Mối liên quan giữa bạo hành về thể chất, tinh thần và tình dục với mang thai ngoài ý muốn ở phụ nữ dưới 25 tuổi tại bv Từ Dũ (2010)

Hướng nghiên cứu trong tương lai: cần có những nghiên cứu định tính nhằm xác định yếu ố nguy cơ của các loại bạo hành. Phổ biến rộng rãi trong trường học và xã hội về: “Luật phòng chống bạo lực gia đình”. Mở rộng các chương trình giáo dục sức khỏe inh sản, cung cấp kiến thức về các biện pháp ngừa thai cho đối tượng công nhân cũng như ác biến chứng của nạo phá thai. Tầm soát nhằm phát hiện các trường hợp bị bạo hành thể chất, tinh thần hoặc tình dục ở những phụ nữ đến phá thai từ đó cung cấp các địa chỉ tư vấn và hỗ trợ để họ có nơi chia sẻ và bảo vệ quyền lợi.

pdf8 trang | Chia sẻ: huongthu9 | Ngày: 19/08/2021 | Lượt xem: 199 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Mối liên quan giữa bạo hành về thể chất, tinh thần và tình dục với mang thai ngoài ý muốn ở phụ nữ dưới 25 tuổi tại bv Từ Dũ (2010), để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 1 * 2011 Chuyên Đề Sức Khỏe Sinh Sản Và Bà Mẹ - Trẻ Em 94 MỐI LIÊN QUAN GIỮA BẠO HÀNH VỀ THỂ CHẤT, TINH THẦN VÀ TÌNH DỤC VỚI MANG THAI NGOÀI Ý MUỐN Ở PHỤ NỮ DƯỚI 25 TUỔI TẠI BV TỪ DŨ (2010). Trần Thị Nhật Vy*, Võ Minh Tuấn** TÓM TẮT Mục tiêu: Xác định mối liên quan giữa mang thai ngoài ý muốn ở những phụ nữ dưới 25 tuổi với các loại bạo hành gia đình: bạo hành tinh thần, bạo hành thể chất, bạo hành tình dục và một số đặc điểm dịch tễ, xã hội. Phương pháp: Nghiên cứu bệnh - chứng không bắt cặp được thực hiện tại bệnh viện Từ Dũ trong thời gian từ 03/2010 đến 08/2010 ở phụ nữ dưới 25 tuổi. Nhóm bệnh: 135 phụ nữ mang thai ngoài ý muốn đến bỏ thai và nhóm chứng gồm 270 phụ nữ thai theo kế hoạch từ 37 tuần trở lên đến sanh. Kết quả: Nguy cơ mang thai ngoài ý muốn tăng lên ở những phụ nữ bị bạo hành tinh thần gấp 2,93 lần (KTC 95% = 1,258 – 6,844), bạo hành tình dục gấp 2,52 lần (KTC 95% = 1,048 – 6,055). Bạo hành gia đình nói chung làm tăng nguy cơ thai ngoài ý muốn lên 4,85 lần (KTC 95% = 3,113 – 7,554). Nếu người phụ nữ chịu đồng thời 3 nhóm bạo hành thì nguy cơ này tăng gấp 8,92 lần (KTC 95% = 3,626 – 21,924). Kết luận: Bạo hành gia đình là một yếu tố nguy cơ dẫn tới thai ngoài ý muốn ở phụ nữ dưới 25 tuổi. Thêm vào đó, phụ nữ sống ở nội thành Tp.HCM, có nghề nghiệp, công nhân hoặc CNV, kinh tế khó khăn, chưa kết hôn cũng làm tăng nguy cơ mang thai ngoài ý muốn. Do đó, nên phổ biến rộng rãi trong trường học và xã hội về: “Luật phòng chống bạo lực gia đình”. Từ khóa: Thai ngoài ý muốn, bạo hành gia đình. ABSTRACR RELATIONSHIP BETWEEN DOMESTIC VIOLENCE AND UNWANTED PREGNANCY IN WOMAN UNDER 25 YEARS OLD IN TU DU HOSPITAL (2010) Tran Thi Nhat Vy, Vo Minh Tuan * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 15 - Supplement of No 1 - 2011: 94 - 101 Objectives: Investigate the relationship between domestic violence (psychological - physical - sexual violence) and some epidemiological-social factors and unwanted pregnancy among woman under 25 years old. Methods: An unmatched case - control study among women under 25 years was carried out at TuDu hospital from March 2010 to August 2010. Cases included 135 women who have unwanted pregnancy and wait for abortion. Controls included 270 women who gave birth at full term (≥ 37 weeks). Result: Psychological violence increases the risk of unwanted pregnancy to 2.93 times (95%CI = 1.258 – 6.844), sexual violence to 2.52 times (95%CI = 1.048 – 6.055). In general, domestic violence has OR = 4.85 (95%CI = 3.113 – 7.554). The OR would be 8.92 (95%CI = 3.626 – 21.924) if women suffer from 3 combined kinds of the domestic violences. Conclusion: Domestic violence is one of the risk factors of unwanted pregnancy among women under 25 years old. Also, women who are living in HCM city, worker, officer, poor or unmarried status are more like to have unwanted pregnancy. Thus, the law of preventing domestic violence must be popularized in school and society. *Bộ Môn Sản, ĐH Y Dược TP Hồ Chí Minh Tác giả liên lạc: PGS. TS. Võ Minh Tuấn, ĐT:0909727199 Email: DrVo_obgyn@yahoo.com Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 1 * 2011 Nghiên cứu Y học Sản Phụ Khoa 95 Keywords: Unwanted pregnancy, domestic violence. ĐẶT VẤN ĐỀ Theo thống kê của Hội Kế hoạch hóa gia đình thì Việt Nam là một trong ba nước có tỷ lệ phá thai cao nhất thế giới (1,2 – 1,6 triệu ca mỗi năm), trong đó 20% thuộc lứa tuổi vị thành niên. Còn theo điều tra của Tổng cục Thống kê công bố vào cuối năm 2005, thì tỷ lệ nạn nạo phá thai của Việt Nam vẫn thuộc loại cao nhất thế giới: 82% số phụ nữ trong tuổi sinh đẻ đang có chồng đã ít nhất một lần làm thủ thuật này. Bạo hành gia đình (BHGĐ) được định nghĩa là “Những hành động cưỡng bức về thể chất, tinh thần và tình dục của bạn tình/chồng hiện tại hoặc trước đây đối với phụ nữ trong độ tuổi vị thành niên và trưởng thành”(13). Campbell và cs. (1995)(2) trong một nghiên cứu tiến hành tại Mỹ đã tìm thấy mối liên quan giữa bạo hành với việc mang thai ngoài ý muốn, ông lý giải rằng điều này xuất phát từ việc người phụ nữ bị kiểm soát trong việc dùng các biện pháp ngừa thai bởi bạn tình/chồng. Với mong muốn làm sáng tỏ mối liên quan trên nhằm một lần nữa nhấn mạnh đến ảnh hưởng của BHGĐ lên sức khỏe sinh sản của người phụ nữ, chúng tôi tiến hành nghiên cứu xác định mối liên quan giữa bạo hành về tinh thần – thể chất – tình dục với thai ngoài ý muốn ở những phụ nữ dưới 25 tuổi. Vì vậy, nghiên cứu này được tiến hành nhằm trả lời cho câu hỏi nghiên cứu: “Liệu việc mang thai ngoài ý muốn ở những phụ nữ dưới 25 tuổi có liên quan với bạo hành về tinh thần – thể chất – tình dục hay không ? “. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu chính Xác định mối liên quan giữa mang thai ngoài ý muốn ở những phụ nữ dưới 25 tuổi với các loại bạo hành gia đình: bạo hành tinh thần, bạo hành thể chất và bạo hành tình dục. Mục tiêu phụ Xác định mối liên quan giữa mang thai ngoài ý muốn ở những phụ nữ dưới 25 tuổi với một số đặc điểm dịch tễ, xã hội bao gồm: tuổi, nơi cư trú, trình độ học vấn, nghề nghiệp, kinh tế, tình trạng hôn nhân. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu Nghiên cứu bệnh chứng không bắt cặp tỷ lệ 1 bệnh: 2 chứng. Dân số mục tiêu Phụ nữ dưới 25 tuổi bị bạo hành về thể chất – tinh thần – tình dục có thai ngoài ý muốn. Dân số nghiên cứu Phụ nữ dưới 25 tuổi mang thai ngoài ý muốn đến bỏ thai và phụ nữ dưới 25 tuổi có thai theo kế hoạch từ 37 tuần trở lên đến sanh tại bệnh viện Từ Dũ. Dân số chọn mẫu Nhóm bệnh: những phụ nữ dưới 25 tuổi có thai ngoài ý muốn đến chấm dứt thai kì tại khoa Kế hoạch hóa gia đình thuộc bệnh viện Từ Dũ từ 01/03/2010 – 30/04/2010. Nhóm chứng: những phụ nữ dưới 25 tuổi có thai theo kế hoạch từ 37 tuần trở lên đến sanh tại bệnh viện Từ Dũ từ 03/05/2010 – 31/08/2010. Tiêu chuẩn chọn mẫu Phụ nữ dưới 25 tuổi. Nghe và hiểu tiếng Việt. Không mắc các bệnh tâm thần. Sức khỏe bình thường. Đồng ý tham gia nghiên cứu. Tiêu chuẩn loại trừ Nhóm bệnh: Chấm dứt thai kì do chỉ định y khoa. Nhóm chứng: Thai kì ngoài ý muốn trong lần có thai này. Thai <37 tuần. Tiền sử có thai ngoài ý muốn. Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 1 * 2011 Chuyên Đề Sức Khỏe Sinh Sản Và Bà Mẹ - Trẻ Em 96 Cỡ mẫu Áp dụng công thức tính cỡ mẫu cho thiết kế bệnh – chứng: 2 21 2 /21 )(p )Z)(1)(( )1( p Zpp r rn − +−+ = − αβ Trong đó: α: xác suất sai lầm loại 1 = 0,05. 1 - ß: năng lực mẫu = 0,8 (80%). P1: xác suất phơi nhiễm trong nhóm bệnh. P2: xác suất phơi nhiễm trong nhóm chứng. Tỷ lệ phụ nữ bị bạo hành về thể chất: 30,9%(12). Tỷ lệ phụ nữ bị bạo hành về tinh thần: 25%(11). Tỷ lệ phụ nữ bị bạo hành về tình dục: 30%(11). 1 2 2 P PP += OR = 2. Cỡ mẫu tối thiểu để đảm bảo năng lực mẫu cho mục tiêu chính là 369 trường hợp với 123 trường hợp cho nhóm bệnh và 246 trường hợp cho nhóm chứng. Công cụ thu thập số liệu Công cụ thu thập số liệu có nguồn gốc từ bảng câu hỏi của TCYTTG: “Nghiên cứu đa quốc gia về Sức khỏe và Kinh nghiệm sống của phụ nữ”(14). Bảng câu hỏi được phát triển nhằm mục đích áp dụng cho những nền văn hóa khác nhau và thích hợp cho việc so sánh giữa các nền văn hóa. TCYTTG đã dựa trên những thang đo đánh giá về mức độ bạo hành như “Chỉ số của bạo hành vợ chồng” và “Thang đo mức độ mâu thuẫn” là những công cụ có giá trị tin cậy cao. Bảng câu hỏi được dịch sang tiếng Việt, từng được dùng trong nghiên cứu: “Tìm hiểu về tình hình sức khỏe phụ nữ và các sự kiện liên quan trong đời” thực hiện tại tỉnh Ba Vì – Hà Tây(12)(13). Bảng câu hỏi gốc bao gồm 18 trang chia thành 7 phần với 89 câu, trong đó chỉ có phần thứ 5: “Người phụ nữ và sự kiện liên quan” với 3 câu hỏi 504, 505, 506 là có liên quan đến mục tiêu nghiên cứu của chúng tôi. Qua nghiên cứu thử, chúng tôi quyết định chỉnh sửa bảng câu hỏi gốc bằng cách chỉ lấy 3 câu 504, 505, 506 nhằm xác định BHGĐ. Từ đó, BHGĐ sẽ được đánh giá bằng cách phân nhóm bạo hành (thể chất, tinh thần, tình dục), mức độ thường xuyên và mức độ nặng mà bạo hành xảy ra trong vòng 12 tháng trước khi đối tượng nghiên cứu có thai. Phương pháp tiến hành Nghiên cứu thử 30 người cho nhóm bệnh tại khoa KHHGĐ và 30 người cho nhóm chứng tại khoa Hậu sản vào 01/03/2010, mục đích nhằm đánh giá mức độ dễ hiểu và hoàn chỉnh bảng câu hỏi đặc biệt là tình trạng kinh tế. Vì yếu tố này chưa có một qui định phân loại cụ thể nào để đánh giá nhưng trong y văn đó là yếu tố có liên quan đến thai ngoài ý muốn. Kết quả là đối tượng được khảo sát sẽ tự đánh giá về tình trạng kinh tế của mình. Mẫu nghiên cứu thử này không tính trong mẫu nghiên cứu chung. Việc lấy mẫu được chia thành 2 bước Bước 1: Tiến hành tại khoa KHHGĐ bắt đầu từ ngày 15/03/2010 và kết thúc vào ngày 30/04/2010. Chọn mẫu theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống, lấy mẫu vào 4 ngày trong tuần (thứ hai, thứ ba, thứ năm và thứ sáu), sáng từ 8 – 12 giờ và chiều từ 13 – 19 giờ. Tất cả các trường hợp đến bỏ thai, thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu đều được quy ước là mang thai ngoài ý muốn. Tác giả ngồi tại phòng tư vấn trước khi bỏ thai, nhận bệnh và chọn bệnh vào mẫu nghiên cứu. Bước 2: Tiến hành tại khoa Hậu sản bắt đầu từ ngày 03/05/2010 và kết thúc vào ngày 31/08/2010. Đối với nhóm chứng, chúng tôi lấy mẫu theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống. Mỗi ngày, vào buổi sáng trước khi thu thập số liệu, tác giả mở sổ nhận bệnh của khoa, ghi tên và đánh số thứ tự (bắt đầu từ số “1”) cho tất cả sản phụ dưới 25 tuổi, sanh đủ tháng (≥ 37 tuần), nhập khoa từ 7 giờ ngày hôm trước đến 6 giờ 59 phút ngày hôm đó. Sau đó, dùng phần mềm chọn 4 sản phụ ngẫu nhiên trong danh sách đó để phỏng vấn. Lấy mẫu vào 4 ngày trong tuần Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 1 * 2011 Nghiên cứu Y học Sản Phụ Khoa 97 (thứ hai, thứ ba, thứ năm và thứ sáu), sáng từ 7 giờ 30 phút – 11 giờ và chiều từ 13 – 17 giờ. Tất cả các trường hợp dưới 25 tuổi, mang thai ≥ 37 tuần, sanh thường tại khoa Hậu sản được sàng lọc bằng bảng câu hỏi để xác định rằng thai kì lần này không phải là ngoài ý muốn cũng như trước đây chưa từng mang thai ngoài ý muốn. Những đối tượng thỏa tiêu chuẩn này sau đó sẽ được nhận vào mẫu nghiên cứu. Phỏng vấn tại phòng tư vấn hậu sản Người phỏng vấn sẽ giới thiệu tên, chức danh, đọc bảng đồng thuận, nêu lợi ích mà nghiên cứu sẽ đem lại nếu có sự hợp tác của các đối tượng nghiên cứu. Sau đó, đối tượng nghiên cứu sẽ kí vào bảng đồng thuận trước khi được phỏng vấn trực tiếp bằng bảng câu hỏi soạn sẵn. Cuộc phỏng vấn đảm bảo riêng tư, chỉ có người nghiên cứu và đối tượng tham gia nghiên cứu. Trong quá trình phỏng vấn, đối tượng nghiên cứu có thể rút tên không tham gia vào bất cứ lúc nào, thông tin của họ vẫn được đảm bảo bí mật. Nếu trong quá trình nghiên cứu các đối tượng được phát hiện có liên quan đến BHGĐ sẽ được cung cấp tờ bướm có thông tin về “Luật phòng chống bạo lực gia đình”, các địa chỉ tư vấn về vấn đề này đồng thời cung cấp các thông tin về các biện pháp ngừa thai nếu các đối tượng nghiên cứu có yêu cầu. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN Đặc điểm đối tượng nghiên cứu Trong thời gian từ 15/3/2010 đến 31/08/2010, thu thập được 405 trường hợp (135 ca bệnh và 270 ca chứng). Tổng số bảng câu hỏi sử dụng cho nghiên cứu thử và nghiên cứu chính thức là 465 bảng, không có trường hợp nào từ chối tham gia nghiên cứu. Thời gian trung bình cho mỗi cuộc phỏng vấn trực tiếp kéo dài 30 – 45 phút. Sau mỗi cuộc phỏng vấn, tất cả các đối tượng nghiên cứu sẽ được tư vấn về các biện pháp ngừa thai hoặc phát tờ bướm liên quan đến vấn đề bạo hành gia đình nếu họ thuộc nhóm bị bạo hành. Tổng số tờ bướm phát ra là 166 tờ, việc phát tờ bướm bắt đầu được áp dụng khi nghiên cứu chính thức. Bảng 1: Đặc điểm xã hội của mẫu nghiên cứu. Đặc điểm Tần số (n) Tỉ lệ(%) Tỉnh 174 42,96 Ngoại thành 25 6,17 Cư trú Nội thành 206 50,86 Vị thành niên 40 9,88 Tuổi Trưởng thành 365 90,12 Cấp 1 19 4,69 Cấp 2 124 30,62 Cấp 3 151 37,28 Trình độ Trên cấp 3 111 27,41 Nội trợ 121 29,88 Công nhân 105 25,93 BB – DV 82 20,25 HS – SV 37 9,14 Nghề nghiệp CNV 60 14,81 Khó khăn 128 31,6 Đủ sống 272 67,16 Kinh tế Khá giả 5 1,23 Chưa kết hôn 95 23,46 Hôn nhân Kết hôn 310 76,54 Tổng 405 100 Nhận xét: Đa số đối tượng khảo sát có độ tuổi từ 20 tuổi – 25 tuổi (90,12%), tập trung chủ yếu ở các quận nội thành thuộc Tp.HCM (50,86%), phần lớn đã lập gia đình và đang sống với chồng (76,54%). Về trình độ học vấn: cấp 2 và cấp 3 chiếm đa số, trong đó 30,62% trình độ cấp 2 và 37,28% trình độ cấp 3, trình độ trên cấp 3 chiếm tỉ lệ không cao (27,41%). Về nghề nghiệp, đa phần đối tượng là công nhân (25,93%) hoặc nội trợ (29,88%) và đều cho rằng mình không lo lắng về tài chính (67,16%). Mối liên quan giữa các loại bạo hành với thai ngoài ý muốn Các hình thức bạo hành Bảng 2: Phân loại các hình thức bạo hành ở mẫu nghiên cứu (n = 405). Đặc điểm Nhóm chứng n (%) Nhóm bệnh n (%) Bạo hành tinh thần N = 56 N = 65 Quát mắng / Sỉ nhục / Lăng mạ 46 (82,14) 57 (87,69) Làm mất phẩm giá/thể diện trước mặt người khác 2 (3,57) 5 (7,69) Đe dọa / dọa nạt (vd: nhìn gườm, đập phá đồ..) 43 (76,79) 36 (55,38) Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 1 * 2011 Chuyên Đề Sức Khỏe Sinh Sản Và Bà Mẹ - Trẻ Em 98 Đặc điểm Nhóm chứng n (%) Nhóm bệnh n (%) Dọa đánh đập đối tượng hoặc người họ yêu quý 10 (17,86) 15 (23,08) Bạo hành thể chất N = 44 N = 42 Tát hoặc ném vật gì vào người 26 (59,09) 19 (45,24) Đẩy hoặc xô thứ gì vào người 10 (22,73) 11 (26,19) Đánh bằng tay hoặc vật gì 20 (45,46) 23 (54,76) Đá, lôi kéo hay cào cấu 15 (34,09) 19 (45,24) Bóp cổ hoặc làm bỏng 2 (4,54) 5 (11,90) Dọa sử dụng hoặc đã sử dụng dao, kéo gây hại 0 (0) 0 (0) Bạo hành tình dục N = 30 N = 51 Dùng vũ lực cưỡng ép quan hệ tình dục 1 (3,33) 5 (9,80) Bắt quan hệ tình dục dù đối tượng không muốn 20 (66,67) 42 (82,35) Bắt quan hệ tình dục bằng đường miệng, hậu môn hoặc dùng dụng cụ kích dục dù đối tượng không muốn 17 (56,67) 31 (60,78) Trong các kiểu bạo hành tinh thần, “Quát mắng/Sỉ nhục” và “Đe dọa” chiếm tỷ lệ cao ở cả 2 nhóm, thấp nhất là hình thức “Làm mất phẩm giá/thể diện trước mặt người khác”. Tuy nhiên, tỷ lệ phụ nữ có thai ngoài ý muốn bị bạn tình/chồng gây mất thể diện trước mặt người khác cao hơn nhóm chứng 2 lần (7,69% so với 3,57%). Trong các hành vi bạo hành thể chất, “tát vào mặt” và “đánh bằng tay hoặc vật gì” chiếm tỷ lệ cao nhất (tỷ lệ lần lượt: 9,14%; 10,62% – tính trên tổng 405 người). Trong nhóm mang thai ngoài ý muốn, hơn một nửa phụ nữ bị ít nhất 1 lần bạn tình/chồng dùng tay hoặc vật gì để đánh (54,76%). Tương tự, có 59,09% trường hợp bị tát hoặc ném vật gì vào người ở nhóm có thai theo kế hoạch.Ngoài ra, không ghi nhận trường hợp nào bị gây bỏng hoặc bị đe dọa bằng dao/súng. Trong số những người bị bạo hành tình dục thuộc nhóm thai kì ngoài ý muốn có tới 9,8% trường hợp bị cưỡng dâm bởi chính bạn tình của mình (3 trường hợp vị thành niên (60%) – 2 trường hợp trưởng thành (40%), tất cả đều chưa kết hôn), con số này cao gấp 3 lần so với nhóm chứng (3,33%). Liên quan giữa các loại bạo hành với thai ngoài ý muốn Bảng 3: Mối liên quan giữa các loại bạo hành với thai ngoài ý muốn. Loại bạo hành Nhóm bệnh N=135 (%) Nhóm chứng N=270 (%) OR KTC 95% P* Bạo hành thể chất Không 93(68,89) 226(83,70) 1 Có 42(31,11) 44(16,30) 2,32 1,425 – 3,775 0,001 Vừa 7(16,67) 14(31,82) 1,21 0,475 – 3,107 0,684 Nặng 35(83,33) 30(68,18) 2,84 1,645 – 4,885 0,000 Bạo hành tinh thần Không 70(51,85) 214(79, 26) 1 Có 65(48,15) 56(20,74) 3,55 2,267 – 5,553 0,000 Bạo hành tình dục Không 84(62,22) 240(88,89) 1 Có 51(37,78) 30(11,11) 4,86 2,902 – 8,128 0,000 Bạo hành Không 46(34,07) 193(71,48) 1 Có 89(65,93) 77(28,52) 4,85 3,113 – 7,554 0,000 1 nhóm 37(41,57) 32(41,56) 4,85 2,737 – 8,596 0,000 2 nhóm 35(39,33) 37(48,05) 3,97 2,260 – 6,969 0,000 3 nhóm 17(19,10) 8(10,39) 8,92 3,626 – 21,924 0,000 (*): Hồi quy đơn biến. Phân tích đơn biến cho thấy phụ nữ bị bạo hành về thể chất có nguy cơ mang thai ngoài ý muốn cao gấp 2,32 lần và nếu họ bị bạo hành ở mức độ nặng có nguy cơ mang thai ngoài ý muốn cao gấp 2,84 lần so với người không bị bạo hành (P <0,05). Lý giải chính cho việc bạo hành thể chất trước thai kì dẫn đến nguy cơ thai ngoài ý muốn tập trung chủ yếu vào vấn đề người phụ nữ vì sợ phải đối mặt với bạo hành nên hạn chế khả năng thương lượng với bạn tình/chồng về việc lựa chọn và sử dụng các biện pháp tránh thai một cách hiệu quả. Theo nghiên cứu tiến hành tại Ấn Độ(4) và Ghana(1) cho thấy người phụ nữ ít có quyền quyết định về khả năng sinh sản của mình và Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 1 * 2011 Nghiên cứu Y học Sản Phụ Khoa 99 lo sợ phải đối mặt với bạo hành thể chất khiến họ không ngừa thai và bị thai ngoài ý muốn. Phụ nữ bị bạo hành về tinh thần bởi bạn tình/chồng thì nguy cơ cô ta có thai ngoài ý muốn cao gấp 3,55 lần so với những phụ nữ khác (P <0,05). Cơ chế giải thích mối liên quan giữa bạo hành tinh thần với thai ngoài ý muốn cho đến nay vẫn chưa rõ. Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng thai ngoài ý muốn là kết quả của việc không ngừa thai hoặc ngừa thai thất bại, hiếm hơn, đó là hậu quả của sự cưỡng bức tình dục(5). Vì thế, những phụ nữ bị kiểm soát hành vi hoặc bị bạo hành tinh thần bởi người bạn tình/chồng có thể bị giảm cơ hội sử dụng biện pháp ngừa thai từ đó dẫn đến thai ngoài ý muốn. Bạo hành về tình dục làm tăng nguy cơ mang thai ngoài ý muốn cao gấp 4,86 (P <0,05). Kết quả phù hợp với Cripe SM & cs cũng như Pallitto & O’Campo(9). Theo các nghiên cứu trên, nguy cơ bị thai ngoài ý muốn cao hơn ở những phụ nữ từng có kinh nghiệm về bạo hành tình dục. Tương tự, một cuộc khảo sát trên diện rộng tại Uttar Pradesh (Ấn Độ) đã chứng minh rằng chính bạo hành tình dục là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thai ngoài ý muốn: những người đàn ông thừa nhận có dùng vũ lực buộc vợ quan hệ tình dục có nguy cơ gây ra thai ngoài ý muốn cao gấp 2,6 lần những người khác(6). Trong nghiên cứu này, chúng tôi quy ước tất cả những trường hợp phá thai đều là thai ngoài ý muốn và chỉ quan tâm đến tình trạng bạo hành xảy ra trong vòng 12 tháng trước khi quá trình mang thai xảy ra. Với tiêu chí như trên, kết quả phân tích cho thấy so với nhóm không bị bạo hành, những đối tượng bị bạo hành về mặt tinh thần, thể chất hoặc tình dục có nguy cơ mang thai ngoài ý muốn cao gấp 4,85 lần (P <0,05). Kết quả của chúng tôi còn cho thấy tỷ lệ phụ nữ phải chịu cả 3 loại bạo hành ở nhóm thai ngoài ý muốn cao hơn nhóm chứng (19,10% so với 10,39%). Và nếu người phụ nữ phải chịu cả 3 loại bạo hành thì họ có nguy cơ bị thai ngoài ý muốn cao gấp 8,92 lần so với nhóm không bị bạo hành (KTC 95% = 3,625 – 21,924; P <0,05). Điều đó khẳng định rằng phụ nữ càng chịu nhiều loại bạo hành cùng một lúc càng có nguy cơ mang thai ngoài ý muốn. Điều này phù hợp với báo cáo của Cripe SM và cs., so với những phụ nữ không bị bạo hành thì tỷ lệ mang thai ngoài ý muốn ở những phụ nữ từng là nạn nhân của bạo hành thể xác hoặc tình dục cao gấp 1,63 lần và 3,31 lần nếu bị bạo hành cả về thể xác lẫn tình dục. Từ đó chúng tôi nhận thấy rằng, phụ nữ càng bị nhiều loại bạo hành cùng một lúc và mức độ càng nặng thì nguy cơ mang thai ngoài ý muốn càng cao. Liên quan giữa các loại bạo hành và các yếu tố dịch tễ, xã hội với thai ngoài ý muốn Bảng 4: Phân tích hồi quy đa biến. Yếu tố OR* KTC 95% P* Tỉnh 1 Ngoại thành 2,38 0,483 – 11,819 0,286 Cư trú Nội thành 10,49 4,513 – 24,394 0,000 Tuổi 0,93 0,779 – 1,117 0,451 Cấp 1 + cấp 2 1 Cấp 3 2,29 0,980 – 5,345 0,055Trình độhọc vấn Trên cấp 3 3,16 0,991 – 10,017 0,052 Nội trợ 1 Công nhân 5,72 1,922 – 17,045 0,002 HS – SV 0,76 0,098 – 5,886 0,793 BB – DV 2,08 0,695 – 6,265 0,189 Nghề nghiệp CNV 3,89 1,007 – 15,061 0,049 Đủ sống 1 Khá giả 1,80 0,142 – 22,728 0,650 Kinh tế Khó khăn 5,21 1,936 – 14,051 0,001 Ngừa thai hiện đại 1 Ngừa thai truyền thống 1,12 0,230 – 5,491 0,885 Ngừa thai Không ngừa thai 0,82 0,397 – 1,686 0,588 Kết hôn 1 Tình trạng hôn nhân Chưa kết hôn 51,93 15,451 – 174,543 0,000 Không 1 Bạo hành tinh thần Có 2,93 1,258 – 6,844 0,013 Không 1 Bạo hành thể chất Có 0,76 0,296 – 1,935 0,561 Không 1 Bạo hành tình dục Có 2,52 1,048 – 6,055 0,039 (*): Hồi quy đa biến. Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 1 * 2011 Chuyên Đề Sức Khỏe Sinh Sản Và Bà Mẹ - Trẻ Em 100 Sống ở nội thành làm tăng nguy cơ mang thai ngoài ý muốn cao gấp 10,49 lần so với sống ở tỉnh với P <0,05; tương tự nghiên cứu tại Ấn Độ(8), Ethiopia(10). Theo xu hướng mới, việc quan hệ trước hôn nhân ngày càng phổ biến, đặc biệt trong giới trẻ tại các thành phố lớn do ảnh hưởng lối sống phương Tây, tuổi quan hệ tình dục lần đầu của người Việt Nam có khuynh hướng giảm nhưng lại thiếu kiến thức về các biện pháp ngừa thai hoặc ngừa thai không hiệu quả(7) dẫn đến việc mang thai ngoài ý muốn. Nghề nghiệp công nhân làm tăng nguy cơ thai ngoài ý muốn cao gấp 5,72 lần và CNV làm tăng nguy cơ thai ngoài ý muốn cao gấp 3,89 lần với P <0,05. Đa phần các nữ công nhân có nguồn gốc từ các tỉnh tập trung về Tp.HCM sinh sống và làm việc. Tình trạng xa nhà, thiếu thốn tình cảm khiến họ dễ quan hệ trước hôn nhân, cộng thêm sự thiếu hiểu biết về cách tránh thai nên hậu quả mang thai ngoài ý muốn là khó tránh khỏi. Bên cạnh đó, mang thai đồng nghĩa với nghỉ việc, càng làm tăng sự khó khăn về tình trạng kinh tế. Chính những điều trên đã thúc đẩy họ tìm đến các dịch vụ phá thai, một vấn đề nóng bỏng mà gần đây các bài báo đã đề cập đến. Kinh tế khó khăn làm tăng thai ngoài ý muốn gấp 5,21 lần với p <0,05. Tương tự nghiên cứu của Nguyễn Thị Thùy Linh cho thấy đa số phụ nữ nêu ra lý do phá thai là không đủ điều kiện kinh tế để sinh con, không đủ điều kiện đảm bảo nhu cầu nuôi con. Ngoài ra đa phần các gia đình nghèo thường đi đôi với không có công việc làm ổn định, trình độ văn hóa thấp nên ít hiểu biết và không tiếp cận được các biện pháp tránh thai. Vì vậy họ dễ có thai ngoài ý muốn và đi đến quyết định phá thai. Phụ nữ chưa lập gia đình có nguy cơ bị thai ngoài ý muốn cao gấp 51,93 lần so với nhóm đã kết hôn với P <0,05. Quan hệ trước hôn nhân và có thai là điều đa phần không được chấp nhận về mặt xã hội do vậy tỷ lệ phụ nữ chưa kết hôn cho rằng việc mang thai của mình là ngoài ý muốn cao hơn so với người đã lập gia đình(3). Kết cuộc của những thai kì này thường được chấm dứt bằng cách phá thai. Qua phân tích đa biến, không còn tìm thấy mối liên quan giữa bạo hành thể chất với thai ngoài ý muốn, điều này chứng tỏ thế mạnh của hồi quy đa biến trong việc xác định mối liên quan giữa các yếu tố. Bạo hành tình dục và bạo hành tinh thần vẫn cùng khuynh hướng liên quan với thai ngoài ý muốn mặc dù OR hiệu chỉnh giảm hơn 10% so với đơn biến ở cả 2 nhóm. KẾT LUẬN Qua nghiên cứu 405 trường hợp, trong đó 135 trường hợp mang thai ngoài ý muốn và 270 trường hợp có thai theo kế hoạch, chúng tôi rút ra một số kết luận như sau: So với những phụ nữ không bị bạn tình/chồng bạo hành thì nguy cơ mang thai ngoài ý muốn ở người bị: Bạo hành gia đình cao gấp 4,85 lần; KTC 95% = 3,113 – 7,554. Bạo hành tinh thần cao gấp 2,93 lần; KTC 95% = 1,258 – 6,844. Bạo hành tình dục cao gấp 2,52 lần; KTC 95% = 1,048 – 6,055. Bạo hành đồng thời 3 nhóm cao gấp 8,92 lần; KTC 95% = 3,626 – 21,924. Liên quan với các yếu tố nhân dịch tễ – xã hội, nguy cơ mang thai ngoài ý muốn ở những phụ nữ sống ở nội thành Tp.HCM, có nghề nghiệp công nhân hoặc CNV, kinh tế khó khăn, chưa kết hôn cũng làm tăng nguy cơ mang thai ngoài ý muốn. KIẾN NGHỊ Hướng nghiên cứu trong tương lai: cần có những nghiên cứu định tính nhằm xác định yếu tố nguy cơ của các loại bạo hành. Phổ biến rộng rãi trong trường học và xã hội về: “Luật phòng chống bạo lực gia đình”. Mở rộng các chương trình giáo dục sức khỏe sinh sản, cung cấp kiến thức về các biện pháp ngừa thai cho đối tượng công nhân cũng như các biến chứng của nạo phá thai. Tầm soát nhằm phát hiện các trường hợp bị bạo hành thể chất, tinh thần hoặc tình dục ở Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 1 * 2011 Nghiên cứu Y học Sản Phụ Khoa 101 những phụ nữ đến phá thai từ đó cung cấp các địa chỉ tư vấn và hỗ trợ để họ có nơi chia sẻ và bảo vệ quyền lợi. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1 Bawah AA, Patricia A, Simmons R, Phillips JF (1999). “Women's fears and men's anxieties: The impact of family planning on gender relations in northern Ghana”. Studies in Family Planning, 30(1), pp. 54 – 66. 2 Campbell JC, Pugh LC, Campbell D & Visscher M (1995). “The influence of abuse on pregnancy intention”. Women’s Health, Issues 5, pp. 214–224. 3 Eggleston E (1999). “Determinants of unintended pregnancy among women in Ecuador”. International Family Planning Perspectives, 25(1), pp. 27 – 33. 4 Khan ME, Townsend JW, Sinha R & Lakhanpal S (1996). Sexual violence within marriage. In: Seminar. New Delhi, Population Council, pp. 32 – 35. 5 Klima CS (1998). “Unintended pregnancy. Consequences and solutions for a worldwide problem”. J Nurse Midwifery, 43(6), pp. 483 – 491. 6 Martin SL, Tsui AO, Maitra K & Marinshaw R (1999). “Domestic violence in northern India”. American Journal of Epidemiology, 150(4), pp. 417 – 426. 7 Nguyễn Thị Thùy Linh, Lê Hồng Cẩm (2009). “Các yếu tố nguy cơ phá thai ở phụ nữ chưa có con tại bệnh viện đa khoa Long An”. Y Học TP.Hồ Chí Minh, 13(1), tr. 51 – 55. 8 Pallikadavath S and Stones RW (2006). “Maternal and Social Factors Associated with Abortion in India: A Population-Based Study”. International Family Planning Perspectives, 32(3), pp. 120 – 125. 9 Pallitto CC and O’Campo (2004). “The Relationship between Intimate Partner Violence and Unintended Pregnancy: Analysis of a National Sample from Colombia”. International Family Planning Perspectives, 30(4), pp. 165 – 173. 10 Senbeto E, Alene G, Abesno N, Yeneneh H (2005). “Prevalence and associated risk factors of Induced Abortion in northwest Ethiopia”. Ethiop.J.Health Dev., 19(1), pp. 37 – 44. 11 UNFPA (2007). Nghiên cứu rà soát các chương trình phòng chống bạo lực trên cơ sở giới ở Việt Nam, tr. 1 – 75. 12 Vung N, Ostergren et al. (2008). "Intimate partner violence against women in rural Vietnam - different socio-demographic factors are associated with different forms of violence: Need for new intervention guidelines?". BMC Public Health, 8(1), pp. 55 – 57. 13 World Health Organization (1997). Violence Against Women: A Priority Health Issue. World Health Organization, WHO document WHO/ FRH/WHD/97.6, Geneva. 14 World Health Organization (2000). Multicountry study on women's health and life experiences questionnaire (version 9). Geneva: World Health Organization.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfmoi_lien_quan_giua_bao_hanh_ve_the_chat_tinh_than_va_tinh_du.pdf
Tài liệu liên quan