần. Sau mỗi lần nhận tiền vay, khách hàng lập một giấy nhận nợ gửi cho ngân hàng các chứng từ liên quan để tiến hành giải ngân. 3.2. Giám sát Sau khi thực hiện xong quá trình giải ngân, ngân hàng tiến hành thường xuyên hoặc đột xuất kiểm tra tính đúng đắn trong việc sử dụng vốn vay của khách hàng vay, tính hợp pháp của chứng từ và trị giá tài sản bảo đảm. 3.3. Thu hồi nợ Ngân hàng tiến hành thu hồi nợ theo đúng thời hạn trong hợp đồng tín dụng ngắn hạn. Nếu khách hàng chưa có khả năng hoàn trả nợ thì ngân hàng có thể xem xét gia hạn nợ khi khách hàng yêu cầu hoặc có thể thu hồi nợ trước hạn khi khách hàng vi phạm các nguyên tắc vay và sử dụng vốn. Khi rủi ro xảy ra, ngân hàng tiến hành các biện pháp xử lý tài sản bảo đảm tiền vay theo hợp đồng bảo đảm và thu phí, nếu có. 3.4. Thanh lý hợp đồng tín dụng ngắn hạn. Khi khách hàng hoàn thành việc trả nợ gốc và lãi, hai bên ký biên bản thanh lý hợp đồng tín dụng ngắn hạn. Tuỳ từng giai đoạn của việc vay vốn mà ngân hàng căn cứ vào chứng từ gửi về ngân hàng để tiến hành giải ngân. Sau mỗi lần phát tiền vay hai bên lập một giấy nhận nợ, hoặc là đơn xin vay vốn kiêm giấy nhận nợ. CỘNG HOÀ Xà HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Đơn xin vay vốn kiêm giấy nhận nợ Kính gửi: NHTMCP các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam Tên đơn vị vay vốn:............... Họ tên người đại diện:...... Chức vụ:......... ĐT.................. Fax................. Giấy phép thành lập số :....... Do.......... Cấp ngày........ Giấy phép kinh doanh số:........ Do.......... Cấp ngày........ Ngành nghề kinh doanh:................... Số hiệu TK tiền gửi VND................. Tại ngân hàng VPBank Số hiệu TK tiền gửi ngoại tệ............. Tại ngân hàng VPBank Đề nghị NHTMCP các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam (VPBank) cho chúng tôi vay số tiền: Bằng số:......... Bằng chữ:........... Trong đó tiền mặt....... Để dùng vào mục đích:.................. Thời hạn vay...... kể từ ngày.......... đến ngày....... Lãi suất vay........ Có bảo đảm tín dụng là.......... Chúng tôi xin cam kết trả nợ đúng kỳ hạn đã được ngân hàng chấp thuận và chấp hành mọi điều khoản quy định trong Luật các tổ chức tín dụng, các quy định của NHNN và chế độ tín dụng của VPBank. Nếu vi phạm những điều đã cam kết chúng tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm trước cơ quan pháp luật. Nếu đến kỳ hạn trả nợ mà chúng tôi không trả được nợ thì VPBank có quyền phát mại các tài sản đảm bảo tín dụng của chúng tôi để thu hồi nợ. Hà nội ngày...... Kế toán trưởng. Thủ trưởng đơn vị. Khi bên vay đã hoàn toàn trả nợ gốc và lãi, lãi quá hạn, phí (nếu có), hai bên tiến hành thanh lý hợp đồng tín dụng ngắn hạn. 4. Xử lý tài sản bảo đảm Kiên trì mục tiêu xây dựng VPBank thành một trong những ngân hàng bán lẻ hàng đàu tại Việt Nam, VPBank tiếp tục tập trung vào việc cung cấp các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng bán lẻ, hướng mục tiêu phục vụ chính vào các đối tượng khách hàng là doanh nghiệp vừa và nhỏ, các thể nhân.... Trong hoạt động tín dụng, thu hồi nợ,.. ngân hàng đã tích cực đẩy mạnh việc xử lý nợ tồn đọng, khó đòi bằng nhiều biện pháp như xử lý tài sản bảo đảm, đôn đốc khách hàng trả nợ, răn đe giáo dục các con nợ cố tình trây ì,phối hợp với chính quyền, cơ quan nhà nước có thẩm quyền để tiến hành thu nợ.. 5. Giải quyết tranh chấp Trong những năm gân đây, ngân hàng vẫn còn có những tranh chấp với khách hàng không thực hiện đúng với hợp đồng tín dụng, không trả nợ.. nhưng số lượng giải quyết tranh chấp ngày một giảm dần. Một số vi phạm hợp đồng xảy ra được hai bên thương lượng giải quyết và ghi rõ trong hợp đồng tín dụng ngắn hạn trên cơ sở bình đẳng và cùng có lợi. Mặt khác, ngân hàng luôn có sự phối hợp với chính quyền các cấp, cơ quan nhà nước có thẩm quyền để kịp thời xử lý những rủi ro, vướng mắc trong quá trình thực hiện cho vay, xử lý tài sản bảo đảm, thu hồi nợ.. nhờ vậy mà ngân hàng đã thu hồi được những khoản nợ khó đòi, tránh thất thoát cho ngân hàng. CHƯƠNG III MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC HĐTD NGẮN HẠN TẠI NHTMCP CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH VIỆT NAM (VPBANK) I. ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH KÝ KẾT VÀ THỰC HIỆN HĐTDNH TẠI VPBANK. 1. Kết quả đạt được và nguyên nhân 1.1. Kết quả đạt được Trong những năm gần đây ngân hàng đã thực hiện tốt vai trò của một trung gian tài chính, phần nào đáp ứng được nhu cầu của khách hàng về bổ sung vốn lưu động, đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất, phục vụ mục tiêu công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Tỷ trọng tín dụng ngắn hạn ngày càng tăng, nợ quá hạn liên tục giảm trong những năm gần đây. Các dự án đầu tư được xem xét, thẩm định, đánh giá một cách đầy đủ, toàn diện hơn. Ngân hàng đã thẩm định tốt và quyết định cho vay nhiều dự án quan trọng, bổ sung nguồn vốn lưu động thiếu hụt kịp thời cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn Thành Phố Hà Nội, giúp cho các doanh nghiệp khắc phục tình trạng thiếu vốn lưu động tạm thời để phục vụ cho mục đích sản xuất, kinh doanh. Quy trình ký kết và thực hiện hợp đồng tín dụng ngắn hạn linh hoạt và giảm thiểu chi phí. Quy trình ký kết và thực hiện hợp đồng tín dụng ngắn hạn tuân thủ theo những quy định của NHNN cũng như các quy định về tín dụng ngắn hạn của VPBank. Ngoài ra, các ý kiến đóng góp, yêu cầu, đề xuất của các nhân viên ngân hàng, cán bộ tín dụng trong quá trình ký kết, thực hiện hợp đồng tín dụng ngắn hạn đã giúp các chủ doanh nghiệp, chủ đầu tư hoàn thiện cho dự án, phương hướng sản xuất kinh doanh nhanh chóng đúng tiến độ, giúp cho họ có thể nhận ra các rủi ro tiềm tàng của dự án, phương án sản xuất kinh doanh, sớm có biện pháp giải quyết giúp cho quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng diễn ra suôn sẻ, hạn chế rủi ro và tranh chấp. Chất lượng tín dụng ngắn hạn ngày càng được nâng cao. Ngân hàng chú trọng vào cho vay các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các pháp nhân và thể nhân cho phép thu hồi vốn nhanh. Các doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn nếu có hồ sơ xin vay vốn và phương án sản xuất kinh doanh khả thi đều được tạo điều kiện để vay vốn của ngân hàng. Chất lượng tín dụng của ngân hàng ngày càng được hoàn thiện và nâng cao nhằm phục vụ khách hàng.... 1.2. Nguyên nhân. Để đạt được những thành công này, ngân hàng đã không ngừng đổi mới, phát huy khả năng và sức mạnh bên trong cũng nhu tranh thủ sự giúp đỡ, học hỏi từ bên ngoài, từ NHNN và các ngành có liên quan. Luôn bám sát chiến lược kinh tế của đất nước nói chung và thủ đô Hà Nội nói riêng và tình hình thực tế của từng doanh nghiệp để quyết định cho vay. Trong quá trình điều tra và lập hồ sơ, ngân hàng luôn cố gắng thực hiện đúng quy chế của NHNN với thời gian ngắn nhất, phát tiền vay đúng tiến độ, kiểm soát chặt chẽ, thu nợ đúng kỳ hạn. Các mục tiêu chung được cụ thể hoá thành các nhiệm vụ của từng phòng ban và có sự phân công, trách nhiệm rõ ràng. Cán bộ tín dụng có tinh thần trách nhiệm cao khi thẩm định. Các cán bộ tín dụng đã chủ động, tích cực tìm kiếm các dự án khả thi, tiếp cận các dự án, phương án sản xuất lớn, chịu trách nhiệm về việc thẩm định và trình lãnh đạo phòng tín dụng và Tổng Giám Đốc xem xét và quyết định cho vay. Công tác thẩm định ở ngân hàng được quan tâm đúng đắn, cán bộ tín dụng có trách nhiệm cao, dám nghĩ dám làm. Hoàn thiện công tác kiểm tra, kiểm soát. Hoạt động kiểm tra, kiểm soát tại ngân hàng ngày càng hoàn thiện thông qua hoạt động kiểm soát từ xa và công tác kiểm tra tại chỗ. Công tác kiểm tra tại chỗ như kiểm tra hồ sơ vay vốn, căn cứ phát tiền vay.. Công tác kiểm soát từ xa được thực hiện qua công tác cân đối vốn hàng ngày gồm diễn biến nợ quá hạn, dư nợ phát sinh hàng ngày của khách hàng, tính toán các chỉ tiêu an toàn vốn. Cán bộ tín dụng phối hợp với thanh toán viên quản lý tài khoản của đơn vị để có thể nắm vững hoạt động tiền gửi, tiền vay, trao đổi thông tin thường xuyên, giữ vững phát triển quan hệ với khách hàng, giúp xử lý các nghiệp vụ phát sinh, quản lý vốn ở mức hợp lý nhất, tránh vốn ứ đọng không luôn chuyển, tạo thế chủ động trong điều hành kinh doanh. Đẩy mạnh công tác xử lý nợ. Ngân hàng đã tích cực xử lý các khoản nợ khó đòi tồn đọng từ những năm trước, xử lý tài sản bảo đảm tiền vay, cố gắng và tránh phát sinh các khoản nợ khó đòi mới. Bằng nhiều biện pháp xử lý như đôn đốc khách hàng trả nợ, phối hợp cùng với các cơ quan chức năng có thẩm quyền trong việc xử lý nợ, xử lý tài sản bảo đảm nên tỷ lệ nợ quá hạn ngày càng giảm và phấn đấu không còn nợ quá hạn. Thận trọng khi triển khai nghiệp vụ mới Áp dụng chính sách lãi suất hợp lý. Ngân hàng đã áp dụng tốt cơ chế lãi suất, lãi suất theo thỏa thuận do Thống đốc NHNN ban hành theo Quyết định 546/2002/QĐ-NHNN ngày 30/5/2002. Cơ chế này xoá bỏ dần sự thiếu công bằng trong hoạt động tín dụng, đẩy mạnh nguyên tắc”Thuận mua, vừa bán”giữa các tổ chức tín dụng với khách hàng trong hoạt động tín dụng thương mại. Cơ chế này đã tạo ra sự chủ động của cả ngân hàng và khách hàng vay vốn, tạo ra hành lang pháp lý tốt hơn, thông thoáng hơn cho việc thực hiện hợp đồng tín dụng. 2. Hạn chế và nguyên nhân. 21. Hạn chế: Chưa chú trọng đúng mức đến doanh nghiệp lớn. Hiện nay có khoảng 20% các doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn là doanh nghiệp lớn, trong đó 31% là DNNN. Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, đặc biệt là giải quyết công ăn việc làm và sử dụng hiệu quả đồng vốn. Các doanh nghiệp ngày nay cũng đã cố gắng, nhất là các doanh nghiệp Nhà nước, cũng đã rất cố gắng để làm ăn có lãi, sử dụng hiệu quả đồng vốn đi vay và mang lại nhiều lợi ích hơn. Hiện tại, tại NHTMCP các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam, khách hàng vay là doanh nghiệp vừa và nhỏ có tỷ trọng lớn hơn, phần lớn là cho vay có đảm bảo bằng tài sản. Ngân hàng chủ trương phát huy cho vay cả doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng như doanh nghiệp ngoài quốc doanh, ngân hàng không phân biệt doanh nghiệp lớn hay nhỏ mà dựa vào khả năng của các doanh nghiệp trong sử dụng cũng như hoàn trả khoản vay. Tuy nhiên tỷ trọng cho vay doanh nghiệp lớn vẫn còn ở mức thấp, ngân hàng cần quan tâm hơn nữa ở thị trường này. 2.2. Nguyên nhân. NHTMCP các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam là một ngân hàng trẻ so với lịch sử ra đời của ngành ngân hàng cũng như để tạo một ngân hàng tên tuổi. Tuy đã đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ nhưng ngân hàng còn chưa có nhiều khách hàng truyền thống. Để khắc phục được điều này cần phải có sự nỗ lực rất lớn của toàn thể cán bộ nhân viên trong ngân hàng. Trình độ chuyên môn, năng lực của cán bộ tín dụng còn nhiều bất cập. Trong thẩm định dự án, phương diện kỹ thuật là một nội dung quan trọng. Công tác này đòi hỏi chuyên môn, hiểu biết nhất định về khoa học kỹ thuật. Nhưng phần lớn các cán bộ tín dụng của ngân hàng được đào tạo từ các trường nghiệp vụ ngân hàng, kinh tế nên việc thẩm định sẽ gặp nhiều khó khăn. Việc thuê các tổ chức chuyên nghiệp thẩm định sẽ hạn chế được điều này nhưng sẽ rất tốn kém, chỉ áp dụng với những dự án lớn, có khả năng bù đắp chi phí thuê. Hành lang pháp lý còn nhiều bất cập. Trong quá trình kiểm tra, kiểm soát sau khi cho vay, cán bộ tín dụng phải thường xuyên theo dõi và định giá tài sản để đảm bảo tài sản được duy giá trị cần thiết đảm bảo cho khoản vay và có thể kịp thời yêu cầu khách hàng thay đổi hay bổ sung tài khoản này khi có sự hao mòn. Việc định giá tài sản bảo đảm tiền vay rất phức tạp. Nếu như tài sản là quyền sử dụng đất được sự hướng dẫn của Chính Phủ thì các tài sản khác việc định giá cực kỳ khó khăn. Ngoài ra còn một số vướng mắc như: DNNN được nhà nước giao vốn nhưng không có giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản khi thế chấp vay vốn, vấn đề đăng ký giao dịch ở những nơi chưa có cơ quan công chứng chuyên môn gặp nhiều khó khăn, việc đăng ký giao dịch không thuộc chức năng của xã, quận, huyện phải đăng ký tại trụ sở của tổ chức chuyên trách ở xã rất khó thực hiện, nhiều loại tài sản chưa được thực hiện việc đăng ký tài sản và giấy chứng nhận quyền sở hữu như nhà ở nông thôn, các cơ quan đăng ký và quản lý phân tán ở nhiều nơi do vậy rất khó xác định một cách chắc chắn các giấy tờ hợp pháp về sở hữu tài sản, đất được giao cho tổ chức cá nhân sử dụng nhưng chưa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc xử lý tài sản bảo đảm gặp nhiều khó khăn. Trước đây, muốn xử lý tài sản bảo đảm là đất, quyền sử dụng đất, ngân hàng phải xin phép chính quyền địa phương, ngân hàng không có được sự hỗ trợ trong quá trình xử lý tài sản bảo đảm. Việc thực hiện bán tài sản bảo đảm qua trung tâm bán đấu giá thường mất thời gian, một số nơi chưa có Trung tâm bán đấu giá. Việc định giá đát của Toà án khi xét xử cao hơn nhiều so với giá thị trường và ngân hàng chủ nợ không được tham gia vào việc định giá này. Tất cả những bất cập và thiếu đồng bộ này sẽ dẫn đến tranh chấp về việc xử lý tài sản bảo đảm giữa ngân hàng và con nợ. II. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ. 1. Hoàn thiện pháp luật về tín dụng ngắn hạn và hợp đồng tín dụng ngắn hạn. 1.1. Đối với hồ sơ tín dụng và nội dung của hợp đồng tín dụng. Một số vướng mắc trong các văn bản Luật nước ta làm cho cán bộ tín dụng lúng túng trong quá trình thẩm định cũng như ký kết hợp đồng tín dụng tại ngân hàng. a. Về hồ sơ tín dụng. Theo quy định tại Điều 51 Luật các tổ chức tín dụng, Điều 17 Quyết định số 1627/QĐ-NHNN về việc ban hành Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng quy định một trong những nội dung chính thức của hợp đồng tín dụng là : Hình thức bảo đảm tiền vay, giá trị tài sản bảo đảm, xử lý tài sản bảo đảm. Nhưng tại khoản 6- Mục 2- Chương 2- Thông tư số 06/2000/TT- NHNN quy định rõ hợp đồng bảo đảm tài sản phải được lập thành văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng tín dụng. Điều này cho thấy việc ký kết hợp đồng bảo đảm tiền vay là không cần thiết, ngân hàng có thể ghi luôn vào hợp đồng tín dụng. Việc này có tác dụng rất lớn trong việc rút ngắn thời gian không cần thiết của hai bên để đi đến ký kết hợp đồng tín dụng ngắn hạn được nhanh hơn. Đây cũng là cơ sở để tinh gọn bộ hồ sơ cho vay của khách hàng nhưng vẫn bảo đảm đầy đủ căn cứ pháp lý. b. Nội dung của hợp đồng tín dụng ngắn hạn. Điều 17- Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN quy định”Việc cho vay của tổ chức tín dụng và khách hàng vay phải được lập thành hợp đồng tín dụng. Hợp đồng tín dụng phải có nội dụng về điều kiện vay, mục đich sử dụng vốn vay, phương thức cho vay, số vốn vay, lãi suất, thời hạn cho vay, hình thức bảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm, phương thức trả nợ và những cam kết khác được các bên thoả thuận”. Vậy những cam kết khác là cam kết gì mà lại là nội dung chủ yếu trong hợp đồng tín dụng. Mặc dù về nguyên tắc, quyền và nghĩa vụ của chủ thể phát sinh sau khi hợp đồng được ký kết nhưng cần lưu ý một số nghĩa vụ của khách hàng xuất hiện khi khách hàng đã nhận được số tiền quy định. Những nội dung của hợp đồng tín dụng cần được nghi rõ trong phpas luật về tín dụng và ngân hàng ở Việt Nam để bảo vệ quyền lợi chính đáng của người đi vay. Đây cũng là tiền đề tạo sự ổn định, lành mạnh hoạt động của hệ thống ngân hàng, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức tiếp cận với vốn tín dụng ngân hàng đặc biệt là tín dụng ngắn hạn. 1.2. Đối với bảo đảm tiền vay. a. Quy định về điều kiện của tài sản bảo đảm chưa rõ ràng. Theo quy định hiện hành, tài sản thế chấp, cầm cố phải đáp ứng được hai điều kiện: Được phép giao dịch và không có tranh chấp. Đối với điều kiện “Được phép giao dịch”thì ngân hàng có thể căn cứ vào văn bản của pháp luật để xác định loại tài sản nào được phép giao dịch và được thế chấp, cầm cố. Còn đối với điều kiện ”Tài sản không có tranh chấp”thì hiện nay ngân hàng không biết xác minh như thế nào. Nếu chỉ dựa vào văn bản cam kết của khách hàng thì ngân hàng có thể trở thành bên có liên quan trong trường hợp tài sản có tranh chấp. Thực tế thì chính quyền địa phương được ngân hàng đề nghị xác minh vấn đề này đã không xác nhận và chưa có văn bản hướng dẫn của cơ quan cơ quan cấp trên có thẩm quyền. Vì vậy, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần xem xét, có biện pháp thích hợp hỗ trợ ngân hàng tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc hiện tại trong quá trình thẩm định, định giá tài sản bảo đảm. b. Trách nhiệm của cán bộ tín dụng trong việc kiểm tra thực trạng tài sản bảo đảm. Cho đến nay, chưa có một văn bản quy phạm pháp luật nào quy định rõ cán bộ tín dụng có trách nhiệm đi kiểm tra thực tế tài sản bảo đảm trước khi lập tờ trình lên cấp có thẩm quyền đề nhị cho vay vốn. Nhưng theo quy định của hầu hết các NHTM, cán bộ tín dụng phải đi kiểm tra thực tế tài sản thế chấp, cầm cố,bảo lãnh để đánh giá tài sản và xác minh các cam kết của khách hàng vay, bên bảo lãnh. Tuy nhiên, cán bộ tín dụng thiếu cơ sở rõ ràng để kiểm tra thực trạng tài sản bảo đảm (có lập thành văn bản hay không? Kiểm tra cái gì? ai chứng kiến..). Nếu cán bộ tín dụng không đi kiểm tra mà báo cáo thiếu trung thực thì họ vi phạm quy định nội bộ của ngân hàng chứ không vi phạm pháp luật của Nhà nước. Vì vậy, trong các văn bản hướng dẫn về bảo đảm tiền vay của Nhà nước cần quy định rõ ”Ngân hàng có quyền cử cán bộ tín dụng đi kiểm tra thực tế tài sản bảo đảm nếu xét thấy cần thiết”, đồng thời quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn của cán bộ tín dụng, ngân hàng. c. Quy định về xử lý quyền sử dụng đất chưa nhất quán. Tài sản bảo đảm tiền vay là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất chiếm 75 -80% giá trị tài sản bảo đảm tiền vay còn tồn đọng. Các văn bản hướng dẫn hiện hành về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay như Nghị định số 178/1999/NĐ-CP và Thông tư số 03/2001/TTLT-NHNN-BTP-BCA-BTC-TCĐC ngày 23/4/2001 chỉ quy định các bên được quyền thoả thuận về việc xử lý tài sản bảo đảm phù hợp với quy định của pháp luật về đất đai chứ chưa nêu ra các phương thức xử lý cụ thể đối với quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất. Xuất phát từ thực tiễn và lý luân trên, ngày 5/10/2001, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 149/2001/QĐ-TTg về việc phê duyệt đề án xử lý nợ tồn đọng của các NHTM. Theo quyết định này, về cơ chế xử lý đã”cởi trói”cho ngân hàng trên nhiều mặt. Về cơ chế xử lý: các NHTM, công ty quản lý nợ và khai thác tài sản của NHTM được chủ động xử lý các tài sản bảo đảm nợ vay kể cả tài sản là bất động sản bao gồm đất, tài sản gắn liền với đất thuộc quyền định đoạt của ngân hàng theo các hình thức sau: Tự bán công khai trên thị trường Bán qua Trung tâm dịch vụ vf bán đấu giá tài sản Bán cho công ty mua bán nợ của Nhà nước Các NHTM, công ty quản lý nợ và khai thác tài sản được xử lý tài sản là bất động sản bao gồm cả đất, tài sản gắn liền với đất không còn buộc phải xin phép chính quyền địa phương và không buộc phải uỷ quyền cho Trung tâm bán đấu giá. Cũng theo quyết định cày giá bán các tài sản bảo đảm nợ vay có thể cao hơn hoặc thấp hơn giá trị nợ tồn đọng (gốc, lãi). Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để NHTM yên tâm khi xử lý tài sản bảo đảm. Tuy nhiên trong Quyết định 149/2001/QĐ-TTg chưa quy định hình thức bán công khai triên thị trường là như thế nào? Trình tự, thủ tục thực hiện theo quy định nào... vì hình thức bán công khai triên thị trường là một hình thức mới mẻ, khi áp dụng sẽ có nhiều lúng túng, vì vậy ngân hàng Nhà nước cần có hướng dẫn về vấn đề này làm cơ sở pháp lý cho các tổ chức tín dụng thực hiện. d. Hiệu lực của giao dịch bảo đảm. Theo khoản 2 Điều 16 Nghị định số 165/1999/NĐ-CP ngày 19/11/1999 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm quy định:”Giao dịch bảo đảm bị vô hiệu không làm ảnh hưởng đến nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp giao dịch bảo đảm là điều kiện có hiệu lực của nghĩa vụ được bảo đảm.” Giao dịch thực chất là hợp đồng cầm cố, thế chấp, bảo lãnh theo đó bên bảo đảm cam kết với bên nhận bảo đảm về việc dùng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Do vậy, cán bộ tín dụng hiểu rằng nếu các bên đã thoả thuận giao dịch bảo đảm là điều kiện có hiệu lực của nghĩa vụ bảo đảm thì giao dịch bảo đảm vô hiệu sẽ dẫn đến hợp đồng tín dụng vô hiệu. Vì vậy, tài sản bảo đảm được trả lại và khách hàng không phải trả lãi cho khoản vay đã sử dụng khi giao dịch bảo đảm vô hiệu. Điều này gây khó khăn cho các ngân hàng bởi vì ngân hàng vẫn phải trả lãi cho khoản vốn huy động từ tổ chức, dân cư. Vì vậy cần quy định lại theo các hướng sau: Giao dịch bảo đảm vô hiệu không làm ảnh hưởng đến hiệu lực của nghĩa vụ được bảo đảm. Nêu rõ những giao dich bảo đảm nào là điều kiện có hiệu lực của nghĩa vụ được bảo đảm. Các ngân hàng cần chú ý khi ky kết hợp đồng đó là hợp đồng bảo đảm phải được ký và có hiệu lực trước ngày ký hợp đồng tín dụng. 1.3. Đối với công tác thẩm định. Việc thực hiện đầy đủ các bước, các thủ tục cần thiết giúp ngân hàng có được những thông tin cần thiết về khách hàng và dự án. Bỏ qua hay xem nhẹ một yếu tố nào đó đồng nghĩa với ngân hàng chấp nhận một tỷ lệ rủi ro. Trong công tác thẩm định cần nhấn mạnh yếu tố uy tín khách hàng và khả năng của họ. Đây có thể coi là yếu tố quan trọng nhất, yếu tố bảo đảm tiền vay cần được thẩm định chính xác vì nó nhằm hạn chế rủi ro mất vốn cho ngân hàng. Đối với món vay không có bảo đảm tiền vay, cần ưu tiên khách hàng đã được kiểm toán độc lập, có tín nhiệm với ngân hàng. Đối với các dự án cần tăng cường tính khoa học, giảm sự chủ quan, cảm tính khi quyết định cho vay bằng cách ngân hàng giao cho các cán bộ tín dụng có năng lực, kinh nghiệm cùng nghiên cứu tham khảo và đưa ra các chỉ tiêu đối với các ngành ngân hàng cho vay. Nếu thấy cần thiết có thể tham khảo ý kiến của các chuyên gia. 1.4. Đối với việc thực hiện hợp đồng tín dụng. Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng cần được quan tâm sâu sá hơn, đặc biệt là quá trình kiểm tra sau khi phát tiền vay để xác định tiền vay có được sử dụng đúng mục đích không, điều kiện về tài sản bảo đảm và các vấn đề phát sinh khi thực hiện dự án nhằm hạn chế, phát hiện rủi ro từ đó có các biện pháp xử lý thích hợp và kịp thời. 2. Một số kiến nghị 2.1. Đối với cơ quan Nhà nước. a. Chính phủ và các cơ Bộ, ngành liên quan. Nhà nước cần tạo một môi trường kinh doanh bình đẳng giữa các doanh nghiệp, hoàn thiện và thống nhất các văn bản pháp luật, chính sách để tạo một cơ sở ổn định và căn cứ pháp lý vững chắc cho qua trình ký kết và thực hiện hợp đồng tín dụng. Môi trường kinh doanh đồng nhất và hành lanh pháp lý vững chắc sẽ giúp quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng tín dụng khách quan hơn. Sự thống nhất giữa các văn bản pháp luật về đường lối phát triển kinh tế giữa trung ựơng với địa phương, giữa cơ quan chủ quản và các bộ, ngành giúp cho cán bộ tín dụng không lúng túng trong quá trình thẩm định cũng như quyết định cho vay. Nhà nước cần có các chính sách bảo vệ sản xuất trong nước, quản lý thị trường, đẩy mạnh cổ phần hoá doanh nghiệp..... Chính phủ và các Bộ, ngành tạo điều kiện thuận lợi để phát triển các chợ bán đầu giá, chợ buôn bán bất động sản và ban hành các quy định về tỷ suất vốn đầu tư, định mức tiêu hao nguyên vật liệu trong các ngành, lĩnh vực cụ thể để tạo điều kiện cho các cán bộ tín dụng thuậ lợi trong việc thẩm định mức vốn đầu tư và daonh thu, chi phí sản xuất hàng năm. Các Bộ ngành cần hệ thống hoá các thông tin liên quan đến các lĩnh vực mà ngành mình đảm trách, công bố công khai hàng năm qua các tài liệu chuyên ngành giúp cho chủ đầu tư cũng như ngân hàng thuận lợi hơn trong việc thu thập thông tin thẩm định dự án. Cần quy định rõ hơn trách nhiệm của chủ đầu tư và người có thẩm quyền quyết định đầu tư, trách nhiệm của các bên đối với việc thẩm định dự án đầu tư. Đặc biệt là trách nhiệm của các Bộ ngành và các cơ quan có liên quan trong xử lý tài sản bảo đảm và nợ vay tồn đọng. Bộ Tài chính hướng dẫn miễn giảm thuế và các nghĩa vụ tài chính khác đối với nhà nước khi các NHTM, công ty quản lý nợ và khai thác tài sản của NHTM bán các tài sản bảo đảm nợ vay. Bộ Tư pháp hướng dẫn, chỉ đạo, đôn đốc cá cơ quan thi hành án bàn giao cho NHTM các tài sản bảo đảm nợ vay đã được Toà án giao cho NHTM để xử lý. Hướng dẫn thủ tục đăng ký, công chứng đối với tài sản bảo đảm nợ vay do các NHTM, công ty Quản lý và khai thác tài sản của NHTM bán theo hinh thức bán đấu giá, bán công khai... Tổng cục Địa chính, Bộ Xây dựng hướng dẫ theo thẩm quyền về thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với đất và tài sản gắn liền với đất khi NHTM, công ty Quản lý nợ và khai thác tài sản bảo đảm bán tài sản bảo đảm nợ vay. Bộ Công an, Bộ Giao thông vân tải hướng dẫn theo thẩm quyền đăng ký phương tiện giao thông vận tài là tài sản liên quan đến nợ tồn đọng được bán, chuyển nhượng. Bộ Công an có trách nhiệm bảo vệ tài sản quốc gia, bảo vệ việc thực thi pháp luật trong xử lý nợ tồn đọng. b. Ngân hàng nhà nước. Phát huy vai trò điều phối thông tin của Trung tâm thông tin tín dụng (CIC) Trung tâm thông tin tín dụng CIC thuộc vụ tín dụng ngân hàng Nhà nước Việt nam đã đi vào hoạt động trong vào năm qua với nhiệm vụ chủ yếu là thu thập thông tin về quan hệ tín dụng giữa các tổ chức tín dụng thành viên với các doanh nghiệp lớn, chủ yếu là theo dõi nợ quá hạn. Để giúp cho các nghiệp vụ ngân hàng nói chung và quá trình ký kết hợp đồng tín dụng nói riêng, CIC cần phải được phát triển để bao quát mọi thông tin liên quan đến mọi hoạt động của ngân hàng. Phát huy vai trò của Hiệp hội ngân hàng trong việc giúp đỡ ngan hàng hội viên. Ngân hàng Nhà nước cần có cơ chế cho phép Hiệp hội ngân hàng tham gia với NHNN về một số vấn đề liên quan đến quyền lợi của các ngân hàng hội viên. Cụ thể trong các trường hợp sau: Ban hành cơ chế chính sách liên quan đến tổ chức tín dụng. Tham gia vào sắp xếp, cơ cấu lại tổ chức tín dụng Tham gia vào việc phân loại tổ chức tín dụng Được cung cấp các thông tin liên quan đến việc chấn chỉnh các tổ chức tín dụng. Hiệp hội ngân hàng cần được tham gia vào các công việc trên để có thể giúp đỡ các ngân hàng về chuyên môn cũng như thông tin trong quá trình thẩm định dự án, ký kết và thực hiện hợp đồng tín dụng. Giúp đỡ về chuyên môn. Ngân hàng Nhà nước cần hệ thống hoá những kiến thức cơ bản về thẩm định tín dụng, quy trình cho vay nhằm hỗ trợ cho quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng được thuận lợi hơn. NHNN cần đưa ra chỉ tiêu, chuẩn hoá từng ngàng, lĩnh vực để cán bộ tín dụng có căn cứ khi quyết định cho vay, từng bước hiện đại hoá công nghệ ngân hàng. NHNN cần chỉnh sửa và ban hành một số cơ chế tín dụng, và quy trình thủ tục cho vay đồng tài trợ của nhiều ngân hàng thương mại cho phù hợp với môi trường pháp lý ở Việt Nam, quy định về bảo đảm tài sản bảo đảm tiền vay cần chỉnh sửa linh hoạt hơn cho phù hợp với thực tế để đảm bảo quyền thu hồi nợ của ngân hàng. 2.2. Với NHTMCP các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam (VPBank) Thường xuyên hoàn thiện những văn bản cho vay phù hợp với thực tế nhằm bảo đảm an toàn trong hoạt động cho vay. Những quy định chế độ tín dụng luôn là cơ sở để cán bộ tín dụng thực hiện, các quy định chi tiết đầy đủ sẽ tạo điều kiện cho cán bộ tín dụng hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, đảm bảo an toàn và nâng cao chất lượng tín dụng. Ngược lại, nếu quy định không rõ ràng, cụ thể thì hoạt động cho vay gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh cũng như uy tín của ngân hàng. Do vậy cần tiếp tục hoàn thiện các quy định để đáp ứng những đòi hỏi thực tế là hết sức quan trọng. NHTMCP các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam cần: Hướng dẫn kịp thời các văn bản của Chính phủ, của NHNN ban hàn để các phòng làm công tác cho vay thực thi thuận lợi và chính xác hơn. Ban hành các quy trình hướng dẫn cụ thể về nghiệp vụ liên quan đến hoạt động cho vay, thu nợ... Thu thập kịp thời đầy đủ và chính xác các thông tin về khách hàng. Chất lượng của quá trình thực hiện và ký kết hợp đồng tín dụng phụ thuộc rất nhiều vào độ chính xác của thông tin, chất lượng thông tin. Thông tin đầu tiên mà ngân hàng nhận được do khách hàng cung cấp. Chính vì vậy mà người đi vay bao giờ cũng cung cấp những thông tin có độ sai lệch nhất định để cố gắng vay được vốn. Để hạn chế và ngăn chặn rủi ro, ngân hàng cần phải tìm kiếm các thông tin chính xác bằng các biện pháp như: Điều tra trực tiếp doanh nghiệp xin vay vốn, thực hiện phỏng vấn trực tiếp để thu thập thông tin, kiểm tra thông tin từ đó có thể phát hiện những mâu thuẫn với hồ sơ xin vay. Thu thập thông tin từ những nguồn bên ngoài giúp cho ngân hàng có thông tin chính xác, có thể từ những cơ quan hữu quan, các chuyên gia tư vấn, các đối tác của khách hàng vay vốn.. Cán bộ tín dụng tích cực chủ động tìm kiếm thông tin để nâng cao chất lượng tín dụng, giảm thời gian và chi phí trong thẩm định và ký kết thực hiện hợp đồng tín dụng. Hoàn thiện hơn nữa nội dung và phương pháp thẩm định. Có thể nói thẩm định toàn diện mọi phương diện, nội dung của dự án là một trong những yêu cầu quan trọng nhất cho quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng tín dụng diễn ra thuận lợi, khách quan nhất, giảm thiểu rủi ro. Cần phải nhấn mạnh rằng mọi nội dung của dự án đều có mối liên hệ mật thiết với nhau, không thể tách rời. Cả hai phương diện thẩm định tài chính và phi tài chính phải được kết hợp chặt chẽ với nhau nhằm đưa ra kết luận chính xác nhất. Xây dựng chiến lược giá cả. Ngân hàng cần xây dựng phương pháp định giá phù hợp, dựa trên lãi suất cơ bản, độ rủi ro của người vay, mối quan hệ với họ, thế mạnh của ngân hàng hoặc trên cơ sở cảm nhận đối với thị trường. Ngân hàng cần xác định chiến lược giá cả trên cơ sở chi phí nhằm đảm bảo bù đắp vốn và đạt lợi nhuận mục tiêu hay vì tối đa hoá lợi nhuận, bởi vì điều quan tâm của doanh nghiệp là lãi suất cho vay đối với họ. Một cơ chế lãi suất phù hợp phải tạo ra được sự chủ động cho cả ngân hàng và người đi vay. Ngân hàng cần phải giải chi phí hoạt động thông qua việc tăng cường, phát triển dịch vụ, biến nguồn thu từ dịch vụ trở thành nguồn thu đáng kể để lợi nhuận thu được trên cả gói dịch vụ tăng tối đa. Điều này đòi hỏi sự liên kết chặt chẽ giữa các bộ phận để quản trị tốt chi phí, đảm bảo mức cạnh tranh hợp lý, duy trì lợi nhuận ổn định. Xây dựng chiến lược khách hàng Tìm kiếm khách hàng mới Qua các hội thảo, hội chợ và phối hợp với chính quyền các địa phương để có thể tiếp cận với các làng nghề để cho vay các doanh nghiệp xuất khẩu, đặc biệt các doanh nghiệp mới thành lập chưa có quan hệ tiền vay với ngân hàng nào và đang tìm ngân hàng tin cậy. Duy trì mối quan hệ lâu dài với khách hàng. Sự tồn tại của ngân hàng phụ thuộc vào sự trung thàng của khách hàng. Vì thế bên cạnh phát hiện những khách hàng tiềm năng cần thường xuyên phân loại khách hàng để có sự hỗ trợ, tư vấn kịp thời và duy trì mối quan hệ gắn bó mật thiết, lâu dài với ngân hàng. Ngân hàng cần tổ chức những cuộc gặp gỡ tiếp xuc với khách hàng để giải toả những khúc mắc trong quan hệ tín dụng. Đó là cơ hội tốt để người có vốn và người thiếu vốn hiểu nhau hơn và tìm mọi cách để đáp ứng nhu cầu của hai bên. Đa dạng hoá khách hàng Ngân hàng cần mở rộng các loại khách hàng, tiếp tục cho định hướng phục vụ ngân hàng vừa và nhỏ, cá nhân và mở rộng việc cho vay đối với doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp Nhà nước. Đa dạng hoá, tạo sự linh hoạt trong tài sản bảo đảm tiền vay. Do các văn bản về tài sản bảo đảm còn nhiều bất cập nên ngân hàng cần quan tâm hơn đến việc đánh giá, kiểm tra tài sản bao đảm, tránh vướng mắc khi xử lý gây khó khăn cho ngân hàng, khách hàng và các cơ quan có liên quan nhằm đánh giá lại toàn diện tài sản bảo đảm, thoả thuận các biện pháp quản lý cụ thể nhằm chuyển giao tài sản bảo đảm cho ngân hàng dễ dàng hơn. Ngân hàng cần quan tâm hơn đến việc cho vay không có bảo đảm bằng tài sản. Mặc dù bảo đảm tiền vay có ý nghĩa quan trọng trong hạn chế rủi ro tín dụng nhưng quá chú trọng đến yếu tố này chưa hẳn là tốt, điều này làm việc ký kết hợp đồng tín dụng gặp nhiều khó khăn, giảm chất lượng tín dụng. Nên tránh những khoản nợ khó đòi. Một số hiểm hoạ dẫn đến nợ khó đòi Cho vay vượt quá giá trị của đảm bảo: Hậu quả của sự mất giá về đất đai và bất động sản, việc không duy trì nổi mức lãi hợp lý của các cổ phần, tin tưởng và các giấy bảo lãnh kém giá trị...Những khuyết tật này có thể được hạn chế bằng việc kiểm định và thanh tra thường kỳ. Quản lý tài khoản yếu kém: Tình trạng này bao gồm việc thường xuyên rút tiền vượt hạn mức thoả thuận và khiếm khuyết trong việc kiểm tra tài khoản và hoạt động của nó. Hiểu biết không thấu đáo về khách hàng: Kết quả của việc không hiểu biết thấu đáo là ở chỗ bản chất thực thụ và mục đích của việc vay tiền đã không được biết đến. Ngay từ đầu cần phải có được càng nhiều thông tin thu lượm về khách hàng càng tốt. Lạm dụng quá mức ‘từ cho vay”: Rất nhiều món nợ khó đòi là hậu quả của việc cho vay như cho vay khách hàng mà không kiểm chứng độ tin cậy, cho những khách hàng vay họ sử dụng vào mục đích đầu cơ hoặc vẫn cho phép khách hàng được hưởng các khoản tiền ứng trước tiếp theo trong khi những dấu hiệu báo động đã lộ rõ. Thanh toán các Séc trên cơ sở khi chưa được bù trừ. Tránh các khoản nợ khó đòi bằng cách: Lấy mọi thông tin cần thiết từ cuộc đàm thoại để có thể đánh già tương xứng về địa vị tài chính của người vay. Tránh những quyết định vội vã khi chưa hiểu biết đầy đủ về người vay. Phân tích đầy đủ bằng việc áp dụng những nguyên tắc cho vay cơ bản và các quy định của ngân hàng. Phải khẳng định được rằng khách hàng đã nhận thức được đầy đủ về bổn phận của mình. Tiến hành kiểm soát chặt chẽ các khoản ứng trước. Duy trì kiểm tra sát sao các khoản ứng trước. Chú ý những dấu hiệu báo động trước các vấn đề nảy sinh. Hành động kịp thời khi món nợ có dấu hiệu vi phạm, chẳng hạn như chậm chễ trong việc trả nợ theo yêu cầu. Lưu ý đến chỉ thị của bên thứ 3 và phải nhớ rằng người làm đơn luôn là người trả nợ duy nhất. Phải thận trọng khi giám định các khoản ứng trước dùng vào các mục đích đầu cơ. Một hoạt động kinh doanh như vậy cần phải được giám định bởi cán bộ có quan hệ tới loại hình kinh doanh như thế. 2.3. với khách hàng của VPBank. Doanh nghiệp đóng vai trò là khách hàng, đối tác kinh doanh của ngân hàng do đó có hiệu quả trong hoạt động của ngân hàng bị chi phối khá lớn bởi hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Để tạo điều kiện cho quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng tín dụng tại ngân hàng, doanh nghiệp cần làm những việc sau: Cung cấp cho ngân hàng số liệu chính xác, nhanh chóng nhất. Hợp tác với ngân hàng trong khi tiến hành thẩm định dự án, đánh giá đúng mức những ý kiến đóng góp của ngân hàng. Luôn giữ mối quan hệ qua lại thường xuyên với khách hàng về một số thông tin như nhu cầu về vốn hoạt động, tốc độ lưu chuyển hàng hoá, tình hình sản xuất kinh doanh.. tạo điều kiện cho dự án diễn ra trôi chảy. Các doanh nghiệp nên thực hiện chế độ kiểm toán hiện đại, chính xác theo đúng quy định của Nhà nước. KẾT LUẬN Hoàn thiện chế độ pháp lý về hợp đồng tín dụng ngắn hạn là một trong những vấn đề cấp bách và cần thiết để nâng cao chất lượng tín dụng và hạn chế rủi ro trong hoạt động của ngân hàng thương mại. Từ khi hoạt động, NHTMCP các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam đã có nhiều cố gắng để hoàn thiện chế độ pháp lý về ký kết và thực hiện hợp đồng tín dụng nói chung và hợp đồng tín dụng ngắn hạn nói riêng. Tuy nhiên là một ngân hàng mới được thành lập hơn 10 năm nhưng việc ký kết và thực hiện hợp đồng tín dụng còn nhiều bất cập. Để khắc phục và làm được những công việc này đòi hỏi ngân hàng phải có sự nghiên cứu sâu sắc, có những biện pháp tổng hợp phối hợp với cá cơ quan chức năng nhằm giải quyết những vấn đề này. Trong thời gian thực tập tại NHTMCP các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam, tác giả đã cố gắng tìm hiểu các vấn đề pháp lý cũng như thực tiễn áp dụng chế độ pháp lý về hợp đồng tín dụng ngắn hạn và nêu được một số giải pháp, kiến nghị nhằm đóng góp vào việc hoàn thiện môi trường pháp lý cho ký kết và thực hiện hợp đồng tín dụng ngắn hạn. Tuy nhiên do thời gian thực tập có hạn cũng như trình độ còn hạn chế nên đề tài không tránh khỏi thiếu sót, rất mong có được những ý kiến đóng góp từ phía các thầy cô, bạn đọc để tác giả có điều kiện nâng cao hiểu biết về cả lý luận và thực tiễn. TÀI LIỆU THAM KHẢO I. Văn bản quy phạm pháp luật Luật Doanh nghiệp 12/6/1999 Luật Ngân hàng Nhà nước 12/12/1997 Luật các tổ chức tín dụng 12/12/1997 Luật phá sản doanh nghiệp 30-12-1993 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế 25-9-1989 NĐ 178/1999/NĐ-CP 29/12/1999 của Chính phủ về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng NĐ 165/1999/NĐ-CP 29/11/1999 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm QĐ 95/1998/QĐ-TTg 15/5/1998 của TTg về thanh toán nợ giai đoạn II QĐ 5/1998/QĐ-TTg 5/1/2000 của TTg sửa đổi, bổ xung QĐ 95 của TTg về thanh toán nợ giai đoạn II QĐ 688/2001/QĐ-NHNN 27/11/2000 của Thống đốc ngân hàng Nhà nước về thực hiện chuyển nợ quá hạn các khoản vay của khách hàng tại các tổ chức tín dụng QĐ1627/2001/QĐ- NHNN 31/12/2001 của Thống đốc ngân hàng Nhà nước về việc ban hàng quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng QĐ 174/2002/NHNN-TD 21/2/2002 của Thống đốc ngân hàng Nhà nước về việc xử lý nợ quá hạn tông động không có tài sản bảo đảm theo quyết định 149/2001/QĐ-TTg ngày 5/10/2001 của TTg Chỉ thị 01/2002/CT-NHNN 07/01/2002 của Thống đốc ngân hàng Nhà nước về việc xử lý nợ quá hạn tại các NHTM Chỉ thị 02/2002/CT-NHNN 30/1/2002 của Thống đốc NHNN về việc trấn chỉnh công tác xử lý nợ quá hạn tại các NHTM Tài liệu tham khảo khác Giáo trình Luật kinh tế - ĐHKTQD Giáo trình nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng - Học viện ngân hàng- NXB Thống kê Báo cáo thường niên của ngân hàng VPBank 2002 Quy chế nhân viên VPBank 10/4/1999 Tạp chí Tạp chí ngân hàng số 11/2001: Một số nguyên nhân chính gây nợ khó đòi cho các NHTM - Phan Lê PTKT 37/2001: Nợ quá hạn và các vấn đề giải quyết nợ quá hạn của hệ thống NHVN hiện nay - TS Đặng Tiến Đờn; TS Võ Thị Ánh Tuyết TC-NH 4/2001: Xử lý nợ tồn đọng cần có sự phối hợp của các ngành hữu quan - Nguyễn Văn Phương TC-NH 4/2001: Nợ quá hạn- vấn đề cần tiếp tục được giải quyết - TS Đào Minh Phúc TC 3/2002: Vấn đề xử lý nợ xấu của các TCTD và doanh nghiệp _ TS Nguyễn Đình Tài TC-NH 3/2000: Mua bán nợ - Một sản phẩm tất yếu của kinh tế thị trường _ TS Nguyễn Như Minh TT TC TT 18/2001: Một số kiến nghị của các ngân hàng hội viên hiệp hội ngân hàng với NHNN TT TC TT 1/2002: Quy định về tài sản bảo đảm tiền vay phù hợp với thực tiễn _ Nguyễn Văn Phương Incombank 10/2001: Giải pháp mới về xử lý tài sản bảo đảm và nợ vay tồn đọng Dân chủ và Pháp Luật số 12/2002: Bản chất pháp lý của Hợp đồng tín dụng Ngân hàng DC và PL 10/2002: Khuôn khổ pháp lý mới để các NHTM mở rộng cho vay đối với khách hàng vay NN và PL 4/2002: Về đặc điểm của HĐTD ngân hàng.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docI0002.doc
Tài liệu liên quan