Đề tài Đầu tư chứng khoán và vấn đề bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư bằng Luật chứng khoán

LỜI NÓI ĐẦU 1 CHƯƠNG I 3 ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN VÀ VẤN ĐỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA NHÀ ĐẦU TƯ BẰNG LUẬT CHỨNG KHOÁN 3 1. Bản chất của đầu tư chứng khoàn và quyền lợi của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán 3 1.1. Bản chất của đầu tư chứng khoán 3 1.1.1. Khái niệm đầu tư chứng khoán 3 1.1.2. Đặc điểm của đầu tư chứng khoán 5 1.1.3. Mối quan hệ giữa nhà đầu tư với tổ chức phát hành chứng khoán 7 1.2. Các quyền lợi của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán 12 1.2.1.Khái niệm và đặc điểm của quyền lợi của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán 12 1.2.2. Các quyền lợi cơ bản của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán 14 2. Vấn đề bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư bằng luật chứng khoán 18 2.1. Sự cần thiết phải bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán 18 2.2. Khái quát về cơ chế bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư bằng Luật chứng khoán 20 CHƯƠNG II 23 NHỮNG HIỆU ỨNG CỦA LUẬT CHỨNG KHOÁN 23 ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NHÀ ĐẦU TƯ 23 1. Hiệu ứng của các quy định công nhận quyền lợi của nhà đâu tư trên thị trường chứng khoán 23 1.1. Bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư trong mối quan hệ với chủ thể phát hành 23 1.2. Bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư trong mối quan hệ với chủ thể trung gian trên thị trường chứng khoán 27 1.3. Bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư trong mối quan hệ giữa các chủ thể đầu tư với nhau 33 1.4. Bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư trong mối quan hệ giữa nhà đầu tư và các chủ thể khác trên thị trường chứng khoán 36 2. Hiệu ứng của các quy định về quản lý Nhà nước đối với thị trường chứng khoán 38 2.1. Các quy định của Luật chứng khoán 38 2.2. Thực tiễn áp dụng 39 3. Hiệu ứng của các quy định về xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp trên thị trường chứng khoán 42 3.1. Các quy định của Luật chứng khoán 42 3.2. Thực tiễn áp dụng 43 CHƯƠNG III 45 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM ĐẢM BẢO TÍNH KHẢ THI 45 CỦA LUẬT CHỨNG KHOÁN TRƯỚC YÊU CẦU BẢO VỆ QUYỀN LỢI NHÀ ĐẦU TƯ 45 1. Ban hành các quy định công nhận quyền của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán 45 1.1. Bổ sung các quy định còn thiếu và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật chứng khoán 45 1.2. Nâng cao trình độ hiểu biết của công chúng về pháp luật liên quan đến quyền lợi nhà đầu tư trong hoạt động đầu tư chứng khoán 48 2. Hoàn thiện các quy định về quản lý Nhà nước đối với thị trường chứng khoán 50 3. Hoàn thiện các quy định về xử lý vi phạm, giải quyết tranh chấp và bồi thường thiệt hại 52 3.1. Hoàn thiện các quy định về xử lý vi phạm trong lĩnh vực chứng khoán 52 3.2. Hoàn thiện các quy định về giải quyết tranh chấp và bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực chứng khoán 53 KẾT LUẬN 57 TÀI LIỆU THAM KHẢO 58 BẢNG CHỮ VIẾT TẮT 60

doc63 trang | Chia sẻ: maiphuongtl | Lượt xem: 2291 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Đầu tư chứng khoán và vấn đề bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư bằng Luật chứng khoán, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
chứng khoán, đó là hành vi giao dịch nội gián; hành vi lũng đoạn thị trường và hành vi thông tin sai sự thật, bỏ sót thông tin, công bố thông tin không kịp thời. Nếu khẳng định những hành vi này chỉ diễn ra giữa các chủ thể đầu tư với nhau thì sẽ là không chính xác, nhưng nếu xem xét cách thức thực hiện, mục đích và người được hưởng lợi từ các hành vi này thì sẽ dễ dàng thấy rằng đằng sau nó là vấn đề xung đột quyền lợi giữa các nhà đầu tư. Dù có cách thức biểu hiện khác nhau nhưng các hành vi này đều mang bản chất chung, đó là sự vi phạm những nguyên tắc cơ bản của thị trường về tính công bằng, công khai, bình đẳng. Khi những hành vi này được thực hiện, có một số người sẽ thu được những khoản lợi nhuận kếch xù và khoản lợi nhuận đó được rút ra trong quá trình đầu tư chứng khoán. Mặt khác, do lợi nhuận này có thể được tạo ra bằng cách gây thiệt hại cho các nhà đầu tư khác nên những chủ thể này thường không thể coi là những nhà đầu tư chân chính. Trong thời gian qua, các hành vi bị cấm không chỉ diễn ra trên thị trường chứng khoán Việt Nam mà cũng đã từng xảy ra trên một số thị trường chứng khoán nổi tiếng thế giới. Thật vậy, cách đây không lâu, Chính phủ Mỹ vừa phá tan hai đường dây giao dịch chứng khoán nội gián được coi là đình đám nhất từ những thập niên 1980 tại phố Wall. Theo Vnexpress: Trong vụ nội gián thứ nhất, có liên quan đến công ty chứng khoán ngân hàng UBS, một lãnh đạo công ty bán thông tin phân tích về khả năng lên xuống của thị trường cho hai nhân viên giao dịch của hai tổ chức tài chính. Nhờ những thông tin mua được từ UBS, hai cá nhân này đã bỏ túi hơn 4 triệu USD mỗi người. Vụ nội gián thứ hai xảy ra với hãng Morgan Stanley. Cựu luật sư của hãng, bà Randi Collotta đã cung cấp thông tin về mua bán và sát nhập cho chồng, một luật sư hành nghề tư, và Marc Jurman - một nhân viên môi giới của hãng Marlins Capital & Finance 500. Jurman sau đó đã bán thông tin cho một số người khác [31]. Câu hỏi đặt ra là, đối với Việt Nam, liệu rằng với các quy định về những hành vi này còn quá sơ sài thì việc phát hiện và xử lý chúng sẽ ra sao? Sự thật là, mặc dù có những nghi ngờ trong một số phiên giao dịch của thị trường chứng khoán Việt Nam trong thời gian gần đây mà báo chí đã nêu, nhưng chưa có một vụ mua bán nội gián nào bị phát hiện và xử lý. Trong bài “Giao dịch nội gián vẫn chỉ là nghi án”, đăng trên VnExpress cho biết: “Dư luận đồn thổi nhau ông này, bà kia có tin mật, ôm cổ phiếu kiếm tiền tỉ. Tuy nhiên, nhiều nghi án về giao dịch nội gián trên thị trường chứng khoán chưa được làm sáng tỏ, dù đã nằm trong tầm ngắm của các cơ quan chức năng” [33]. Trong một bài báo khác trên VnExpress của tác giả Việt Phong, với tựa đề “Nở rộ đầu cơ chứng khoán nhờ thông tin nội gián”, tác giả này cho biết: “Tại nhiều phiên đấu giá, thông tin nội gián về danh sách các nhà đầu tư tổ chức (trong nước và ngoài nước) tham gia đấu giá cổ phần bị rò rỉ phổ biến và thành cơ chế xin cho. Tình trạng này gây thiệt hại cho đông đảo các nhà đầu tư cá nhân không có mối quan hệ” [30]. Với thông tin và nhận xét này, có thể thấy nội gián không chỉ diễn ra trên thị trường thứ cấp như cách hiểu thông thường mà còn tồn tại ngay cả ở thị trường phát hành. Vậy tại sao giao dịch nội gián vẫn còn là một ẩn số trên thị trường chứng khoán Việt Nam? Có rất nhiều lý do, chẳng hạn như vì đây là một hoạt động rất tinh vi, vì khó đưa ra được các bằng chứng chứng minh, vì các cơ quan quản lý còn ít kinh nghiệm…Đây có thể coi là một thách thức lớn cho các nhà làm luật trong cuộc chiến chống lại các thế lực đen tối trên thị trường chứng khoán, nhằm bảo đảm sự trong sạch và lành mạnh của thị trường chứng khoán, đồng thời bảo vệ hiệu quả quyền lợi của các nhà đầu tư đã và đang có ý định tham gia thị trường này. Về phía các nhà quản lý, chủ tịch UBCKNN Vũ Bằng cho biết, hiện nay UBCKNN đang hoàn tất quy trình điều tra về hành vi giao dịch nội gián, sau khi hoàn thành UBCKNN sẽ cử thanh tra làm thí điểm một số vụ có dấu hiệu của giao dịch nội gián [34]. 1.4. Bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư trong mối quan hệ giữa nhà đầu tư và các chủ thể khác trên thị trường chứng khoán Ngoài các mối quan hệ nêu trên, khi tham gia vào hoạt động đầu tư chứng khoán, quyền lợi của nhà đầu tư còn có thể bị ảnh hưởng bởi các quy định về một số chủ thể khác như SGDCK, TTGDCK, tổ chức đăng ký lưu ký bù trừ chứng khoán. Những ảnh hưởng đối với quyền lợi của nhà đầu tư không phải xuất phát từ xung đột lợi ích giữa họ với các chủ thể này mà chủ yếu do sơ xuất hoặc khả năng trình độ yếu kém của người cung ứng dịch vụ dẫn đến các hiện tượng nhầm lẫn, sai sót. Để hạn chế những tác động bất lợi đến quyền lợi nhà đầu tư, pháp luật quy định khá rõ ràng và cụ thể về tổ chức và hoạt động của trung tâm, bộ máy quản lý điều hành, các quy định về quyền và nghĩa vụ của thành viên lưu ký… Trong Luật chứng khoán, các quy định về hoạt động này hầu hết được kế thừa từ các quy định trong Nghị định số 144/2003/NĐ-CP. Tuy nhiên, cũng có quy định mới về các nghĩa vụ của Trung tâm lưu ký chứng khoán, thành viên lưu ký với mục đích bảo vệ có hiệu quả quyền lợi nhà đầu tư, chẳng hạn: nghĩa vụ xây dựng quy trình hoạt động và quản lý rủi ro cho từng nghiệp vụ; nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho khách hàng trong trường hợp không thực hiện nghĩa vụ gây thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của khách hàng, trừ trường hợp bất khả kháng; trích lập quỹ phòng ngừa rủi ro nghiệp vụ để bù đắp cho các tổn thất của khách hàng do sự cố kỹ thuật, do sơ suất của của nhân viên trong quá trình hoạt động… Các quy định này tạo cơ sở pháp lý cho người đầu tư có thể đối kháng để tự bảo vệ mình khi bị tổn thất trong quá trình sử dụng các dịch vụ đăng ký, lưu ký, thanh toán, bù trừ chứng khoán. Ngoài quy định trên đây, mặc dù Luật chứng khoán đã chấp nhận mô hình tổ chức và hoạt động của Sở GDCK và Trung tâm GDCK ở Việt Nam theo thông lệ quốc tế, nghĩa là coi các chủ thể này như công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần [4, điều 34] nhưng hiện tại có nhiều ý kiến cho rằng, với cách thức tổ chức và hoạt động như hiện nay (dưới hình thức tổ chức sự nghiệp có thu và thuộc sở hữu Nhà nước), Trung tâm GDCK có khả năng làm gây ra các hoạt động giao dịch nội gián. Theo lộ trình mới nhất mà Bộ Tài chính dự kiến trình Thủ tướng về việc chuyển TTGDCK thành phố Hồ Chí Minh thành SGDCK thì việc chuyển đổi này sẽ diễn ra theo hai giai đoạn. Giai đoạn 1 từ 2007 đến 2010, TTGDCK chuyển thành SGDCK theo mô hình công ty TNHH 1 thành viên; giai đoạn 2 sau năm 2010 sẽ chuyển thành CTCP bằng cách định giá lại tài sản và bán bớt phần vốn của nhà nước. Trong dự kiến của Bộ Tài Chính, TTGDCK Hà Nội sẽ chuyển thành công ty TNHH 1 thành viên, tiến tới chuyển thành CTCP do Nhà nước nắm quyền chi phối. Như vậy về lâu về dài 2 trung tâm này vẫn chịu sự quản lý của UBCKNN với tư cách vừa là cơ quan quản lý nhà nước, vừa là cấp trên chủ quản. Nhưng theo quan điểm của VAFI (hiệp hội các nhà đầu tư tài chính), nếu chuyển đổi theo mô hình trên thì các Trung tâm GDCK vẫn là tổ chức tài chính nhà nước mà chưa thể tạo được cơ chế hoạt động độc lập và chuyên nghiệp như SGDCK các nước khác. [25, tr.7]. Bên cạnh đó, lại nói về giao dịch nội gián, VAFI cho rằng mô hình hiện nay tạo cơ hội cho thông tin giao dịch nội gián ngày càng phát triển tại các TTGDCK và có văn bản kiến nghị Bộ Tài chính nhanh chóng chuyển đổi TTGDCK thành CTCP. Theo VAFI thì quy định việc công ty niêm yết phải cung cấp thông tin của mình cho TTGDCK rồi TTGDCK mới công bố ra thị trường, có thể là một kẽ hở cho hoạt động nội gián. Cơ chế này có thể phát sinh tình trạng rò rỉ thông tin trước khi được đưa ra công chúng [35]. Mặt khác, bài viết của tác giả Minh Đức trên Vneconomy cho biết, nhiều nhà đầu tư tại TTGDCK Hà Nội (HASTC) phản ánh rằng tại đây đang xuất hiện một số trường hợp có nghi ngờ liên quan đến giao dịch nội gián với nhiều dấu hiệu cụ thể [32]. Điều này cho thấy những lo ngại của VAFI không phải là không có lý. Mặc dù UBCKNN khẳng định việc rò rỉ thông tin từ SGDCK không thể xảy ra, nhưng vì quyền lợi nhà đầu tư, cũng nên nhanh chóng đưa ra các giải pháp cho vấn đề này. 2. Hiệu ứng của các quy định về quản lý Nhà nước đối với thị trường chứng khoán 2.1. Các quy định của Luật chứng khoán Phần này tập trung vào các quy định tạo cơ sở pháp lý cho các hoạt động quản lý của nhà nước đối với các chủ thể trên thị trường nhằm ngăn chặn các hành vi có thể gây xâm hại đến quyền lợi nhà đầu tư. Các quy định trong nhóm này chủ yếu đề cập đến vấn đề giám sát của Nhà nước trên thị trường chứng khoán thông qua các hoạt động thanh tra, kiểm tra, điều tra. Với nhóm các quy định đã được phân tích ở mục trước (2.1), pháp luật bảo vệ nhà đầu tư bằng cách xác lập quyền lợi mà họ có khả năng có được khi tham gia trên thị trường và thừa nhận nó thông qua các quy định, yêu cầu trong hoạt động của các chủ thể khác. Với nhóm quy định này, sự bảo vệ của pháp luật đối với quyền lợi của nhà đầu tư mang tính chủ động hơn, bằng cơ chế thanh tra, giám sát và kiểm soát từ phía Nhà nước. Có thể nhận thấy việc triển khai hoạt động này của Nhà nước không ngoài các mục tiêu cơ bản sau đây: (i) Kịp thời phát hiện ra những hành vi vi phạm pháp luật hoặc có nguy cơ xâm phạm đến quyền lợi nhà đầu tư; (ii) Ngăn chặn, phòng ngừa và hạn chế các hành vi vi phạm pháp luật trên thị trường, thông qua cơ chế giám sát chặt chẽ và thường xuyên; (iii) Tìm kiếm bằng chứng để xử lý vi phạm và giải quyết các tranh chấp xảy ra, dựa trên kết quả của hoạt động thanh tra, kiểm tra và giám sát. (iv) Nắm bắt được tình hình hoạt động của thị trường để đưa ra các quy định phù hợp và các biện pháp quản lý hiệu quả. Vì phải đảm bảo nhiều mục tiêu như vậy nên hoạt động này có thể diễn ra trong nhiều thời điểm, bằng cơ chế kiểm tra bất thường đột xuất hoặc bằng chế độ thanh tra, kiểm tra định kỳ theo kế hoạch định sẵn. Trước đây, các quy định trong Nghị định số 144/2003/NĐ-CP và những văn bản liên quan chỉ có những quy định rất sơ sài về hoạt động này. Hiện nay, hầu hết những thiếu sót này đã được Luật chứng khoán khắc phục bằng nhiều quy định mới được thể hiện trong các Điều từ 108 đến 117. Tuy vậy, xét dưới góc độ lý thuyết các quy định hiện hành về thanh tra chứng khoán chưa thể thoả mãn được hết yêu cầu của thực tiễn trong hoạt động quản lý giám sát thị trường. Cụ thể là: Thứ nhất, các quy định này chưa thể hiện được tính liên kết và xâu chuỗi giữa các yếu tố xuất hiện trên thị trường mà chủ yếu thực hiện dưới quyết định dạng chương trình kế hoạch được Chủ tịch uỷ ban chứng khoán phê duyệt. Thông thường các chương trình kế hoạch này thường mất thời gian rất lâu mới thực hiện, khi thực hiện có thể lại mất tính bất ngờ. Như vậy chưa phải là một cơ chế linh hoạt. Ngoài ra, thanh tra được tiến hành đột xuất khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật, nhưng lại không có quy định thế nào được coi là “có dấu hiệu vi phạm pháp luật”. Thứ hai, vẫn còn thiếu quy định về hoạt động điều tra (tạm thời có thể hiểu hoạt động thanh tra theo các quy định LCK đã bao gồm hoạt động kiểm tra). Sẽ có người cho rằng việc điều tra, thu thập chứng cứ là hoạt động mang tính nghiệp vụ của các cơ quan bảo vệ pháp luật, diễn ra trong quá trình tiến hành các thủ tục tố tụng hình sự, dân sự hoặc hành chính. Khẳng định đó là đúng nhưng nếu xét trong lĩnh vực chứng khoán, liệu có nên thiết lập các quy định về điều tra, thu thập chứng cứ một cách cụ thể và riêng biệt hay không thì vẫn còn đáng suy nghĩ. Bởi lẽ, chứng khoán là một lĩnh vực vô cùng rủi ro và nhạy cảm, các hoạt động nghiệp vụ thì yêu cầu trình độ chuyên môn cao nên rất cần tính chuyên nghiệp trong hoạt động điều tra. Mặt khác, nếu xét về bản chất, hoạt động điều tra và thanh tra cùng thực hiện một số hành vi như xem xét, kiểm tra, đối chiếu…để làm sáng tỏ các tình tiết của vụ việc hoặc để đưa ra các kết luận, chúng chỉ khác nhau về thời điểm tiến hành các hoạt động. Nói tóm lại, nếu được quy định một cách cụ thể hơn trong các văn bản pháp luật về chứng khoán, các quy định này sẽ có tác động rất lớn tới vấn đề bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư. 2.2. Thực tiễn áp dụng Trong thời gian vừa qua, UBCKNN đã tiến hành một số hoạt động kiểm tra, thanh tra trên thị trường. Kết quả là hầu như các công ty chứng khoán bị kiểm tra đều có những vi phạm về nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán. Đầu tiên phải nói đến những sai phạm của CTCK ngân hàng ngoại thương (VCBS) về quy trình nhận lệnh khách hàng và quy định về ưu tiên nhận lệnh khách hàng trước lệnh tự doanh khi thanh tra lần đầu. VCBS tiếp tục bị phát hiện có vi phạm trong quản lý tiền, chứng khoán của khách hàng, công ty và chế độ đăng ký, lưu ký, bù trừ, thanh toán chứng khoán trong lần kiểm tra sau [37]. Sau VCBS là CTCK Ngân hàng Á Châu (ACBS) và CTCK Thành phố Hồ Chí Minh (HSC). Theo kết luận của UBCKNN, ACBS vi phạm quy định về cầm cố chứng khoán, bên cạnh đó còn có thiếu sót như chưa có đầy đủ hệ thống sổ sách phản ánh các nghiệp vụ lưu ký, cầm cố, thanh toán bù trừ, chuyển khoản chứng khoán. Một số chứng từ về lưu ký, cầm cố chứng khoán chưa được ACBS hạch toán kịp thời, dẫn đến số liệu tại ACBS bị lệch so với số liệu của Trung tâm Lưu ký Chứng khoán. HSC cũng có một số thiếu sót tương tự như chưa có đầy đủ hệ thống sổ sách phản ánh các nghiệp vụ lưu ký, cầm cố, thanh toán bù trừ, chuyển khoản chứng khoán; chưa xây dựng quy trình thanh toán bù trừ chứng khoán và tiền cho nhà đầu tư; quy trình tất toán tài khoản cho nhà đầu tư; một số chứng từ về lưu ký, cầm cố chứng khoán chưa được hạch toán kịp thời hoặc ngày hạch toán không trùng với ngày hạch toán tại Trung tâm Lưu ký Chứng khoán, dẫn đến số liệu tại HSC bị lệch so với số liệu của Trung tâm. [36] Bên cạnh đó, còn khá nhiều sai phạm tương tự của một số công ty chứng khoán khác. Từ kết quả thanh tra của UBCKNN, có thể thấy rằng hoạt động của các CTCK nói riêng và của thị trường chứng khoán nói chung vẫn tồn tại rất nhiều vấn đề đòi hỏi sự kiểm soát của nhà nước. Một số CTCK nêu trên không phải là những CTCK không có tên tuổi hay mới thành lập, và việc UBCKNN kết luận rằng các công ty này chỉ có “thiếu sót” là không hợp lý, quá nhẹ và không thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật. Có thể nhận thấy rõ các hành vi nói trên là vi phạm pháp luật về chứng khoán và xâm phạm nghiêm trọng đến quyền lợi nhà đầu tư. Trong khi kết quả kiểm tra trên mới chỉ làm dịu đi nỗi bức xúc của rất nhiều nhà đầu tư vì tình trạng hoạt động của công ty chứng khoán hiện nay thì chính những vi phạm này đã gióng lên hồi chuông cảnh báo về sự kém an toàn, thiếu minh bạch của thị trường chứng khoán và sự quản lý, điều hành kém hiệu quả của các cơ quan có thẩm quyền, trong đó có UBCKNN. Đặc biệt là những phản ánh về việc đặt lệnh ở CTCK không đảm bảo công bằng về thứ tự ưu tiên về thời gian, ảnh hưởng nghiêm trọng và trực tiếp đến quyền lợi của nhà đầu tư. Trong bài “Tìm hiểu quy trình đặt lệnh giao dịch” trên báo Đầu tư chứng khoán, tác giả Thu Hương cho biết: Tại một số CTCK hiện nay, do quá nhiều nhà đầu tư đặt lệnh, nên nhân viên nhận lệnh không thể trực tiếp nhận lệnh của từng người một. Nhà đầu tư cứ bỏ lệnh vào khay và vì thế chẳng thể nào biết được lệnh của mình là lệnh thứ bao nhiêu. Theo các nhà đầu tư, việc chen lệnh thực hiện quá dễ dàng khi nhân viên nhận lệnh cũng sử dụng điện thoại di động hoặc thỉnh thoảng lại thấy người đến rỉ tai hoặc đưa ra những mẩu giấy có vài lời nhắn. Rõ ràng, cần phải có một quy trình chuẩn mực để giám sát việc nhận lệnh tại CTCK và nhập lệnh vào máy chủ của TTGDCK để đảm bảo quyền lợi cho nhà đầu tư khi đặt lệnh. [24, tr.11] Những phản ánh về giám sát quy trình đặt lệnh mới chỉ là một yêu cầu cơ bản nhất, công khai nhất mà nhà đầu tư có thể nhận thấy hàng ngày. Còn với những quy trình phức tạp hơn, nhạy cảm hơn thì việc bảo vệ nhà đầu tư càng đặt ra bức thiết và sự kiểm tra, giám sát của Nhà nước càng thể hiện vai trò quan trọng. Về vấn đề này, tác giả Dương Nguyễn trong bài “Rất cần những cuộc vi hành” cho biết: theo ý kiến của nhà đầu tư, UBCKNN có kế hoạch thanh tra thì cứ thế mà làm, không cần báo trước để tránh cho việc các CTCK có thời gian chuẩn bị để đối phó. Mặt khác những câu chuyện bất minh trên thị trường chứng khoán cần phải được UBCKNN làm rõ trước khi dư luận lên tiếng phản ánh [24, tr.7]. Những ý kiến này không phải không có lý, nó đặt ra những vấn đề nóng bỏng về quy trình thanh tra, kiểm tra của UBCKNN, theo đó cần có những cơ chế thanh tra theo nguồn tin từ thị trường, và rất cần có những quy trình kiểm tra thể hiện được tính độc lập, chủ động của cơ quan quản lý trong đó yếu tố đột xuất, bất ngờ sẽ phần nào quyết định tính hiệu quả cuộc thanh tra, điều tra. 3. Hiệu ứng của các quy định về xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp trên thị trường chứng khoán 3.1. Các quy định của Luật chứng khoán Không thể phủ nhận rằng việc xử lý vi phạm trên thị trường chứng khoán và giải quyết tranh chấp phát sinh trên thị trường này là hai vấn đề khác nhau. Tuy nhiên, cả hai cơ chế này đều có mục tiêu chung là bảo vệ sự nghiêm minh và tối thượng của pháp luật, qua đó nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhà đầu tư. Trên thực tế, mặc dù khả năng bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư của mỗi cơ chế đó là khác nhau nhưng không vì thế mà pháp luật coi trọng cơ chế này và coi nhẹ cơ chế kia. Có thể hình dung, hiệu ứng cơ bản của các quy định về xử lý vi phạm pháp luật và giải quyết tranh chấp trên thị trường chứng khoán trong việc bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư là khả năng ngăn ngừa các hành vi vi phạm thông qua việc trừng phạt bằng các chế tài đối với các hành vi đó. Mặt khác, việc xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp còn có tác dụng khắc phục các hậu quả thiệt hại xảy ra cho nhà đầu tư thông qua việc áp dụng chế tài phạt vi phạm hợp đồng hoặc chế tài buộc bồi thường thiệt hại. Các tác động của xử lý vi phạm hành chính hay xử lý vi phạm hình sự đều ít nhiều bảo vệ quyền lợi cho nhà đầu tư. Bên cạnh đó, việc áp dụng các chế tài dân sự hay chế tài kỷ luật cũng góp phần hạn chế những tác hại mà nhà đầu tư phải gánh chịu. Trước khi Luật chứng khoán ra đời, điều chỉnh vấn đề xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán có văn bản quan trọng là Nghị định số 161/2004/NĐ-CP ngày 7/9/2004 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán. Nghị định này quy định cụ thể các các hình thức xử phạt và mức xử phạt vi phạm hành chính theo lĩnh vực hoạt động của thị trường, bao gồm vi phạm các quy định về phát hành chứng khoán ra công chúng; về niêm yết chứng khoán trên trung tâm giao dịch chứng khoán; về hoạt động giao dịch chứng khoán, về hoạt động kinh doanh, đăng ký lưu ký, bù trừ và thanh toán các giao dịch chứng khoán; về chế độ báo cáo, công bố thông tin và cản trở việc thanh tra, kiểm tra. Hiện nay, theo quy định tại chương II mục 2 của Luật chứng khoán, các quy định nói trên vẫn tiếp tục được kế thừa, đồng thời bổ sung thêm hai quy định mới về xử lý hành vi vi phạm quy định về công ty đại chúng (Điều 122) và xử lý hành vi vi phạm quy định về tổ chức thị trường giao dịch chứng khoán (Điều 124). Sự xuất hiện của hai quy định mới này xuất phát từ việc ban hành các quy định về công ty đại chúng và tổ chức thị trường giao dịch chứng khoán. Theo quy định này, nếu tổ chức cá nhân nào tổ chức thị trường giao dịch trái quy định của Luật chứng khoán thì có thể bị đình chỉ hoạt động, tịch thu các khoản thu trái pháp luật, phạt tiền, hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Với các quy định về quản lý như hiện nay và định hướng phát triển thị trường chứng khoán của Việt Nam thì quy định này là cần thiết, vì trên thực tế thị trường mua bán “trao tay” hay thị trường ngầm đang diễn ra rất mạnh mẽ ở Việt Nam và hoàn toàn không được quản lý, giám sát. Nếu so với thị trường tập trung thì rủi ro và khả năng bị xâm phạm về quyền lợi của các nhà đầu tư trên thị trường này là rất lớn. Điều đó cho thấy sự cần thiết phải tăng cường vai trò quản lý, giám sát của Nhà nước đối với thị trường chứng khoán nói chung và thị trường giao dịch ngầm nói riêng nhằm bảo vệ một cách hiệu quả quyền lợi của các nhà đầu tư. 3.2. Thực tiễn áp dụng Có thể hình dung về một bức tranh ảm đạm của thực tiễn liên quan đến vấn đề xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp diễn ra trên thị trường chứng khoán thời gian vừa qua. Nét chấm phá điển hình nhất trong bức tranh này là các quyết định xử lý vi phạm hành chính đối với 6 công ty chứng khoán sau đợt kiểm tra của UBCKNN. Theo đó, có 4 công ty bị phạt ở mức 10 triệu đồng, một công ty ở mức 20 triệu đồng và nặng nhất là công ty cổ phần Vận tải Xăng dầu Đường thuỷ Petrolimex (Pjtaco) với mức 50 triệu đồng [37]. Tuy nhiên, thực tế nhiều người cho rằng mức phạt này còn quá nhẹ, quá nương tay với các công ty chứng khoán, trong khi những hậu quả họ gây ra cho các nhà đầu tư là không nhỏ. Khi thực hiện các hành vi vi phạm, công ty chứng khoán có thể gây thiệt hại hàng chục, có khi là vài trăm triệu đồng cho mỗi nhà đầu tư. Mặt khác, do những khoản lợi nhuận mà các CTCK thu được từ những hoạt động kinh doanh, trong đó có những hành vi trái pháp luật là rất cao, trong khi các khoản tiền phạt này là quá nhỏ nên thường không đủ mạnh và không đủ nghiêm khắc để răn đe, trừng phạt và ngăn ngừa sự tái phạm. Xuất phát từ nhu cầu của thực tiễn, Ngày 8/3/2007 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 36/2007/NĐ-CP về xử phạt hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán để thay thế cho Nghị định cũ đã tỏ ra lạc hậu, lỗi thời. Nghị định này đã hướng dẫn cụ thể những quy định của Luật chứng khoán về vấn đề xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán. Đây được coi là động thái rất kịp thời của cơ quan quản lý nhà nước song mặt khác, nhiều ý kiến cũng cho rằng mức phạt trong Nghị định còn quá thấp. Đặc biệt, quy định về mức phạt cao nhất 70 triệu đồng trong Nghị định mới là không phù hợp, vì mức phạt này đã từng được áp dụng từ khi ban hành Nghị định số 161/2003/NĐ-CP, khi quy mô của thị trường còn nhỏ bé. CHƯƠNG III MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM ĐẢM BẢO TÍNH KHẢ THI CỦA LUẬT CHỨNG KHOÁN TRƯỚC YÊU CẦU BẢO VỆ QUYỀN LỢI NHÀ ĐẦU TƯ 1. Ban hành các quy định công nhận quyền của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Có thể thấy sự ra đời của Luật chứng khoán đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho vấn đề bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư. Trong đạo luật này, có nhiều quy định đã thể hiện rõ sự tiến bộ, nhưng cũng có những quy định còn sơ sài, chung chung, chưa có khả năng bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư một cách hiệu quả. Bảo vệ nhà đầu tư bằng cách công nhận các quyền lợi mà nhà đầu tư có được thông qua những quy định về các chủ thể có liên quan là biện pháp bảo vệ đầu tiên rất hiệu quả và có tác động trực tiếp đến các biện pháp bảo vệ khác. Để hoàn thiện các quy định loại này, cần xác định các nhiệm vụ chính là tiếp tục đưa ra các quy định bổ sung cho những vấn đề còn thiếu sót và giúp công chúng tiếp cận, nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật về chức khoán và quyền lợi trong đầu tư chứng khoán. 1.1. Bổ sung các quy định còn thiếu và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật chứng khoán Để góp phần đảm bảo tính khả thi của Luật chứng khoán, điều quan trọng là cần xác định rõ những quy định còn thiếu hoặc đã có trong luật này nhưng chưa cụ thể và chưa được hướng dẫn thi hành, liên quan đến vấn đề bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư. Theo ý kiến chúng tôi, cần xem xét bổ sung, hoàn thiện các quy định của Luật chứng khoán nhằm bảo vệ quyền lợi cho nhà đầu tư, theo hướng dưới đây: Thứ nhất, trong mối quan hệ giữa nhà đầu tư và chủ thể phát hành chứng khoán: Cần công nhận quyền giám sát trực tiếp hoặc gián tiếp của nhà đầu tư đối với tổ chức phát hành và tạo ra được cơ chế giám sát rõ ràng hiệu quả. Đây là một trong những quyền năng rất quan trọng nhằm bảo đảm lợi ích hợp pháp cho nhà đầu tư trong hoạt động đầu tư chứng khoán. Sở dĩ như vậy là bởi vì, khi nhà đầu tư mua chứng khoán tức là họ đã trực tiếp hoặc gián tiếp đầu tư vào tổ chức phát hành, do vậy việc công nhận quyền được giám sát nguồn vốn đầu tư của họ là hoàn toàn chính đáng. Về cơ bản, nhà đầu tư có thể thực hiện được quyền này thông qua các phương cách chủ yếu như: Nắm bắt tình hình hoạt động của công ty thông qua các thông tin được công bố, trực tiếp giám sát hoạt động của công ty hoặc thông qua các cơ chế đại diện cho mình như Ban kiểm soát, Hội đồng quản trị ... Hiện nay, các quy định về công bố thông tin và nghĩa vụ công bố thông tin đã được quy định cụ thể và rõ ràng trong Luật chứng khoán, tuy nhiên các quy định về quản trị công ty đại chúng cần được làm rõ và được hướng dẫn cụ thể nhằm đảm bảo quyền giám sát của nhà đầu tư. Thứ hai, trong mối quan hệ giữa nhà đầu tư và chủ thể trung gian: Cần chấp nhận quyền được tiến hành một số hoạt động trung gian của chủ thể là cá nhân (ví dụ hoạt động môi giới chứng khoán và tư vấn đầu tư chứng khoán) và bước đầu xây dựng quy chế về hoạt động trung gian của cá nhân. Công nhận tư cách chủ thể của nhà môi giới cá nhân và quản lý hoạt động của nhóm chủ thể này đã và đang được thực hiện ở nhiều quốc gia trên thế giới. Để đưa ra các quy định phù hợp với tình hình thực tế ở Việt Nam hiện nay, trước hết cần tìm hiểu về cách thức hoạt động của chủ thể này, phân tích những khả năng xâm phạm tới nhà đầu tư và thị trường từ hành vi của họ để xác định thời điểm cho phép họ được tiến hành hoạt động môi giới chứng khoán. Như vậy vừa có thể ngăn chặn những rủi ro mà cá nhân môi giới có thể gây ra, mặt khác phát huy được những lợi thế của chủ thể này, tăng thêm tính năng động cho thị trường và nhất là đáp ứng được các yêu cầu của thực tiễn giao dịch chứng khoán hiện nay ở nước ta. Về vấn đề này, kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật ở Ba Lan cho thấy Luật giao dịch chứng khoán Ba Lan năm 1997 quy định rất cụ thể tại điều 21 về hoạt động trung gian môi giới của cá nhân. Một thể nhân có thể môi giới chứng khoán, được gọi là nhà môi giới hoặc tư vấn chứng khoán, được gọi là nhà tư vấn khi thoả mãn những điều kiện: (1) Có đủ năng lực thực hiện các quy định của pháp luật; (2) được hưởng các quyền công dân; (3) chưa bao giờ bị tuyên án phạm tội về tài sản hoặc tài liệu, phạm tội về kinh tế, làm giả tiền, chứng khoán hoặc con dấu, phạm tội về tài chính hoặc phạm tội đề cập tại khoản 11 hoặc phạm tội về giao dịch tại thị trường giao dịch hàng hoá được miêu tả tại các điều khoản của một luật khác; (4) ít nhất tốt nghiệp phổ thông trung học; (5) đã thi đỗ kỳ thi của Hội đồng thi cho các nhà môi giới chứng khoán hoặc Hội đồng thi cho các nhà tư vấn. Theo quy định này, một người có quyền được hành nghề môi giới khi được ghi tên vào danh sách những người môi giới, và có quyền được hành nghề tư vấn khi được ghi tên vào danh sách những nhà tư vấn [16, điều 21]. Thứ ba, trong mối quan hệ giữa các nhà đầu tư với nhau: Cần hoàn thiện các quy định về hành vi bị cấm trên thị trường chứng khoán. Phải thừa nhận rằng việc quy định các hành vi bị cấm trên thị trường chứng khoán là một vấn đề rất phức tạp và rất nhạy cảm, vì nó liên quan đến quyền lợi của nhiều chủ thể khác nhau và rất có thể bị các chủ thể này phản ứng. Thực tế cho thấy, để kiểm soát, phát hiện và ngăn chặn nguy cơ gây thiệt hại cho quyền lợi nhà đầu tư do việc thực hiện các hành vi này, rất cần có những quy định cụ thể, rõ ràng, chi tiết về mỗi dạng hành vi; những cách thức biểu hiện của nó qua các hành vi thương mại; các cơ chế phát hiện, ngăn chặn và các chế tài đối với mỗi hành vi đó. Đây là vấn đề tuy đã được đề cập đến trong Luật chứng khoán năm 2006 nhưng thiết nghĩ cần được quy định rõ hơn, chi tiết hơn bằng các văn bản dưới luật của các cơ quan hành pháp. Kinh nghiệm nước ngoài cho thấy pháp luật nhiều nước trên thế giới có những quy định rất cụ thể về vấn đề này. Chẳng hạn, về giao dịch nội gián, LCK Trung Quốc năm 1999 quy định: “Trong các hoạt động giao dịch chứng khoán, các thông tin chưa công khai về tình hình kinh doanh, tài chính của công ty hoặc có ảnh hưởng lớn tới giá chứng khoán trên thị trường của công ty được coi là thông tin nội bộ”. Các loại thông tin sau được coi là thông tin nội bộ: (1) các vụ việc nghiêm trọng như: thay đổi lớn về phương thức và pham vi kinh doanh của công ty; hành vi đầu tư lớn và quyết định mua tài sản lớn của công ty; (2) kế hoạch phân chia cổ tức hoặc tăng vốn của công ty; (3) thay đổi lớn về cơ cấu quyền cổ phiếu của công ty; (4) thay đổi lớn về đảm bảo nợ của công ty; (5) công ty thế chấp, bán tài sản chủ yếu hoặc báo hỏng quá 30% tài sản này trong một lần; (6) các hành vi của thành viên hội đồng quản trị, giám sát, giám đốc, phó giám đốc và các nhân viên quản lý cao cấp khác của công ty có thể phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại lớn theo pháp luật; (7) các phương án mua lại công ty niêm yết; (8) các thông tin quan trọng khác mà cơ quan quản lý và giám sát chứng khoán của Quốc vụ viện cho rằng có thể ảnh hưởng tới giá giao dịch chứng khoán [17, điều 69]. Về hành vi thao túng thị trường, LCK Hàn Quốc có những quy định rất cụ thể, chi tiết về bốn biểu hiện của dạng hành vi này, gồm: (1) đưa ra danh mục những hoạt động nhằm tạo biểu hiện sai hoặc lầm lẫn về giao dịch tích cực hoặc làm cho người khác có những quyết định sai về các giao dịch của các chứng khoán được niêm yết; (2) đưa ra danh mục những hoạt động nhằm dụ dỗ mua hoặc bán bất kỳ chứng khoán nào trên thị trường chứng khoán; (3) đưa ra danh mục những hoạt động nhằm mục đích gắn hoặc ổn định giá của bất kỳ chứng khoán nào, thông qua uỷ thác hay được uỷ thác cá nhân hoặc đồng uỷ thác; (4) đưa ra danh mục những hoạt động liên quan đến việc mua hoặc bán chứng khoán khác [18, điều 105]. Thứ tư, trong mối quan hệ giữa nhà đầu tư và các tổ chức khác trên thị trường: Cần nhanh chóng chuyển đổi mô hình tổ chức và hoạt động của hai TTGDCK tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh sao cho phù hợp với tình hình thực tiễn của Việt Nam và phù hợp với thông lệ quốc tế. Các bước phát triển TTGDCK Hà Nội thành thị trường OTC cần được lập kế hoạch và đưa vào thực hiện sớm, bởi lẽ vấn đề thị trường phi tập trung và những rủi ro tiềm ẩn của thị trường này hiện đang là vấn đề đáng báo động hiện nay, ít nhất là xét từ góc độ bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư. 1.2. Nâng cao trình độ hiểu biết của công chúng về pháp luật liên quan đến quyền lợi nhà đầu tư trong hoạt động đầu tư chứng khoán Để đảm bảo tính khả thi cho Luật chứng khoán trước yêu cầu bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư, rõ ràng không chỉ dựa vào việc hoàn thiện các quy định của Luật chứng khoán mà còn cần có một cơ chế tự kiểm soát hữu hiệu hơn, dựa trên cơ sở nâng cao trình độ hiểu biết thị trường và kỹ thuật đầu tư cho các nhà đầu tư chứng khoán. Bằng cách này, các nhà đầu tư chứng khoán có được khả năng tự bảo vệ mình trước nguy cơ bị xâm hại bởi hành vi của các chủ thể khác trên thị trường chứng khoán. Có thể không ngoa khi đưa ra nhận xét rằng hiện nay phần lớn các nhà đầu tư nhỏ lẻ ở Việt Nam có trình độ hiểu biết về lĩnh vực chứng khoán còn rất hạn chế. Chính điều này đã góp phần tạo ra các nguy cơ rủi ro tiềm ẩn cho quyền lợi của nhà đầu tư, khi họ mới bắt đầu tiếp cận với sân chơi thị trường chứng khoán. Đây là lý do chủ yếu để chúng tôi đưa ra kiến nghị cần áp dụng các biện pháp nhằm nâng cao trình độ hiểu biết của công chúng về chứng khoán và thị trường chứng khoán, cũng như kiến thức pháp luật về bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư khi tham gia thị trường. Theo ý kiến chúng tôi, việc áp dụng các biện pháp nhằm nâng cao năng lực đầu tư của nhà đầu tư cần tập trung vào những nội dung chính sau đây: Thứ nhất, cần trang bị kiến thức về đầu tư chứng khoán và đặc biệt là kiến thức pháp luật cho các nhà đầu tư khi họ chuẩn bị hoặc đã và đang tham gia vào sân chơi thị trường chứng khoán. Việc làm này sẽ cho phép ngăn ngừa những hoạt động đầu tư theo cảm tính, chạy đua theo thị trường, không dựa trên cơ sở thông tin và sự hiểu biết đúng đắn về thực trạng của thị trường chứng khoán. Bên cạnh đó, việc trang bị cho nhà đầu tư những kiến thức pháp luật cần thiết sẽ làm tăng khả năng tự bảo vệ cho họ trước nguy cơ bị xâm phạm bởi các chủ thể khác. Quyền lợi của nhà đầu tư chỉ được bảo vệ hiệu quả khi họ nhận thức được các quyền lợi mà mình có và các cách thức có thể sử dụng để bảo vệ cho quyền lợi đó. Trên thực tế, việc nâng cao năng lực đầu tư của các nhà đầu tư có thể thực hiện bằng nhiều cách, chẳng hạn như biện pháp đẩy mạnh tuyên truyền kiến thức về chứng khoán và pháp luật về chứng khoán thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, thông qua các trường, lớp đào tạo về kỹ năng đầu tư chứng khoán, thông qua con đường tư vấn trực tiếp hoặc gián tiếp cho các nhà đầu tư đã hoặc đang có ý định tham gia đầu tư. Công việc này đòi hỏi sự tham gia hỗ trợ đắc lực của các nhà làm luật, các luật sư, các chuyên gia về chứng khoán và thậm chí là của những nhà đầu tư chuyên nghiệp và giàu kinh nghiệm đầu tư trên thương trường. Thứ hai, để nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo năng lực đầu tư cho các nhà đầu tư chứng khoán, cần sử dụng vai trò hỗ trợ của các hiệp hội, nhất là Hiệp hội kinh doanh chứng khoán và những tổ chức hỗ trợ nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán. Kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới cho thấy rằng, Luật chứng khoán của nhiều nước có ghi nhận địa vị pháp lý và vai trò tích cực của các tổ chức hiệp hội, trong đó có Hiệp hội kinh doanh chứng khoán như một cơ chế hỗ trợ bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư và giám sát hoạt động thị trường thông qua các thành viên của mình. Trong đó, các hiệp hội giữ vai trò quan trọng như ban hành các chuẩn mực trong hoạt động nghiệp vụ, thực hiện việc đào tạo, mở các trường, lớp đào tạo chuyên sâu trong lĩnh vực chứng khoán, tiếp nhận các ý kiến phản ánh liên quan đến thị trường…Các hoạt động này tạo điều kiện nâng cao hiểu biết cho các nhà đầu tư và là một kênh thông tin quan trọng thu nhận những phản ứng tức thời từ thị trường, góp phần quản lý thị trường. Như vậy, để nâng cao khả năng tự bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư, pháp luật không chỉ cần có những quy định cụ thể về nhóm chủ thể này mà cần tạo ra các cơ chế hỗ trợ thỏa đáng để nhà đầu tư có được cơ hội tiếp cận với thông tin thị trường một cách đầy đủ và hiệu quả nhất. 2. Hoàn thiện các quy định về quản lý Nhà nước đối với thị trường chứng khoán Các quy định thể hiện sự chủ động quản lý của nhà nước chủ yếu đề cập đến vấn đề giám sát, kiểm tra, thanh tra thị trường chứng khoán. Để những quy định này có khả năng thực thi một cách hiệu quả trong thực tế, cần giải quyết hai vấn đề: a) nội dung các quy định cần được hoàn thiện theo hướng chi tiết, đầy đủ, phù hợp, có khả năng thực hiện trên thực tế; và b) hoàn thiện các thiết chế bổ trợ và xây dựng mô hình giám sát thị trường toàn diện. Thứ nhất, cần hoàn thiện nội dung của các quy định về thanh tra, giám sát thị trường. Ngoài các quy định hiện hành của Luật chứng khoán về thanh tra, kiểm tra, giám sát thị trường chứng khoán thì cần bổ sung thêm các quy định về hoạt động điều tra chứng khoán. Theo chúng tôi, đây là các quy định rất cần thiết nhằm nâng cao tính minh bạch của thị trường chứng khoán và thông qua đó bảo vệ hiệu quả quyền lợi của các nhà đầu tư chứng khoán. Việc hình thành các quy định riêng biệt trong lĩnh vực này và thành lập các tổ chức điều tra chuyên nghiệp về chứng khoán sẽ tạo ra hiệu quả thực tế cho hoạt động của thị trường chứng khoán. Nghiệp vụ điều tra trên thị trường chứng khoán đặc biệt ở chỗ, ngoài việc thu thập thông tin, chứng cứ, số liệu cần phải thực hiện, còn cần đến hoạt động phân tích các dữ liệu đó để chứng minh các hành vi vi phạm ẩn dấu đằng sau đó. Công việc này cần đến sự tham gia của các chuyên gia trong lĩnh vực chứng khoán. Hoạt động của cơ quan điều tra cần được tổ chức toàn diện, bao gồm các hoạt động kiểm tra, giám sát, thanh tra, điều tra. Các hoạt động này sẽ nâng cao tính tự chủ của hoạt động quản lý nhà nước, đồng thời hỗ trợ cho hoạt động tố tụng sau điều tra. Thứ hai, cần hoàn thiện các thiết chế bổ trợ và xây dựng mô hình giám sát thị trường toàn diện. Về mô hình giám sát thị trường, rõ ràng sẽ không đạt được hiệu quả tối đa nếu chỉ được thực hiện bởi các cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán. Điều đó cho thấy rằng để có được một mô hình giám sát thị trường toàn diện và hiệu quả, nhất thiết phải tạo được sự liên kết linh hoạt từ các mắt xích hay các thành tố chủ yếu của thị trường như UBCKNN, SGDCK, TTGDCK, các chủ thể, các nguồn thông tin, các biến động thị trường. Có thể thiết lập mô hình giám sát như sau: - UBCKNN giám sát thị trường thông qua các hoạt động cấp phép và hoạt động của cơ quan điều tra. - SGDCK giám sát hoạt động công bố thông tin của tổ chức niêm yết, của các thành viên, giám sát hoạt động giao dịch. - Hiệp hội ngành nghề chứng khoán giám sát hoạt động của thành viên. Trong đó cơ quan điều tra của UBCKNN chịu trách nhiệm thu thập, tiếp nhận thông tin, biến động thị trường; phân tích và đánh giá để đưa ra quyết định điều tra hợp lý. 3. Hoàn thiện các quy định về xử lý vi phạm, giải quyết tranh chấp và bồi thường thiệt hại Luật chứng khoán hiện hành đã có những quy định chung về vấn đề xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo, bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực chứng khoán. Tuy nhiên, rõ ràng việc thực hiện các quy định này còn phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố khác như năng lực làm việc của cơ quan quản lý, tính hợp lý và đồng bộ giữa các quy định khác của pháp luật về hành chính, hình sự, dân sự, thương mại. Việc hoàn thiện các quy định này nhằm hướng tới hai nhóm quan hệ cơ bản liên quan đến quyền lợi nhà đầu tư, đó là: a) các quy định về xử lý vi phạm trong lĩnh vực chứng khoán; và b) các quy định về giải quyết tranh chấp, bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực chứng khoán. 3.1. Hoàn thiện các quy định về xử lý vi phạm trong lĩnh vực chứng khoán Vấn đề xử lý vi phạm thường liên quan đến ba lĩnh vực chính là hành chính, dân sự và hình sự. Các quy định về xử lý vi phạm trong Luật chứng khoán hiện hành đều khẳng định khả năng bị truy cứu trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hành chính và trách nhiệm dân sự đối với người có hành vi vi phạm pháp luật về chứng khoán. Về xử lý vi phạm hành chính, hiện đã có Nghị định 36/2007/NĐ-CP về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán. Tương tự, về xử lý vi phạm dân sự trong lĩnh vực chứng khoán, hiện đã có các quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 về trách nhiệm dân sự trong hợp đồng và ngoài hợp đồng. Riêng vấn đề xử lý vi phạm hình sự thì hiện tại pháp luật hình sự nước ta vẫn còn thiếu các quy định cần thiết liên quan đến việc bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư, chẳng hạn như các tội danh đặc thù trong lĩnh vực chứng khoán, vấn đề truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân vi phạm pháp luật về chứng khoán và gây thiệt hại nghiêm trọng cho quyền lợi của nhà đầu tư. Thực tế pháp lý hiện nay ở nước ta cho thấy, để xử lý vi phạm hình sự trong lĩnh vực chứng khoán, do không có những tội danh tương ứng trong Bộ luật hình sự nên các cơ quan có thẩm quyền buộc phải áp dụng những quy định trong bộ luật hình sự về một số tội danh có những đặc điểm tương đồng, ví dụ như: a) Hành vi vi phạm quy định về hoạt động kinh doanh chứng khoán và chứng chỉ hành nghề có các dấu hiệu của tội kinh doanh trái phép, có thể được áp dụng xử lý theo điều 159 Bộ luật hình sự; b) Hành vi vi phạm quy định về tổ chức thị trường giao dịch chứng khoán của một số cá nhân có thẩm quyền có dấu hiệu của tội cố ý làm trái các quy định nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng, có thể áp dụng xử lý theo điều 165 Bộ luật hình sự… Tuy vậy, đây chỉ là cách giải quyết tạm thời, trong tương lai cần phải có các quy định mới của Bộ luật hình sự về các tội danh cụ thể về vấn đề này. Chỉ có như vậy mới bảo vệ được quyền lợi nhà đầu tư một cách tích cực và hiệu quả nhất. 3.2. Hoàn thiện các quy định về giải quyết tranh chấp và bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực chứng khoán Theo quy định hiện hành của LCK, việc giải quyết tranh chấp trên thị trường chứng khoán sẽ được thực hiện theo thứ tự ưu tiên thông qua các con đường thương lượng, hoà giải, trọng tài hoặc toà án. Có thể nhận thấy, các quy định hiện hành về giải quyết tranh chấp đã được quy định rất đầy đủ bởi các Luật chung và chuyên ngành. Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy rằng việc giải quyết các tranh chấp về chứng khoán thường gặp phải một số khó khăn và vướng mắc nhất định, trong đó nổi cộm nhất là vấn đề xác định thiệt hại để dựa trên cơ sở đó xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Ở các nước, LCK thường quy định rất rõ nghĩa vụ bồi thường cho từng loại hành vi gây thiệt hại, đi kèm với cách thức xác định trị giá khoản bồi thường trong một số trường hợp cụ thể. Chẳng hạn, LCK Hàn Quốc quy định về mức bồi thường tổn thất do hồ sơ sai sót được quy định tại điều 15, trách nhiệm bồi thường của kiểm toán viên trong điều 197 được xác định là: Lượng chênh lệch giữa mức thực trả của bên nguyên để mua chứng khoán và một trong các giá trị sau đây: (1) Giá trị thị trường của chứng khoán tại thời điểm kết thúc xét xử ứng khẩu nếu có đơn kiện đối với các chứng khoán liên quan (trong trường hợp không có giá trị thị trường thì sẽ áp dụng giá trị được đánh giá tại thời điểm chứng khoán được bán thanh lý); (2) Giá trị mà tại đó chứng khoán sẽ được bán thanh lý, trong trường hợp việc thanh lý những chứng khoán này được tiến hành trước thời điểm kết thúc xét xử nêu trong trường hợp (1). Còn Luật chứng khoán Thái Lan năm 1992 quy định tại điều 82 về giá trị đền bù thiệt hại do bản đăng ký phát hành và bản thông cáo phát hành có nội dung giả mạo: Là phần chênh lệch của số tiền mà người khiếu tố đã bỏ ra để mua chứng khoán đó với giá trị thực tế, nếu có sự thông báo công khai đúng đắn thông tin theo quy định của Văn phòng, nhưng không được thấp hơn mệnh giá của chứng khoán đó, cộng với lãi suất của phần chênh lệch trên thời gian sở hữu chứng khoán theo tỷ lệ lãi suất bình quân tiền gửi có kỳ hạn từ 1 năm trở lên của ít nhất là bốn ngân hàng thương mại do Văn phòng quy định. Tương tự như vậy, Luật chứng khoán và giao dịch chứng khoán Nhật Bản năm 1948 cũng có quy định chi tiết về khoản tiền bồi thường khi đưa ra những tuyên bố sai tại điều 19; khoản tiền phải bồi thường do hành vi gây rối loạn thị trường tại điều 160. Ở Việt Nam, nhà làm luật lựa chọn giải pháp không đưa ra các quy định cụ thể về việc xác định giá trị khoản bồi thường trong từng trường hợp vi phạm mà dựa trên các quy định chung của Bộ luật dân sự và Luật thương mại về bồi thường thiệt hại. Luật thương mại 2005 quy định: bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm. Trong đó, giá trị bồi thường thiệt hại gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị thiệt hại đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm [10, điều 302]. Đối với các hợp đồng thương mại thông thường, để xác định các khoản thiệt hại đó, có thể căn cứ vào các yếu tố của hợp đồng như giá trị hàng hoá, thời điểm giao kết, thời điểm thực hiện nghĩa vụ. Nhưng trong giao dịch chứng khoán, việc định lượng các yếu tố đó là vô cùng khó khăn. Có thể lấy một ví dụ cụ thể để phân tích: giả sử, mối quan hệ giữa công ty chứng khoán A và khách hàng B là một hợp đồng dịch vụ môi giới. Ngày 1/1/2007 khách hàng B đặt lệnh bán 10.000 cổ phiếu X, giá 150.000 VNĐ/cổ phiếu nhưng CTCK A nhập thành lệnh mua 10.000 cổ phiếu với giá 155.000 VNĐ/cổ phiếu, lệnh được khớp. Giá cổ phiếu X có xu hướng giảm mạnh, khách hàng B thấy bị thiệt hại, vào ngày 4/1/2007 đã kiện ra toà, tại thời điểm này giá cổ phiếu X là 120.000 VNĐ/cổ phiếu. Ngày 4/2/2007 Toà án kết luận CTCK A có hành vi vi phạm, gây thiệt hại và phải bồi thường cho khách hàng, lúc này giá cổ phiếu X là 130.000 VNĐ/cổ phiếu. Vậy CTCK phải bồi thường cho khách hàng bằng cách nào và bồi thường bao nhiêu? Có một số vấn đề phải xem xét trong trường hợp này: Thứ nhất, hành vi của công ty chứng khoán có thể đã gây ra hai loại thiệt hại cho khách hàng, đó là: thiệt hại do không bán được chứng khoán với giá tốt và mua phải chứng khoán với giá cao, vậy CTCK sẽ huỷ bỏ giao dịch sai bằng cách mua lại 10.000 cổ phiếu với giá 155.000 VNĐ/cổ phiếu và thực hiện lệnh bán của khách hàng bằng cách mua 10.000 cổ phiếu với giá 150.000 VNĐ/cổ phiếu hay bồi thường cho khách hàng một khoản xác định bằng tổng thiệt hại trên cơ sở chênh lệch giá. Thứ hai, nếu xác định thiệt hại là chênh lệch giữa giá trị đã giao dịch và giá thị trường thì giá thị trường được tính tại thời điểm khởi kiện hay thời điểm toà án đưa ra quyết định. Hiện nay các vấn đề này chưa được pháp luật quy định rõ ràng nên không có căn cứ pháp lý để giải quyết. Trong khi trên thực tế, những tranh chấp như vậy có thể diễn ra rất phổ biến trên thị trường, nhiều khi còn phức tạp hơn. Giả sử giá chứng khoán trong ngày 2/1/2007 tăng lên 160.000 VNĐ/cổ phiếu, khách hàng thấy lệnh giao dịch sai được khớp là có lợi nên không có yêu cầu gì với công ty chứng khoán. Đến ngày 4/1/2007 khi giá giảm mạnh, khách hàng mới phản ánh việc nhập lệnh sai với công ty chứng khoán và không được chấp nhận. Trong tình huống này, liệu có mặc nhiên coi như khách hàng đã chấp nhận giao dịch bị nhầm vì không có khiếu nại ngay đến công ty chứng khoán hay không? Đây là các vấn đề cần được pháp luật quy định cụ thể. Tóm lại, vi phạm trên TTCK có rất nhiều loại và các vi phạm đó có thể dẫn đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng hoặc trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Vì vậy, cần hoàn thiện các cơ sở pháp lý cho vấn đề này để tạo điều kiện cho việc bảo đảm quyền lợi nhà đầu tư một cách thỏa đáng. Giải quyết vấn đề này sẽ góp phần bảo vệ nhà đầu tư khi quyền lợi của họ bị xâm phạm và trên cơ sở đó góp phần hạn chế nguy cơ xảy ra các tranh chấp trên TTCK KẾT LUẬN Trong quá trình xây dựng và vận hành thị trường chứng khoán, việc bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư không chỉ mang ý nghĩa như một nhiệm vụ chính trị và trách nhiệm xã hội của Nhà nước, mà còn là biện pháp rất hiệu quả để khuyến khích sự tham gia của giới đầu tư vào thị trường chứng khoán và đảm bảo cho thị trường này hoạt động an toàn, ổn định và tăng trưởng bền vững. Nhằm mục tiêu nghiên cứu những hiệu ứng của Luật chứng khoán đối với vấn đề bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư, khoá luận này đã được triển khai trong bối cảnh thị trường chứng khoán Việt Nam đang trên đà tăng trưởng mạnh mẽ nhưng thiếu tính ổn định và bền vững, đặc biệt là thiếu sự công khai, minh bạch và có thể gây ra các thiệt hại rất lớn cho quyền lợi hợp pháp của giới đầu tư chứng khoán tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu đề tài được thể hiện tập trung ở việc làm rõ bản chất của hoạt động đầu tư chứng khoán; cơ chế bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư bằng luật chứng khoán và những tác động, hiệu ứng cơ bản của Luật chứng khoán trước yêu cầu bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư. Trên cơ sở đó, khóa luận cũng tìm cách đưa ra một số kiến nghị nhằm đảm bảo tính khả thi của Luật chứng khoán trước yêu cầu bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư. Để có được kết quả này, khóa luận đã khai thác nguồn tư liệu từ lý luận và thực tiễn vận hành thị trường chứng khoán Nam, tren cơ sở tham khảo kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật của nước ngoài đối với vấn đề bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư bằng pháp luật chứng khoán. Đây là những nguồn tài nguyên quý giá để đem lại kết quả nghiên cứu của khóa luận. Hy vọng rằng những kết quả nghiên cứu của khóa luận này sẽ góp phần nhỏ bé vào việc bảo vệ tốt hơn nữa quyền lợi của nhà đầu tư, trên cơ sở đó góp phần đảm bảo sự vận hành ổn định và an toàn cho thị trường chứng khoán Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế./. TÀI LIỆU THAM KHẢO Đại học kinh tế quốc dân (2003), Giáo trình “Kinh tế đầu tư”, NXB Thống kê, Hà Nội, tr16,17 Trường Đại học Luật Hà Nội (2006),Giáo trình “Luật đầu tư”, NXB Công an nhân dân, Hà Nội Trường Đại học Ngoại thương (1998), Giáo trình “Thị trường chứng khoán”, NXB Giáo dục, Hà Nội. Luật chứng khoán. Luật chứng khoán Ba Lan thông qua ngày 21/08/1997, tài liệu dịch. Luật chứng khoán nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa (được thông qua tại kỳ họp thứ 6 của Uỷ ban thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân Dân Toàn quốc khoá 9, ngày 29/12/1998), tài liệu dịch. Luật chứng khoán và giao dịch chứng khoán Hàn Quốc, tài liệu dịch Luật chứng khoán và giao dịch chứng khoán Thái Lan năm 1992 được ban hành ngày 12/03 B.E 2535, tài liệu dịch Luật doanh nghiệp năm 2005 Luật Thương mại năm 2005 Luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán Nhật Bản, tài liệu dịch Nghị định 144/2004/NĐ-CP ngày 28/11/2003 về chứng khoán và thị trường chứng khoán Nghị định số 14/2007/NĐ-CP ngày 19/01/2007 quy định chi tiết một số điều của Luật chứng khoán. Nghị định số 161/2004/NĐ-CP ngày 07/09/2004 về xử phạt vi phạm vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán. Nghị định số 36/2007/NĐ-CP ngày 08/03/2007 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán. Nghị định số 36/2007/NĐ-CP ngày 08/03/2007 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán. Luật chứng khoán Ba Lan thông qua ngày 21/08/1997, tài liệu dịch Luật chứng khoán nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa (được thông qua tại kỳ họp thứ 6 của Uỷ ban thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân Dân Toàn quốc khoá 9, ngày 29/12/1998), tài liệu dịch. Luật chứng khoán và giao dịch chứng khoán Hàn Quốc, tài liệu dịch Luật chứng khoán và giao dịch chứng khoán Thái Lan năm 1992 được ban hành ngày 12/03 B.E 2535, tài liệu dịch Luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán Nhật Bản, tài liệu dịch. Anh Ngọc, Hạng thương gia, Tạp chí đầu tư chứng khoán, số 20, ngày 8/3/2007 Bùi Sưởng và Kim Lam, Đằng sau cái bóng của Vip, Tạp chí đầu tư chứng khoán, số 6, ngày 18/1/2007 Đạt Hoa, Phòng tránh những rủi ro không đáng có, Tạp chí đầu tư chứng khoán, số 8, ngày 25/01/2007. Dương Nguyễn, Rất cần những cuộc vi hành, Tạp chí Đầu tư chứng khoán, số 8, 25/1/2007. Ngọc Hà, Lộ trình dự kiến của Sở giao dịch chứng khoán, Tạp chí đầu tư chứng khoán, số 3, ngày 8/1/2007. Thu Hương, Tìm hiểu quy trình đặt lệnh giao dịch, Tạp chí Đầu tư chứng khoán, số 8, 25/1/2007. Thuỳ Vinh, Khi Thượng đế khóc ròng, Tạp chí Đầu tư chứng khoán, số 6, ngày 18/1/2007. khoan/2007/03/3B9F4401/ BẢNG CHỮ VIẾT TẮT LCK : Luật chứng khoán SGDCK : Sở giao dịch chứng khoán TTCK : Thị trường chứng khoán TTGDCK : Trung tâm giao dịch chứng khoán UBCKNN : Uỷ ban chứng khoán nhà nước MỤC LỤC

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docLDOCS (80).doc
Tài liệu liên quan